Văn học

Văn học (88)

Cảm hứng tinh thần từ Albert Einstein

Cảm hứng tinh thần từ Albert Einstein

~~<><><><>~~

Suy ngẫm về điều chưa biết với nhà khoa học nổi tiếng nhất thế giới.

Mặc dù là nhà khoa học nổi tiếng nhất trong thời đại của mình, Albert Einstein biết rằng chúng ta không bao giờ có thể hiểu hết được sự vận hành của thế giới trong giới hạn của trí óc con người. Trải nghiệm vũ trụ như một tổng thể hài hòa, ông khuyến khích sử dụng trực giác để giải quyết vấn đề, ngạc nhiên trước sự bí ẩn của Thiên Chúa trong tự nhiên, và tán thưởng lý tưởng của những vị thầy tâm linh vĩ đại như Đức Phật và Chúa Giê-su.

Sau đây là phần trích dẫn các bài viết của ông khám phá điểm gặp gỡ giữa khoa học và tâm linh, cho chúng ta cái nhìn hấp dẫn về cách Einstein nhìn thế giới:

Giáo dục ở trường học không phù hợp với Einstein

“Trường học đã làm tôi thất bại, và tôi đã thất bại ở trường học. Nó làm tôi chán. Các giáo viên cư xử như Feldwebel (trung sĩ). Tôi muốn học những gì tôi muốn biết, nhưng họ muốn tôi học cho kỳ thi. Điều tôi ghét nhất là hệ thống cạnh tranh ở đó, và đặc biệt là thể thao. Vì điều này, tôi chẳng có giá trị gì, và vài lần họ đề nghị tôi rời đi.

Đây là một trường Công giáo ở Munich. Tôi cảm thấy rằng cơn khát kiến ​​thức của tôi đang bị các giáo viên bóp nghẹt; điểm là phép đo duy nhất của họ. Làm thế nào một giáo viên có thể hiểu giới trẻ với một hệ thống như vậy?

 Ảnh: upliftconnect.com

Einstein cảm thấy bị bóp nghẹt bởi các giáo viên dạy lớp của mình ở trường.

Trật tự trong vũ trụ, Rối loạn trong tâm trí con người

Từ năm mười hai tuổi, tôi bắt đầu nghi ngờ uy quyền và không tin tưởng vào giáo viên. Tôi học chủ yếu ở nhà, đầu tiên là từ chú tôi và sau đó là từ một sinh viên đến ăn với chúng tôi mỗi tuần một lần. Anh ấy sẽ đưa cho tôi những cuốn sách về vật lý và thiên văn học.

Càng đọc, tôi càng hoang mang trước trật tự của vũ trụ và sự rối loạn của tâm trí con người, bởi các nhà khoa học không thống nhất về cách thức, thời điểm hoặc lý do tạo ra.

Rồi một ngày, Anh ấy mang đến cho tôi cuốn Phê bình lý trí thuần túy của Kant. Đọc Kant, tôi bắt đầu nghi ngờ tất cả những gì mình được dạy. Tôi không còn tin vào Chúa được biết đến trong Kinh thánh, có lẽ có một thiên Chúa huyền bí đúng đắn hơn được thể hiện trong tự nhiên.

Các quy luật cơ bản của vũ trụ rất đơn giản, nhưng vì giác quan của chúng ta có hạn nên chúng ta không thể nắm bắt được. Có một khuôn mẫu trong sáng tạo.

Nếu chúng ta nhìn vào cái cây này bên ngoài mà rễ của nó tìm kiếm nước dưới vỉa hè, hoặc một bông hoa gửi mùi ngọt ngào của nó cho những con ong thụ phấn, hoặc thậm chí bản thân của chúng ta và các lực lượng bên trong thúc đẩy chúng ta hành động, chúng ta có thể thấy rằng tất cả chúng ta nhảy theo một giai điệu bí ẩn, và người chơi đàn chơi giai điệu này từ một khoảng cách không thể hiểu nổi, bất cứ cái tên nào mà chúng ta đặt cho ông ta như Lực lượng sáng tạo, hay Chúa thoát khỏi mọi kiến ​​thức sách vở.

Khoa học không bao giờ kết thúc bởi vì trí óc con người chỉ sử dụng một phần nhỏ khả năng của nó, và việc khám phá thế giới của con người cũng bị giới hạn.

Ảnh: upliftconnect.com

Một vở nhạc kịch Einstein tin rằng tất cả chúng ta đều nhảy theo một giai điệu bí ẩn bên trong.

Trải nghiệm vũ trụ như một tổng thể hài hòa

Sự sáng tạo có thể có nguồn gốc tinh thần, nhưng điều đó không có nghĩa là mọi thứ được tạo ra đều là tâm linh. Làm thế nào tôi có thể giải thích những điều như vậy cho bạn? Chúng ta hãy chấp nhận thế giới là một bí ẩn. Thiên nhiên không chỉ là vật chất cũng không hoàn toàn là tinh thần.

Con người cũng không phải chỉ là vật chất; nếu không, không có tôn giáo nào có thể tồn tại. Đằng sau mỗi nguyên nhân vẫn là một nguyên nhân khác; sự kết thúc hay sự khởi đầu của mọi nguyên nhân vẫn chưa được tìm ra.

Tuy nhiên, chỉ cần nhớ một điều: không có hậu quả nào mà không có nguyên nhân, và không có sự vô pháp trong tạo hóa.

Nếu tôi không có niềm tin tuyệt đối vào sự hài hòa của tạo hóa, tôi đã không cố gắng diễn đạt nó trong một công thức toán học trong suốt ba mươi năm. Chỉ có ý thức của con người về những gì anh ta làm với tâm trí của mình mới nâng anh ta lên trên các loài động vật và cho phép anh ta nhận thức về bản thân và mối quan hệ của anh ta với vũ trụ.

Tôi tin rằng tôi có cảm xúc tôn giáo vũ trụ. Tôi không bao giờ có thể hiểu được làm thế nào một người có thể thỏa mãn những cảm giác này bằng cách cầu nguyện với những vật thể có giới hạn. Cây bên ngoài là sự sống, một bức tượng đã chết. Toàn bộ thiên nhiên là sự sống, và sự sống, như tôi quan sát, tôi từ chối một Thượng đế giống con người.

Con người có khả năng vô hạn và tìm thấy Chúa trong tâm thức của mình. [Một tôn giáo vũ trụ] không có giáo điều nào ngoài việc dạy con người rằng vũ trụ là có pháp lý và định mệnh cao nhất của anh ta là suy ngẫm về nó và đồng sáng tạo với các quy luật của nó.

Ảnh: upliftconnect.com

Einstein thảo luận Khoa học và Chúa với thầy tâm linh người Ấn Độ Tagore.

Tiết lộ sự kỳ vĩ của tạo hóa

Tôi thích trải nghiệm vũ trụ như một tổng thể hài hòa. Mọi tế bào đều có sự sống. Vật chất cũng vậy, có sự sống; nó là năng lượng đông đặc. Cơ thể chúng ta giống như nhà tù, và tôi mong được tự do, nhưng tôi không suy đoán về điều gì sẽ xảy ra với mình.

Bây giờ tôi sống ở đây, và trách nhiệm của tôi là trên thế giới này. Tôi đối phó với quy luật tự nhiên. Đây là công việc của tôi ở đây trên trái đất.

Thế giới cần những xung lực đạo đức mới mà tôi e rằng sẽ không đến từ các nhà thờ, vốn đã bị tổn hại nặng nề như chúng đã xảy ra trong suốt nhiều thế kỷ.

Có lẽ những thôi thúc đó phải đến từ các nhà khoa học theo truyền thống Galileo, Kepler và Newton. Bất chấp những thất bại và bắt bớ, những người đàn ông này đã cống hiến cuộc sống của họ để chứng minh rằng vũ trụ là một thực thể duy nhất, trong đó, tôi tin rằng, một vị Chúa nhân bản không có chỗ đứng.

Nhà khoa học chân chính không dao động trước những lời khen ngợi hay trách móc, cũng không rao giảng. Ông ta tiết lộ vũ trụ và mọi người đến một cách háo hức, không bị thúc đẩy, để nhìn thấy những khám phá mới: trật tự, sự hài hòa, sự tráng lệ của tạo hóa!

Và khi con người trở nên ý thức về những quy luật kỳ diệu chi phối vũ trụ trong sự hài hòa hoàn hảo, anh ta bắt đầu nhận ra mình nhỏ bé đến nhường nào. Anh ta nhìn thấy sự nhỏ bé của sự tồn tại của con người, với những tham vọng và mưu đồ, cho rằng tôi giỏi hơn anh.

Đây là sự khởi đầu của tôn giáo vũ trụ bên trong anh ta; tương giao và phục vụ con người trở thành quy tắc đạo đức của anh ta. Nếu không có những nền tảng đạo đức như vậy, chúng ta sẽ bị diệt vong một cách vô vọng.

Einstein tin rằng nhà khoa học thực sự có đức tin.

Cải thiện thế giới bằng Ý tưởng, không phải Kiến thức Khoa học

Nếu chúng ta muốn cải thiện thế giới, chúng ta không thể làm điều đó bằng kiến ​​thức khoa học mà phải bằng lý tưởng. Khổng Tử, Đức Phật, Chúa Giê-su và Gandhi đã làm cho nhân loại nhiều hơn những gì khoa học đã làm.

Chúng ta phải bắt đầu từ trái tim của con người với lương tâm của mình và các giá trị của lương tâm chỉ có thể được thể hiện bằng sự phục vụ quên mình cho nhân loại.

Tôn giáo và khoa học đi đôi với nhau. Như tôi đã nói trước đây, khoa học mà không có tôn giáo là khập khiễng và tôn giáo không có khoa học là mù quáng. Họ phụ thuộc lẫn nhau và có một mục tiêu chung tìm kiếm sự thật.

Do đó, việc tôn giáo cấm đoán Galileo hoặc Darwin hoặc các nhà khoa học khác là vô lý. Và cũng vô lý không kém khi các nhà khoa học nói rằng không có Chúa. Nhà khoa học thực sự có đức tin, điều đó không có nghĩa là anh ta phải đăng ký thành một tín đồ.

Không có tôn giáo thì không có bác ái. Linh hồn được trao cho mỗi người chúng ta được chuyển động bởi cùng một tinh thần sống làm thay đổi thế giới.

Tôi không phải là một nhà thần bí. Cố gắng tìm ra quy luật tự nhiên không liên quan gì đến khoa học thần bí, dù đối mặt với tạo hóa tôi cảm thấy rất khiêm tốn. Nó như thể một tinh thần hiển hiện cao hơn vô hạn so với tinh thần của con người. Thông qua việc theo đuổi khoa học, tôi đã biết đến cảm xúc tôn giáo vũ trụ. Nhưng tôi không quan tâm đến việc bị gọi là nhà thần bí.

Tôi tin rằng chúng ta không cần phải lo lắng về những gì xảy ra sau cuộc sống này, miễn là chúng ta thực hiện nghĩa vụ của mình ở đây yêu thương và phục vụ.

Tôi có niềm tin vào vũ trụ, vì nó là lý trí. Luật làm nền tảng cho mỗi lần xảy ra. Và tôi có niềm tin vào mục đích của tôi ở đây trên trái đất. Tôi có niềm tin vào trực giác của mình, ngôn ngữ của lương tâm mình, nhưng tôi không tin vào những suy đoán về Thiên đường và Địa ngục. Tôi quan tâm đến hiện tại, tôi đang ở đây.

Tâm trí trực giác là một món quà thiêng liêng.

Chính Trực giác giúp nhân loại tiến bộ

Nhiều người nghĩ rằng sự tiến bộ của loài người dựa trên những kinh nghiệm có tính chất thực nghiệm và phê phán, nhưng tôi nói rằng kiến ​​thức thực sự chỉ có được thông qua một triết lý suy luận. Vì trực giác giúp cải thiện thế giới chứ không chỉ đi theo lối mòn của suy nghĩ.

Trực giác khiến chúng ta nhìn vào những sự kiện không liên quan và sau đó suy nghĩ về chúng cho đến khi tất cả chúng có thể được quy định theo một luật. Tìm kiếm các dữ kiện liên quan có nghĩa là nắm giữ những gì người ta có thay vì tìm kiếm các dữ kiện mới.

Trực giác là cha đẻ của kiến ​​thức mới, trong khi chủ nghĩa kinh nghiệm chẳng qua là sự tích lũy kiến ​​thức cũ. Trực giác, không phải trí tuệ, mà là “chìa khóa vạn năng” của chính bạn.

Không phải là trí tuệ, mà là trực giác đã giúp nhân loại tiến bộ. Trực giác cho con người biết mục đích của mình trong cuộc đời này.

Tôi không cần bất kỳ lời hứa về sự vĩnh cửu để được hạnh phúc. Vĩnh viễn của tôi là bây giờ. Tôi chỉ có một lợi ích duy nhất: thực hiện mục đích của mình ở nơi này.

Mục đích này không phải do bố mẹ hay môi trường xung quanh tôi đưa ra. Nó được tạo ra bởi một số yếu tố không xác định. Những yếu tố này khiến tôi trở thành một phần của vĩnh cửu.

Kiên Tấn
 
 

**********

 

Albert Einstein và 24 câu nói truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ

Albert Einstein (14/3/1879 – 18/4/1955) là nhà vật lý lý thuyết vĩ đại người Đức, "cha đẻ" của thuyết tương đối hẹp và thuyết tương đối rộng. Mặc dù trải qua rất nhiều sóng gió như từng bị mắc chứng khó đọc nên có người cho rằng ông mắc tâm thần phân liệt, từng trượt đại học trong kỳ thi vào trường Đại học Bách khoa Zurich (Thụy Sĩ) hay có trí nhớ rất kém khi không thể nào nhớ nổi tên, ngày tháng và số điện thoại của ai đó.... nhưng sau tất cả những điều này, Einstein vẫn là một trong những thiên tài lỗi lạc nhất thế giới.

Sau đây là 24 bài học cuộc đời được đúc kết bởi "bộ óc thiên tài" Albert Einstein rất đáng để chúng ta suy ngẫm.

1. Intellectual growth should commence at birth and cease only at death.

Sự phát triển trí tuệ bắt đầu từ khi lọt lòng và chỉ ngừng lại khi chúng ta chết đi.

2. Everyone should be respected as an individual, but no one idolized.

Tất cả mọi người đều là những cá nhân đáng được tôn trọng, tuy nhiên, đừng thần tượng hóa ai cả.

Những bài học ý nghĩa từ Albert Einstein

3. Never do anything against conscience even if the state demands it.

Đừng bao giờ làm bất cứ điều gì trái với lương tâm ngay cả khi hoàn cảnh đòi hỏi bạn phải làm điều đó.

4. If people are good only because they fear punishment, and hope for reward, then we are a sorry lot indeed.

Nếu con người chỉ trở nên tốt đẹp bởi vì họ sợ bị trừng phạt nhưng lại mong muốn nhận được phần thưởng cho điều đó thì quả thật, chúng ta rất đáng thương.

5. A perfection of means, and confusion of aims, seems to be our main problem.

Tìm kiếm những giải pháp hoàn hảo và không có mục tiêu rõ ràng là hai vấn đề lớn nhất của chúng ta.

Những câu nói truyền cảm hứng từ Einstein

6. Love is a better teacher than duty.

Tình yêu thương là người thầy tốt hơn nhiều so với trách nhiệm.

7. If you can't explain it simply, you don't understand it well enough.

Nếu vẫn chưa thể giải thích điều gì đó một cách đơn giản thì bạn vẫn chưa hiểu đủ về nó.

8. No problem can be solved from the same level of consciousness that created it.

Không một vấn đề gì có thể giải quyết nếu vẫn giữ nguyên một mức độ nhận thức như lúc bạn gây ra nó.

9. Insanity: doing the same thing over and over again and expecting different results.

Làm đi làm lại cùng một thứ nhưng lại mong chờ nhận được những kết quả khác nhau là một điều điên rồ.

10. Learn from yesterday, live for today, hope for tomorrow.

Học từ quá khứ, sống cho hiện tại và hy vọng ở tương lai.

Những câu nói truyền cảm hứng từ Einstein

11. It has become appallingly obvious that our technology has exceeded our humanity.

Điều hiển nhiên một cách đáng sợ là công nghệ mà chúng ta tạo ra đã vượt xa lòng nhân đạo của con người.

12. Everything that can be counted does not necessarily count; everything that counts cannot necessarily be counted.

Những thứ có thể đo đếm được thường không mấy quan trọng, những thứ thật sự quan trọng lại khó lòng đo đếm được.

13. Force always attracts men of low morality.

Quyền lực luôn hấp dẫn những người có đạo đức thấp.

14. Everything should be as simple as it is, but not simpler.

Mọi thứ nên đơn giản hết mức có thể, chứ đừng đơn giản trên mức ấy.

15. A man should look for what is, and not for what he thinks should be.

Một người đàn ông nên nhìn vào bản chất của sự việc chứ đừng nhìn vào cái mình muốn thấy.

Những câu nói truyền cảm hứng từ Einstein

16. Any man who reads too much and uses his own brain too little falls into lazy habits of thinking.

Bất kỳ ai đọc quá nhiều nhưng lại ít sử dụng não thì sẽ rơi vào thói lười suy nghĩ.

17. A person who never made a mistake never tried anything new.

Một người không bao giờ mắc lỗi sẽ chẳng bao giờ muốn thử những điều mới mẻ.

18. It is the supreme art of the teacher to awaken joy in creative expression and knowledge.

Đánh thức niềm vui sáng tạo và học hỏi là nghệ thuật sư phạm tối thượng của một giáo viên.

19. Anyone who doesn't take truth seriously in small matters cannot be trusted in large ones either.

Bất kỳ ai coi thường những chân lý bé nhỏ thì chẳng bao giờ nhận được sự tin tưởng của người khác ở những điều lớn lao.

Những câu nói truyền cảm hứng từ Einstein

20. Great spirits have always encountered violent opposition from mediocre minds.

Những tinh thần vĩ đại luôn phải hứng chịu sự phản đối dữ dội từ những trí óc tầm thường.

21. Logic will get you from A to B. Imagination will take you everywhere.

Logic sẽ mang bạn đi từ A đến B. Trí tưởng tượng sẽ mang bạn đi mọi nơi bạn muốn.

22. Anger dwells only in the bosom of fools.

Sự giận dữ chỉ có ở tâm hồn của những kẻ ngốc.

23. Information is not knowledge.

Thông tin không phải là tri thức.

24. Never lose a holy curiosity.

Đừng bao giờ đánh mất sự tò mò một cách tột độ của bạn.

 

Theo Khoa Học

 

Kim Phượng sưu tầm & tổng hợp

 

 

Xem thêm...

CÒN GẶP NHAU -» Thơ » Tôn Nữ Hỷ Khương

                                                         

Còn Gặp Nhau « huongdaoonline.net

    CÒN GẶP NHAU    
 
- Nhạc Võ Tá Hân
- Thơ Tôn Nữ Hỷ Khương
- Hợp ca Ngọc Quỳnh - Hồng Tước - Ngọc Tuyết - Lâm Dung
Chương trình "Giấc Mơ Của Chiều"
- Câu Lạc Bộ Văn Nghệ - Viện Việt Học 11/11/2017
 
 
 
    
 

CÒN GẶP NHAU

Thơ »  » Tôn Nữ Hỷ Khương
☆☆
Còn gặp nhau thì hãy cứ vui
Chuyện đời như nước chảy hoa trôi,
Lợi danh như bóng mây chìm nổi
Chỉ có tình thương để lại đời


Còn gặp nhau thì hãy cứ thương
Tình người muôn thuở vẫn còn vương,
Chắt chiu một chút tình thương ấy
Gửi khắp muôn phương vạn nẻo đường


Còn gặp nhau thì hãy cứ chơi
Bao nhiêu thú vị ở trên đời,
Vui chơi trong ý tình cao nhã
Cuộc sống càng thêm nét tuyệt vời


Còn gặp nhau thì hãy cứ cười
Cho tình thêm thắm, ý thêm tươi
Cho hương thêm ngát, đời thêm vị
Cho đẹp lòng tất cả mọi người


Còn gặp nhau thì hãy cứ chào
Giữa miền đất rộng với trời cao,
Vui câu nhân nghĩa, tròn sau trước
Lấy chữ chân tình gửi tặng nhau


Còn gặp nhau thì hãy cứ say
Say tình, say nghĩa bấy lâu nay
Say thơ, say nhạc, say bè bạn
Quên cả không gian lẫn tháng ngày


Còn gặp nhau thì hãy cứ đi
Đi tìm chân lý - lẽ huyền vi
An nhiên tự tại - lòng thanh thản
Đời sống tâm linh thật diệu kỳ.

 

  Thơ & Đời TÔN NỮ HỶ KHƯƠNG  


Trang 8 trên 50Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
Nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương & Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc
Nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương vừa tròn 84 tuổi, vừa ra mắt tập “Thơ & Đời Tôn Nữ Hỷ Khương“, gom góp những bài viết của thân hữu và báo chí viết về Nữ sĩ… lâu nay in thành một tập chia sẻ với mọi người cho vui.
Trong tập này có một bài của Đỗ Hồng Ngọc viết về bài thơ Còn gặp nhau… (2010).
Dịp này, xin post lại để tặng bạn bè.
Trân trọng,
ĐHN
Giữa lúc nhiều nhà thơ đua nhau làm mới thơ, “lạ hóa” thơ thì mấy câu thơ rất đỗi đời thường như một sự buột miệng, một tiếng thở dài, một lời tự nhủ của nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương có vẻ như… lạc điệu mà bỗng xuất hiện hằng loạt trên lịch, trên thiếp xuân, trên Agenda  và cả thư pháp các loại với đủ mọi chất liệu đá, cát, giấy, lụa… không khỏi làm cho ta phải ngạc nhiên! Có chút gì đó trái ngoe trong thi phú buổi này chăng?
Còn gặp nhau thì hãy cứ vui
Chuyện đời như nước chảy hoa trôi
Lợi danh như bóng mây chìm nổi
Chỉ có tình thương để lại đời…
(Tôn Nữ Hỷ Khương)
 
Và cứ thế, “Còn gặp nhau…”, “Còn gặp nhau….” lặp đi lặp lại, những lời tuồn tuột tự đáy lòng, có vẻ gì đó như một giật mình, thảng thốt, bùi ngùi trong những buổi hàn huyên giữa những bạn bè gần xa. Thơ như nói,  như chẳng hề có chút đẽo gọt, dụng công…- tạm gọi là “thơ nói”- cũng đã có từ xưa xa:
Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người tới chốn lao xao…
(Nguyễn Bỉnh Khiêm).
 
Làm sao mà những câu “thơ nói” đó rung động lòng người, khiến người ta giật mình đánh thót, mà ngộ, ai cũng nhớ, cũng thuộc, và mỗi khi có dịp thì lẩm nhẩm: còn gặp nhau, còn gặp nhau…
Thì ra giữa thời buổi trái đất chỉ còn là một hòn bi xanh, một “thế giới phẳng” nhỏ xíu trong lòng bàn tay, mọi chuyện trên trời dưới biển gì cũng mồn một trước mắt,  truyền thông đa phương tiện tràn ngập đến không còn chút thong dong, người người vẫn thấy nhau, vẫn “thơn thớt nói cười” với nhau mà hình như chẳng bao giờ gặp nhau!
Rồi hình như  người ta bỗng sực nhớ, bỗng ngộ ra, bỗng cảm nhận được cái mong manh của đất trời, của thiên hà trong ngàn tỷ thiên hà trôi dạt, của kiếp người sương khói trong bối cảnh lạ lùng chiến tranh, dịch bệnh, bão lũ, sóng thần, động đất… triền miên!
Rồi hình như người ta bỗng sực nhớ, bỗng ngộ ra, bỗng cảm nhận sờ sờ trước mắt cơn đại hồng thủy sẽ ập tới vì trái đất nóng lên, con người đua nhau hủy diệt thiên nhiên, môi trường sống của mình, để rồi đâu đâu cũng thấy “những cảnh sửa sang tầm thuờng giả dối/ hoa chăm cỏ xén lối phẳng cây trồng” (Thế Lữ) với dừa giả, cau giả, hoa giả, đồi giả, núi giả… !.
Thú vị là những câu thơ dung dị đó của Hỷ Khương được nhiều người thuộc lòng, buộc miệng nói ra… đến nỗi người viết thiệp cũng viết, in lịch cũng in, đục đá cũng đục… mà chẳng cần biết tác giả là ai. Tôi nghĩ chẳng bao lâu nữa nó sẽ trở thành những câu ca dao như “Trèo lên cây bưởi hái hoa/ Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân…” bởi thế hệ nào mà chẳng có người trèo lên cây bưởi, thế hệ nào mà chẳng có người kêu lên “Còn gặp nhau…” ?
Có lẽ Tôn Nữ Kỷ Khương mang cái gien của phụ thân, cụ Ưng Bình Thúc Giạ. Những câu hò:
Chiều chiều trứơc bến Văn lâu/  ai ngồi ai câu / ai sầu ai thảm/ ai thương ai cảm/ ai nhớ ai mong.. thuyền ai thấp thoáng bên sông/ đưa câu mái đẩy chạnh lòng nứơc non…”  nhiều người vẫn thuộc mà vẫn tưởng là một khúc hát dân gian, chẳng nhớ tác giả là ai! Cụ Ưng Bình cũng đã viết nên những câu thơ tưởng như câu nói bình nhật:
Thuở ra sân khấu không làm rộn
Khi hạ vai tuồng ít hổ ngươi!
để nói về một thuở làm quan của mình. Hay:
Biết đủ dầu không chi cũng đủ
Nên lui đã có dịp thì lui… lúc ung dung trở gót.
Do đâu mà những câu thơ của nhiều ngàn năm trước trong Kinh Thi vẫn còn làm cho lòng ta xao động? Ấy bởi vì nó nói từ nỗi lòng, “thốn tâm thiên cổ”, nên dù đựơc viết dưới bất cứ dạng ngôn ngữ nào, hình thức nào thì cái hồn của thơ vẫn là cái cảm xúc nhân tình. Hư Chu, ngàn năm trước, viết tựa cho tập truyện Kinh Thi đã hỏi: Thơ tại sao mà làm ra? ( Thi hà nhi chi tác dã?) Để rồi trả lời: vì nó là tiếng kêu của cõi lòng!
Còn gặp nhau thì hãy cứ vui!…
Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

- Nhạc sĩ  Võ Tá Hân ; Nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương- tháng 5, 2009
 
 
 

 

Chu Bá Kiên sưu tầm

 

 

Xem thêm...

THƠ TẾU VỀ ĐỊA DANH SÀI GÒN

             CÁC ÔNG, CÁC BÀ       
 
 
             Chuyện rằng từ thuở xa xưa
             Ông bà ta đã dây dưa ái tình
             Bởi thế nên tục truyền rằng:
 
 
  Ông Lãnh, Ông Tạ, Ông Đồn
  Ba người bạn thiết sớm hôm một nhà
  Ông Lãnh bản chất thiệt thà
  Thầm yêu nét đẹp mặn mà Bà Đen
  Nhưng nào ông dám bon chen
 
 
                                                                       Núi Bà Đen

 Sáng đêm chong đèn nhung nhớ thiết tha
 Ông Đồn bản tánh nguyệt hoa
 Chờ Ông Lãnh kẹt, cà rà Bà Đen
 Hai người xả láng một phen
 
 
Thị Nghè
 
 
Sinh ra bé gái đặt tên Thị Nghè
Ông Lãnh nghe nói, thuê ghe
Đi thăm cho biết Thị Nghè ra sao
Ngó gần nó cũng bảnh bao
Nhìn xa nó cũng hao hao Ông Đồn
Bà Đen từ dạo sinh con
Vốn đã đen sẵn nay còn hơn xưa
Ông Đồn nhìn vợ hết ưa
Bỏ lên Long Khánh say sưa miệt mài
Bà Đen ngẫm nghĩ chán thay
Cũng đi lên núi đêm ngày thở than
Thương cho đứa cháu lầm than
Ông Lãnh hào hiệp cưu mang đem về
Buồn cho cuộc sống ê chề
Một già một trẻ bốn bề cô đơn
Ông bèn thẳng xuống Hóc Môn


 
                                                            Chợ Bà Điểm
 
 
Cưới luôn Bà Điểm để chôn cuộc đời
Qua bao vật đổi sao dời
Bà Đen ở vậy cho vơi nỗi lòng
Chỉ còn Ông Tạ lông bông
Bạn bè lấy vợ nên chồng đã lâu
Cô Giang sắp sửa ăn trầu
Cô Bắc cũng đã từ lâu theo chồng
Ông bèn đi xuống Cầu Bông
Hỏi thăm Bà Chiểu có chồng hay chưa
Bà Chiểu nghe nói bèn thưa:
“Chỉ còn Bà Quẹo là chưa có chồng
Bà Điểm tay bế tay bồng”
Buồn tình, Ông Tạ phải lòng Bà Hom
Ông bèn bao cuốc xe ôm
 
       
 
                                                  Lăng Cha Cả
 
 
Về lăng Cha Cả lo hôn lễ liền
Phụ rể có cậu Bảy Hiền
Nữ trang Chú Hỏa bạc tiền thiếu đâu
Bà Hạc thì làm phụ dâu
Chú Ía bưng quả, buồng cau, khay trầu
Bà Hom tròn mối duyên đầu
Thương cho Bà Quẹo âu sầu đắng cay
Ế chồng mấy chục năm nay
Chỉ vì cái tội thích hay làm tàng
Buồn cho nghiệp chướng bẽ bàng
Bà đành an phận chẳng màng hơn thua
Mặc cho thế sự ganh đua
Bà liền xuống tóc vô chùa Bà Đanh
Bỏ ngoài tai việc chúng sanh
Cam đành vui thú tu hành điền viên
Buồn nhất là ở Phú Yên
"Ông Chừ" hổng có tình duyên mặn mà
Tự trách số phận “con gà” (mắc dây thun)
Ông qua Cam Bốt cưới “Bà La Môn”.
 
 
Cầu Ông Chừ
 
Chưa hết:
Ông qua Cam Bốt cưới Bà La Môn
Tuổi em thì cũng sồn sồn
"Vệ Xa""Sát Đế" một bồ Hindu
Ngẫn ngơ vào một chiều Thu
Ông ra Thiên Mụ khấu đầu đi tu.
 ..................................................................................
 Để hiểu rõ nguồn gốc những địa danh trên mời bạn đọc thêm bài viết :

           "Một số tên gọi, địa danh ở Sài Gòn mang tên Bà, Ông "
 
           Trong entry trước có anh bạn "nick" là Alaykum Salam, vào hỏi về những tên gọi, địa danh mang những thành tố Ông, Bà thường thấy. Bạn hỏi (đại ý), ý nghĩa thế nào về tên những dịa danh ấy? Chẳng hạn có những cầu, những chợ mang tên Bà có phải mấy Bà bỏ tiền xây cầu, chợ. hay mấy Bà hiển linh? Về tên gọi, hay địa danh có thành tố Ông như cầu Ông Dầu (trên quốc lộ 13 từ Sài Gòn đi Bình Dương), hay cầu Ông Tố (ở quận 2), bạn cũng hỏi thế.
 
Tôi cũng thường hay tìm hiểu về những vấn đề này, qua thực tế sống, và phần nhiều qua sách vở, xin chép ra ở đây để tạm gọi là trả lời câu hỏi của bạn Salam, và cũng là để trao đổi với các bạn, có thể các bạn sẽ có những hiểu biết khác, hoặc căn cứ những sách vở đã đọc mà có những ý kiến khác thì thật hay. Cái khó khi viết về những vấn đề có tính chất chữ nghĩa này là không thể viết theo kiểu văn chương, tùy bút, tùy cảm hứng, mà cần phải có nhiều nguồn tham khảo: tham khảo thực tế (đi điền dã tìm hiểu), tham khảo tư liệu sách vở... Càng có nhiều nguồn tham khảo để so sánh, ta càng đến được gần cái đúng.
 
Tôi sẽ viết về một số tên, địa danh như thế ở Saigon, là nơi tuy không sinh ra, nhưng có lẽ sẽ gắn bó với nó cả đời, để lý giải phần nào.
 
Ở Saigon như ta đã thấy có khá nhiều tên gọi, địa danh có từ Bà, Ông trong chữ, tôi xin kể về từ Bà trước, hì hì!  Xin kể một số từ, chẳng hạn, về từ Bà có: chợ Bà Chiểu, chợ Bà Hoa, chợ Bà Điểm, rạch Bà Nghè (tên cũ của rạch Thị Nghè), cầu Thị Nghè, rạch Bà Môn, rạch Bà Bèo, Bà Quẹo, cống Bà Xếp, Bà Hom (địa danh)... Về từ Ông có: cầu Ông Dầu, cầu Ông Tố, Ngã ba Ông Tạ, cầu Ông Lãnh, chợ Cầu Ông Lãnh,  rạch Ông, cầu Ông Lớn, cầu Ông Bé, vườn Ông Thượng, đình Ông Súng... 
 
1/- Một số tên gọi, dịa danh mang tên Bà:
 
- Chợ Bà Chiểu, Bà Chiểu: là chợ và vùng đất ở quận Bình Thạnh, khu Lăng Ông, chợ có thể mang tên một người phụ nữ.
 
- Chợ Bà Hoa: chợ ở phường 11, quận Tân Bình, lập năm 1967, trong một khu vực có rất nhiều cư dân đến từ Quảng Nam (chợ có bán nhiều đặc sản vùng Quảng Nam). Nhưng theo người địa phương, thì người lập chợ là một người miền Bắc di cư, tên là Nguyễn Thị Hoa, hiện bà sinh sống tại Mỹ.
 
- Chợ Bà Điểm, Bà Điểm: để chỉ chợ và vùng đất thuộc huyện Hóc Môn, tương truyền bà Điểm là tên bà chủ quán nước chè  tại vùng này.
 
- Rạch Bà Nghè, cầu Thị Nghè, chợ Thị Nghè: rạch, cầu, và chợ để chỉ phụ nữ. Sách vở chép, tương truyền cầu Thị Nghè ban đầu bằng gỗ, do bà Nguyễn Thị Khánh, con gái Khâm sai Nguyễn Cửu Vân xây dựng, cho chồng là một thư lại qua lại khi đi làm việc (người dân gọi chồng bà là ông Nghè), khúc sông ở đây cũng được gọi là rạch Thị Nghè theo tên cầu. Ngôi chợ Thị Nghè bên dưới cầu phía bên Bình Thạnh cũng được gọi thế. gần đó còn có nhà thờ Thị Nghè.
 
- Rạch Bà Môn: ở huyện Bình Chánh, người địa phương (ông Nguyễn Văn Trấn) cho biết âm gốc là Bàu Môn (cái bàu có trồng cây môn nước), đọc trại mà thành.
 
- Rạch Bà Bèo: cũng tương tự như rạch Bà Môn, có thể là từ Bàu Bèo mà ra (bàu nước có nhiều bèo).
 
- Bà Quẹo: địa danh ở quận Tân Bình đi Hóc Môn. Con đường tại khu vực này có khúc quẹo rất rõ, có thể do từ Bàu Quẹo, hoặc Bờ Quẹo mà ra.
 
- Cống Bà Xếp: địa danh ở quận 3 khu vực có ga xe lửa Hòa Hưng, nơi có một cái cống chính của khu vực ăn thông ra kênh Nhiêu Lộc. Không rõ nguồn gốc chữ Xếp có phải là từ tên phụ nữ hay không? Nhưng có từ "Xếp" cho nên có sách giải thích "Bà Xếp" đây có thể là bà vợ ông "Sếp ga xe lửa" (Chef de gare). Có thể ngày trước ở đây có cái cống, nơi đó có nhà một bà mà ông chồng là sếp ga  xe lửa nên gọi  thế? Nhưng tại sao không gọi là "Cống Ông Xếp"? Hay "Bà Xếp" này là người bỏ tiền ra làm cái cống đấy? Như Bà Nghè làm cầu Thị Nghè? Dù sao cũng có thể xem như một cách giải thích.
 
- Bà Hom: địa danh ở quận 6, Bà Hom có lẽ là từ Bàu Hom (bàu ngâm hom tre) nói trại mà thành, như Bà Môn, Bà Bèo, Bà Quẹo...
 
2/- Một số tên gọi, địa danh mang tên Ông:
 
- Cầu Ông Dầu: cầu thuộc phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức trên quốc lộ 13 đi Bình Dương (Thủ Dầu Một). Không rõ có phải cầu mang tên người không? Từ tên Thủ Dầu Một (chữ Dầu ở đây để chỉ loại cây gỗ to), cũng có người suy đoán chữ Dầu là để chỉ cây, nhưng tại sao lại là "Ông Dầu"? Chữ Ông Dầu này có giống như Ông Súng viết phía dưới không?
 
- Cầu Ông Tố: tên đầy đủ là cầu Giồng Ông Tố ở quận 2 (Giồng Ông Tố là một địa danh). Sách vở viết Ông Tố có tên thật là Trương Vĩnh Tố, mộ ông còn ở gần chợ Bình Trưng, quận 2. không thấy chép lịch sử bản thân ông Tố.
 
- Chợ Ông Tạ, Ngã ba Ông Tạ: chợ và địa danh ở quận Tân Bình, nơi này có một ngã ba giao giữa 2 đường Cách Mạng Tháng 8 và Phạm Văn Hai, nên ngã ba này được gọi là Ngã ba Ông Tạ. Ông Tạ tên thật là Trần Văn Bỉ (1918-1983), lấy hiệu là "Tạ Thủ" (cánh tay nâng đỡ người bệnh), sinh thời là một nhà sư và thày thuốc nam nổi tiếng trong vùng.
 
- Cầu Ông Lãnh, chợ Cầu Ông Lãnh: cây cầu một bên là quận 1, một bên là quận 4, cầu do ông Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng thời triều Nguyễn xây dựng, cũng có một con đường mang tên Lãnh Binh Thăng ở quận 11. Trước đây dưới chân cầu phía bên quận 1 có một cái chợ, chợ được lấy tên cầu để gọi là chợ Cầu Ông Lãnh, phường ở khu vực này cũng gọi là phường Cầu Ông Lãnh, như vậy chợ Cầu Ông Lãnh và phường cầu Ông Lãnh là từ tên cầu Ông Lãnh mà ra.
 
- Rạch Ông, cầu Ông Lớn, Cầu Ông Bé: là con rạch giáp ranh quận 7 và quận 8, nguyên tên là rạch Ong Lớn (con ong), vì ngày trước 2 bên rạch có nhiều cây cối thành rừng ong đến làm tổ, người dân lấy mật ra bán cạnh cầu, nói trại thành rạch Ông. Hiện nay có 2 cây cầu ở khu vực này tên là cầu Ông Lớn và cầu Ông Bé, từ tên gốc rạch Ong Lớn mà ra.

- Cầu Ông Lớn: cầu bắc qua kênh Chợ Lớn (kênhTàu Hũ) ở quận 6, khác với cầu Ông Lớn, Ông Bé vừa kể, Ông Lớn ở đây là Tổng đốc Đỗ Hữu Phương (người dân quen gọi là Tổng đốc Phương, trước năm 1975 có đường Tổng đốc Phương ở quận 5 nay là Châu Văn Liêm), một trong bốn người giàu có được truyền tụng ở Saigon đầu thế kỷ 20, qua câu "Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Định". Chữ Lớn trong từ Ông Lớn chỉ để nói về chuyện làm chức lớn của Tổng đốc Phương, không có nghĩa tôn kính như Ông Thượng.
 
- Vườn Ông Thượng: tên cũ dân gian gọi vườn Tao Đàn ở quận 1, Ông Thượng là tên người dân gọi Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt. Trước năm 1975 con đường Cách Mạng Tháng 8 thuộc quận 1 chạy ngang qua vườn Tao Đàn được gọi là đường Lê Văn Duyệt. Lăng Ông ở quận Bình Thạnh trên cổng có dòng chữ Nho "Thượng Công Miếu" (  ). Có người cho rằng tên gọi vườn Ông Thượng, do tại vườn hoa này trước đây có gánh hát bội của Tổng trấn Gia Định lập, thường hát cho quan lại và dân chúng xem. Sinh thời Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt rất thích hát bội, đá gà. Tên gọi Ông Thượng (Thượng Công), với ý tôn kính như "chúa thượng". Thượng không phải chức vụ như tên gọi Ông Lãnh (Lãnh là chức Lãnh binh). Ở miền Tây có Cù lao Ông Chưởng, thì Chưởng là chức Chưởng cơ, để chỉ Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh.
 
- Đình Ông Súng: tại quận 3 gần khu đối diện nhà thờ Vườn Xoài, trên đường Lê Văn Sỹ đi ngang còn thấy tấm bảng đề tên Đình Ông Súng, có một cái giá để một cây súng nhỏ đã bị gãy, kiểu súng thần công ngày trước. Như vậy có thể thấy Ông Súng, tên gọi của ngôi đình này là một khẩu súng thần công ngày xưa chứ không phải tên người.
 
Trên đây là một số tên gọi, địa danh có thành tố Bà, Ông ở Saigon. qua những tên gọi, địa danh này ta có thể thấy:
 
a/ Tên gọi mang tên Bà, Ông:
 
- Như chợ, cầu do những người mang tên xây dựng hay lập ra, như cầu Thị Nghè (Bà Nghè), hay chợ Bà Hoa, hoặc cầu Ông Lãnh do Ông Lãnh, như đã dẫn. Những tên gọi xác định này thường được chép trong sách vở, hoặc trong dân gian biết rõ còn lưu truyền. 
 
- Để chỉ người, nhưng không phải lập ra nơi có tên gọi, chẳng hạn như chợ Cầu Ông Lãnh, chợ Ông Tạ, vườn Ông Thượng, chợ Thị Nghè, nhà thờ Thị Nghè... Trong khi nhà thờ Huyện Sĩ do ông Huyện Sĩ Lê Phát Đạt bỏ tiền xây dựng. Có những tên gọi khác mà ta có thể đoán để chỉ người, như rạch Ông Cai (quận 2), rạch Ông Đội (quận 7), cầu Ông Nhiêu (quận 9), những tên Cai, Đội, Nhiêu ngày trước để chỉ chức vụ của người. Kênh Nhiêu Lộc, thì Nhiêu là Nhiêu học, Lộc là tên người.
 
- Cũng có những tên có thể để chỉ người (Bà) nhưng không xác định được rõ ràng, như tên gọi Bà Điểm, Bà Chiểu, hoặc như tên cống Bà Xếp.
 
b/ Tên gọi mang tên người (Bà) nhưng có thể do gọi trại từ nghĩa khác, như Bà Môn, Bà Bèo, Bà Quẹo, Bà Bướm (rạch ở quận 7), có thể từ Bàu Bướm nói trại ra (Bàu nước có nhiều con bướm)...
 
c/ Tên gọi có từ Ông, nhưng không phải chỉ người, mà để chỉ vật, như Đình Ông Súng. Dầu trong Cầu Ông Dầu có phải như trường hợp này?
 
Còn nhiều những tên gọi, địa danh ở Saigon mang yếu tố chỉ người, nhưng không xác định được rõ ràng có phải là để chì người hay không, vì những tên tuy gọi là Bà, Ông nhưng rất chung chung, không có thông tin từ sách vở, từ dân gian, bản thân tên gọi không gợi lên được những ý nghĩa có thể suy đoán như Bà Xếp, Bà Môn, Bà Bèo, Bà Bướm, hay như Ông Cai, Ông Đội... Ta có thể kể: rạch Bà Tàng (quận 8), rạch Bà Đô, cầu Bà Đô (quận 5), rạch Ông Cốm (Bình Chánh), sông Ông Tiêu (Cần Giờ)...

Qua những gì vừa kể, ta có thể thấy việc đặt tên gọi, địa danh ngày trước ở Saigon không theo một nguyên tắc nào cả. Bản thân tên gọi, địa danh khi có tên như thế cũng chẳng theo nguyên tắc nhất định. Cho nên khi xét ý nghĩa, nguồn gốc của tên gọi, địa danh, cần phải xem xét từng trường hợp (chẳng hạn để phân tên gọi đó vào nhóm nào trong mấy nhóm kể trên để xem xét), không thể mang cách giải thích (dù hợp lý) này để giải thích trường hợp kia (như tôi đã từng nghe có người nói Lê Văn Duyệt xưa làm chứcThượng thư, chắc họ lầm chữ Thượng trong Thượng Công Lê Văn Duyệt là chức vụ Thượng thư).

Nhân đây xin nói vui, dân nhậu có thể tếu táo nói chơi cầu Bà Đô, thì bà Đô là một bà tập... Gym (thể hình), hay cầu Bà Tàng, thì bà Tàng là một bà... dở hơi. Vậy mà đã có trường hợp tương tự được trích dẫn viết trên sách báo hẳn hoi, ấy là chuyện ông Lãnh và các bà vợ. Có thể ban đầu như đã nói, là chuyện tếu táo của mấy ông nhậu, hay chuyện tán dóc của dân lê la cà phê vỉa hè. Người ta viết như thế để minh chứng cho người dân Saigon ngày trước rất giỏi về làm kinh tế (làm ăn buôn bán). Chuyện đại khái bản thân ông Lãnh lập ngôi chợ Cầu Ông Lãnh, ông này có tới bốn, năm bà vợ, lập cho mỗi bà vợ một ngôi chợ đứng tên các bà để buôn bán, như chợ Bà Chiểu, chợ Bà Điểm, chợ Bà Hom, chợ Bà Rịa... Đến nỗi học giả Vương Hồng Sển, một người cố cựu Saigon, từng viết 2 quyển sách về Saigon là Sài Gòn năm xưa, Sài Gòn tả pín lù phải cười ngất.

Tài liệu sưu tầm trên net
 
    Gia Huy sưu tầm    
Xem thêm...

Chi bằng học Phan Châu Trinh

Chi bằng học

Phan Châu Trinh

Bài "Chi Bằng Học" của cụ Phan Châu Trinh, nguyên văn chữ Hán, được cụ Huỳnh Thúc Kháng dịch ra thành tiếng Việt đăng trên báo Tiếng Dân số 613 năm 1933, trong toàn bài nhan đề Hiện trạng Vấn đề. Mời các bạn đọc thật chậm để ngẫm vì sao dân tộc Việt Nam vẫn đang bị cai trị bởi ách độc tài và tầm nhìn vĩ đại của cụ Phan Châu Trinh.

Từ nhiều thế kỷ, người phương Tây đã đạt được sự phát triển lớn lao, họ đặt chân dần dần trên khắp mặt địa cầu. Nơi đâu có chỗ cho một con tàu cập bến, nơi đâu con người có thể tới, đều thấy dấu vết những bước chân của họ. Nơi nào họ tới, họ đều mang theo nền văn minh, nền thương mại, cả quân đội của họ.

Nơi đâu họ đã yên vị, họ đều áp đặt nền chính trị, truyền bá học vấn và sự khôn ngoan của họ. Họ không bo bo giấu diếm khoa học cho riêng họ mà luôn luôn tìm cách giúp các dân tộc khác cùng được lợi. Khi mở mang trí tuệ cho những dân tộc này, họ đã dìu dắt người bản xứ từ khi còn ngồi ở ghế nhà trường cho đến khi đạt được trình độ cao ngang họ, ngang hàng mà không hề đòi hỏi một lời cảm ơn. Chính nhờ thế mà những con người trước đây cách xa nhau hàng ngàn dặm, ngăn cách bởi núi cao, biển cả, lại có thể có ngày tốt đẹp trở thành anh em, bè bạn và cùng hòa đồng trên con đường văn minh, ở đó họ đối xử với nhau như những người cùng một xóm thôn.

Đó là điều diễn ra bình thường khi những người Âu châu gặp một dân tộc thông minh am hiểu họ. Nhưng cũng lại có những dân chúng đối lập với mọi sự tiến bộ, những con người thù địch với mọi ánh sáng, đã lấy tay tự bịt mắt mình để khỏi phải nhìn thấy ngọn đuốc của văn minh. Những con người này yêu sự quê mùa thô thiển, lạc hậu của họ hơn mọi thứ, họ không muốn từ bỏ những thói quen hàng nghìn năm, họ ngủ cho đến giờ ăn trưa và chỉ thích nằm ườn ở trên giường. Và những người Âu châu, khi nhận ra sự đờ đẫn đó, đã bỏ mặc họ với căn bệnh cố hữu mà họ đã mắc phải. Và để cai trị những người này, họ đã định ra những luật lệ riêng: đối với những người man rợ, phải áp dụng những luật lệ man rợ.

Cảm nhận ý nghĩa bài thơ "Đập đá ở Côn Lôn" của Phan Chu Trinh ...
Đêm đã tàn canh, qua các cửa sổ mở rộng tôi ngắm cảnh bình minh đang ló rạng; hơi lạnh buổi ban mai đã làm nguội chén rượu của tôi; ngồi trên ghế, trước ngọn đèn đã sắp lụi tàn, trên đùi tôi là cuốn sách nhan đề “Ngũ châu đương đại sử” và tựa như trong một giấc mơ, tôi buồn rầu nhớ lại những trang sách tôi vừa đọc. Tôi tưởng như tôi không còn trên cõi thế này, và đang lạc bước đến một thế giới cao xa, thanh khiết. Tôi đang ở đâu vậy? Thật khó nói ra cho đúng. Mà có lẽ đây là Paris hay New York, bởi tôi đang đứng giữa những người văn minh và có hai người đang dắt tay tôi trèo lên một ngọn tháp cao tới 300 m hay đang thăm một ngôi nhà 48 tầng. Ở phía xa xa, tôi tưởng như đang nhìn thấy một pho tượng đồng khổng lồ lơ lửng giữa tầng mây. Pho tượng thật sinh động và đang mỉm cười với tôi. Đó là pho tượng của Thần Tự do.

Ôi! Đây là niềm vui của những xứ sở tự do.

Chính vào lúc ấy tôi mở mắt và giấc mơ tan biến. Hình ảnh mà tôi nhìn thấy đưa tôi trở lại với hiện tình của đất nước quê hương tôi, và tôi cảm thấy một nỗi buồn khó tả. Tôi nổi một trận cười điên dại, một trận cười vọng lên thê thảm trong sự tĩnh lặng. Tôi gấp sách lại và chìm đắm trong suy tư. Tôi càng suy nghĩ bao nhiêu, nỗi khổ đau càng tăng thêm bấy nhiêu, và những giọt nước mắt thầm lặng từ từ lăn trên gò má.

Tôi tự nhủ: đầu óc chúng ta thật là ngớ ngẩn biết bao! Những cánh cửa hạnh phúc đã mở rộng trước chúng ta, vậy mà chúng ta lại cố tình ngoảnh mặt làm ngơ. Chúng ta chẳng khác gì một người đang hấp hối nhưng lại từ chối liều thuốc cứu mạng. Than ôi! Chúng ta hãy chỉ tự trách mình nếu chúng ta không được tự do bằng những người khác. Chúng ta chính là những kẻ cai ngục của bản thân mình.

Từ khi người Pháp bảo hộ chúng ta, hai dân tộc đã chỉ có với nhau những quan hệ bè bạn. Chúng ta giống như những người trong một gia đình, những người anh em. Khi những người An Nam đi trên những chiếc tàu thủy, tàu hỏa, thắp đèn pha lê, ăn những thức ăn ngon lành và bổ dưỡng, khi họ nhìn ngắm nhà máy nước, nhà máy điện, họ không thể không trầm trồ khen ngợi nền khoa học phương Tây. Có ai trong chúng ta lại không thừa nhận rằng coi người Pháp là người hướng đạo chính là đã đi vào con đường vinh dự.

Ấy vậy mà, điều rất ngạc nhiên là những người An Nam lại cứ bày tỏ sự khâm phục và thiện cảm đối với người Tầu mà gọi họ là “các chú” của mình.

Đầu óc chúng ta là thế nào? – bụng rỗng tuếch, nhưng lại vẫn làm thơ. Túi tiền của chúng ta trống trơn vậy mà chúng ta vẫn mải mê bàn luận về Khổng Mạnh.

Phan Châu Trinh và con đường cứu nước | Việt Tân
Một số trong chúng ta có may mắn được học tiếng Pháp, mới chỉ viết được dăm ba câu, nói được vài ba chữ, đã tưởng rằng nắm được hết các môn khoa học của những vị thầy của mình. Không ai có thể vỗ ngực cho mình đã đạt tới đỉnh cao của khoa học, và khi mới chỉ bước chân vào ngưỡng cửa của những điều huyền bí của khoa học là đã có thể trở thành người hướng đạo cho đồng bào mình trên con đường cao quý của sự tiến bộ.

Thật đáng thất vọng! Phải chăng sự tiếp xúc qua nhiều thế kỷ với nước Trung Hoa đã dập tắt trong chúng ta mọi sinh khí tới mức chúng ta chỉ còn là những con rối cho các “chú thân thiết của mình” giật giây?

Nếu chúng ta chẳng phải là những con rối bằng gỗ thì sao chúng ta cảm thấy đau đớn khi bị áp sắt nung vào da thịt?

Tại sao chúng ta lại có thể bình thản khi sấm sét đang gầm thét trên đầu? Chúng ta có những người thầy tốt bụng, những người bạn chân thực, thế mà chúng ta lại từ chối những bài học mà họ sẵn sàng truyền dạy cho chúng ta. Chúng ta đóng chặt cửa, bưng tai bỏ chạy. Tóm lại, chúng ta coi những người muốn làm điều tốt lành cho chúng ta như những kẻ thù. Và trong sự hận thù điên dại đó, chúng ta đã đi đến chỗ muốn trao vận mệnh của Tổ quốc ta vào tay của một quốc gia mới xuất hiện, một quốc gia sẽ chỉ biến chúng ta thành những kẻ nô lệ.

Chính điều mong muốn ấy tự nó đã là sự điên rồ, bởi sẽ không bao giờ có thể thực hiện được, trừ khi trái đất có thể đuổi kịp mặt trăng.

Ôi! Thật là một hy vọng hão huyền! Không bao giờ chúng ta có thể tìm thấy cái quốc gia mà một số người trông chờ sự thống trị. Trên thế giới này người ta kính nể kẻ mạnh và coi khinh những kẻ yếu; và người ta cũng chẳng rủ lòng thương hại những kẻ dốt nát và những kẻ ngu ngốc. Sự mong đợi của các bạn thật đáng nực cười, hỡi các đồng bào của tôi. Và sự nực cười đó lại dội lên chính các bạn. Các bạn chờ mong cái gì? Mong nước sông Hồng trở nên trong trẻo chăng? Bao giờ điều đó mới xảy ra? Tại sao lại không lo trời cũng sẽ sập lên đầu chúng ta, và trời cũng sẽ sắp sập đấy; rồi các bạn sẽ thấy.

May thay nhờ có báo chí, tân thư dần dần xâm nhập vào dân chúng, và chúng ta đã bắt đầu thức tỉnh. Nước Pháp bảo hộ đã hào phóng ban phát cho chúng ta món ăn tinh thần. Ở khắp nơi, Nhà nước Bảo hộ đã mở trường học, cải tổ việc thi cử, phát hành rộng rãi báo chí, lại còn lập ra Hội đồng tư vấn. Những công trình ấy là những công trình khai hóa cao siêu. Song Nhà nước bảo hộ không thể làm tất cả trong một lúc. Dần dần Nhà nước sẽ hoàn thiện về sự nghiệp đang được tiến hành. Nếu Nhà nước thật sự có ý định dẫn dắt chúng ta vào con đường tốt lành, điều đó thật dễ dàng, bởi Nhà nước sẽ tìm thấy trong chúng ta những đệ tử dễ dạy và họ sẽ nhanh chóng làm rạng danh người dạy dỗ mình.

Hẳn là những người An Nam dường như chưa thoát khỏi cơn mê ngủ. Mắt nhìn chưa tinh, tai nghe chưa thính. Họ chưa qua khỏi căn bệnh đờ đẫn hàng thế kỷ. Họ đã thử lập các hội buôn bán, hội nông, nhưng họ chưa có kinh nghiệm và còn rụt rè. Họ cũng chưa biết nên chọn lọc chữ Nho hay chữ Pháp. Từ trạng thái bất định lưỡng lự chung ấy, xảy ra tình hình quái lạ, mọi người đua nhau nói cùng một lúc nhưng chẳng ai nghe người bên cạnh nói gì. Có những kẻ chẳng hiểu gì về sự ầm ĩ đó lại lớn họng hơn những người khác, khiến tình trạng càng thêm hỗn loạn. Rồi lại luôn luôn có những kẻ chuyên buông câu khi nước đục, lợi dụng sự hỗn loạn đó để thả những mẻ lưới nguy hiểm. Họ kích động dân chúng nổi loạn chống lại chính quyền, và những cuộc kích động đó đã gieo họa cho tất cả kẻ có ý xấu cũng như người có ý tốt. Đó là cái họa mà những người hiểu biết rất lấy làm tiếc nhưng biết làm sao được?

pham-quynh-_-nguyen-van-vinh-_-pham-duy-ton.jpg

Bất hạnh thay, tôi xin nhắc lại rằng sự tình đó đã dẫn đến những sự hỗn độn rất đáng tiếc. Những người tốt bị nghi ngờ như kẻ xấu. Người đọc sách tân thư, nói lời tiến bộ bị đánh đồng với kẻ nổi loạn. Tình trạng hỗn loạn này cần phải được chấm dứt. Cần phải hiểu rằng những người có lương tri và ham hiểu biết không bao giờ muốn làm những điều phạm pháp. Họ ghê sợ sự cướp đoạt dù chỉ là một đồng chinh, cũng như ghê sợ sự đổ máu. Những người có đôi chút hiểu biết về lịch sử thế giới biết rõ số phận dành cho những người lính Cipayes ở Ấn Độ. Họ cũng chẳng muốn bắt chước người Philippin đổi chủ này bằng chủ khác. Họ cũng chẳng bao giờ dại dột lấy trứng chọi đá. Họ không bao giờ dại dột lấy trứng trọi đá. Họ không bao giờ hồn nhiên đẩy đồng bào mình xuống vực thẳm. Họ cũng chẳng bao giờ đồng tình với gương Kỳ Đồng Thiên Binh 1) vẫn để lại những dấu ấn lố bịch. Người Âu châu có nói “từ đỉnh Capitole đến mỏm Tarpeinne chỉ có một bước chân” 2). Còn người An Nam chỉ nói vinh quang và bất hạnh chỉ cách nhau một sợi tơ; bên này hố sâu là cái phúc, bờ bên kia là cái họa.

Phải chăng ý Trời không muốn điều bất hạnh sẽ xảy ra ở nước ta để dân ta phải đối đầu với những đại họa tồi tệ nhất? Chính là trời muốn trừng phạt những kẻ hung ác và chỉ nâng đỡ những người tốt và những người sáng suốt một lúc nào đó sẽ được minh oan trước con mắt của Chính phủ. Hạt giống tốt rồi sẽ loại bỏ loài cỏ dại, và cùng với mùa màng bội thu, nước Pháp sẽ nhận ra rằng nước ta dù trong 40 năm trở lại đây còn giống như người say, người chết, vẫn có thể biết phát huy những bài học mà nước Pháp đã dạy cho họ.

Những năm tháng nghi kỵ và rối loạn sẽ qua đi, Chính phủ sẽ niềm nở đón nhận tốt đẹp hơn, các hội học, hội buôn các loại. Chính phủ sẽ lập cho họ một quy chế thật rõ ràng giúp các hội này lập được chương trình hành động hữu hiệu. Nhờ đó, sự phát triển của nước An Nam sẽ trở nên ngày càng mạnh mẽ trên con đường tiến bộ và thịnh vượng.

Để kết thúc xin có lời khuyên với đồng bào chỉ nên trông cậy ở chính mình, chớ vọng ngoại vì vọng ngoại ắt là chết. Hãy coi trọng nền hòa bình của đất nước nếu chúng ta không muốn mua lấy cái chết. Những sự giải thoát của chúng ta là nằm chủ yếu trong sự học hành, mở mang trí tuệ (tức là Chi Bằng Học - không chi bằng cái học cả)

Phan Châu Trinh

Khám phá lăng mộ gần một thế kỷ của cụ Phan Châu Trinh

Khu lăng mộ của nhà yêu nước Phan Châu Trinh đã tồn tại gần 100 năm nay ở TPHCM. Hiện nơi đây lưu giữ rất nhiều di vật, di bút, trước tác.. của cụ Phan.

Khu lăng mộ của nhà yêu nước Phan Châu Trinh (1872- 1926) tọa lạc trong khu đất rộng khoảng 2.000m2 nằm trên đường Phan Thúc Duyện, quận Tân Bình, TPHCM.

Cụ Phan Châu Trinh, hiệu Tây Hồ, sinh ra tại Quảng Nam trong một gia đình võ quan triều Nguyễn. Từng có thời gian, cụ Phan sang Nhật Bản, Pháp để học hỏi, tìm con đường thoát khỏi ách cai trị của người Pháp và nhiều lần diễn thuyết về con đường cứu nước, yêu cầu Pháp phải thay đổi chính sách cai trị ở Việt Nam.

Khu lưu niệm cụ Phan Châu Trinh ở Sài Gòn gồm một tòa nhà văn phòng, nhà kho, nhà thờ và khu lăng mộ. Mộ phần cụ Phan ban đầu nhỏ, sau đó được tu bổ theo kiểu ngôi nhà mồ rộng rãi, có mái ngói che nắng mưa, có 2 dãy ghế đá 2 bên để khách đến viếng thăm nghỉ ngơi.

Từ ngoài nhìn vào là bức tượng bán thân lớn của cụ Phan Châu Trinh. Phía sau bức tượng là đền thờ của cụ. Đền thờ xây dựng mô phỏng kiến trúc đền cũ ở Đa Kao với nền hình bát giác.

Bên trong đền thờ có bức hoành phi ghi "Phan Tiên Sinh Từ" (có nghĩa là đền thờ Phan tiên sinh). Chính giữa nhà là bàn thờ cụ Phan Châu Trinh, phía sau có bức đại tự ghi  "Cách Mạng Tiên Khu" (có nghĩa là người làm cách mạng gian nan đầu tiên). 

Bên trái là nơi thờ phu nhân và các con của cụ Phan, bên phải là bia ghi công đức của cụ Phan Châu Trinh và tủ trưng bày các tác phẩm nghiên cứu về nhà yêu nước họ Phan.

Nhà lưu niệm nằm ở bên trái đền thờ, là nơi trưng bày những di vật, di bút, trước tác của cụ và những tư liệu, hiện vật về hoạt động cách mạng của cụ Phan Châu Trinh.

Lăng mộ cụ Phan Châu Trinh .jpg

Khu lưu niệm cụ Phan Châu Trinh ở TP.HCM gồm một tòa nhà văn phòng đã cũ, một nhà kho đã hỏng, nhà thờ và khu lăng mộ. 

Lăng mộ cụ Phan Châu Trinh.jpg

Khuôn viên của cụm di tích rộng 2.500 m2, có tường rào bao bọc. Từ ngoài vào, có tượng bán thân lớn của cụ Phan Châu Trinh.

Lăng mộ cụ Phan Châu Trinh.jpg

Đền thờ xây dựng mô phỏng theo kiến trúc đền cũ ở Đa Kao với nền hình bát giác, mái ba tầng kiểu cổ điển.

Lăng mộ cụ Phan Châu Trinh.jpg

vMộ phần của cụ Phan nằm giữa, hình chữ nhật. Mặt trước mộ với văn tự đề “Việt Nam chính trị cách mạng gia. Phan Châu Trinh tiên sinh chi mộ. Quốc dân đồng kính tạo”.

Lăng mộ cụ Phan Châu Trinh.jpg

Mộ phần cụ Phan ban đầu là nhỏ, nay được tu bổ theo kiểu một ngôi nhà mồ rộng rãi, có mái ngói che nắng, có hai dãy ghế đá hai bên để khách đến thăm viếng nghỉ ngơi. Sau mộ là tấm bia đá bằng cẩm thạch cao 3,6 m, rộng 3 m, nói về thân thế sự nghiệp của cụ Phan do Huỳnh Thúc Kháng soạn.

Lăng mộ cụ Phan Châu Trinh.jpg

Đền thờ rộng khoảng 40 m2, ở giữa là bàn thờ Phan Châu Trinh, phía sau có bức đại tự ghi “Cách Mạng Tiền Khu”, nghĩa là người làm cách mạng gian nan đầu tiên. Bên trái bàn thờ là nơi thờ phu nhân và các con của Phan Châu Trinh, bên phải là bia ghi công đức.

Lăng mộ cụ Phan Châu Trinh.jpg

Nhà lưu niệm nằm đối diện mộ, là nơi trưng bày những di vật, di bút, hiện vật về cuộc đời hoạt động cách mạng của Phan Châu Trinh.

Lăng mộ cụ Phan Châu Trinh.jpg

Những hình ảnh tư liệu quý về cuộc đời hoạt động của Phan Châu Trinh.

Lăng mộ cụ Phan Châu Trinh.jpg

Hình ảnh đám tang của cụ Phan Châu Trinh.

Lăng mộ cụ Phan Châu Trinh.jpg

Những di bút, giấy tờ, thư từ, tác phẩm... của Phan Châu Trinh được lưu giữ trong tủ kính.

Lăng mộ cụ Phan Châu Trinh.jpg

Bộ comple của Phan Châu Trinh thường mặc vẫn còn nguyên vẹn trong tủ kính.

Lăng mộ cụ Phan Châu Trinh.jpg

Hình ảnh những người lao động đến đám tang cụ Phan Châu Trinh.

Lăng mộ cụ Phan Châu Trinh.jpg

Tài liệu, giấy tờ liên quan đến hoạt động cách mạng của cụ Phan.

Lăng mộ cụ Phan Châu Trinh.jpg

Những tài liệu này hầu hết được sao lưu, cất giữ.

Lăng mộ cụ Phan Châu Trinh.jpg

Mỗi năm, vào ngày 24/3, gia đình đều tổ chức lễ giỗ với sự tham gia của thân quyến.

Nguyễn Quang

 

Kim Kỳ sưu tầm

 

 
Xem thêm...
Theo dõi RSS này