Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (966)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (23)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (60)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (198)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

Việt Nam Cộng Hòa Và Những Người Việt Nam Đầu Tiên Dự Olympics - Nguyễn Hạnh

Việt Nam Cộng Hòa Và Những Người Việt Nam

Đầu Tiên Dự Olympics 

Nguyễn Hạnh

svn 1
 
Phái đoàn miền Nam Việt Nam diễn hành tại Lễ Khai Mạc Thế Vận Hội Tokyo 1964. Ảnh: Olympics
 
Những vận động viên mà bạn có thể chưa từng nghe tên
 
Tối nay, 18 vận động viên đại diện cho Việt Nam sẽ ra mắt khán giả thế giới tại Thế vận hội Tokyo 2020. Bạn có biết vào 57 năm trước, cũng tại Nhật Bản, 16 người Việt Nam đã tranh tài tại Thế Vận Hội Mùa Hè Tokyo 1964? Tất cả họ đến từ miền Nam Việt Nam. Hai giờ chiều ngày 10/10/1964, tại sân vận động Olympic, Tokyo, quốc kỳ Việt Nam Cộng hòa nền vàng ba sọc đỏ dẫn bước 16 vận động viên Việt Nam đóng bộ com-lê đen bước đi trước tiếng reo hò của hàng triệu khán giả. [1]
 
Khi đất nước vẫn ngập trong nội chiến với miền Bắc, 16 người đó thuộc một trong những thế hệ người Việt Nam đầu tiên thi đấu thể thao ở đẳng cấp quốc tế với điều kiện tập luyện rất thiếu thốn.
 
Bất chấp hoàn cảnh khắc nghiệt, người miền Nam đã tranh tài tại giải thể thao danh giá nhất hành tinh từ năm 1952 tại Thế Vận Hội Helsinki, Phần Lan liên tục cho đến năm 1972 tại Thế Vận Hội Munich tại Tây Đức.
 
Trong suốt thời gian này, miền Bắc đã không tham gia Thế vận hội, mãi cho đến năm 1980. [2]
 
Những vận động viên miền Nam đã làm điều đó như thế nào? Câu chuyện của họ là một phần lịch sử không thể chối cãi của nền thể thao Việt Nam. Sau năm 1975, lịch sử này đã bị chính trị làm cho mờ nhạt. Đây là lúc làm sống lại câu chuyện về những con người đầu tiên đã đưa Việt Nam ra thế giới bằng ý chí và nghị lực thể thao.
 
Miền Nam từng tranh tài ở thế vận hội như thế nào?
 
Tranh tài ở thế vận hội khi đó không đơn giản là đất nước ghi danh để bạn tham gia. Bạn phải là nhà vô địch hoặc có thứ hạng cao trong khu vực. Các vận động viên Việt Nam Cộng hòa, hay thời đó người ta gọi họ là các lực sĩ, cũng không phải ngoại lệ.
 
Ủy ban Olympic Quốc gia Việt Nam được thành lập vào ngày 25/11/1951 và được Ủy ban Olympic Quốc tế công nhận. Một năm sau, Việt Nam bắt đầu thi đấu ở thế vận hội. [3]
 
Năm 1952, miền Nam tham gia thế vận hội thể thao đầu tiên của mình tại Helsinki, Phần Lan với 8 vận động viên ở 5 bộ môn: điền kinh, boxing, đấu kiếm, đua xe đạp đường trường và bơi lội. [4]
 
xedapdua
 Cua-rơ Bùi Văn Hoàng (áo trắng) và cua-rơ Trương Kim Hùng trong một buổi tập tại Đà Lạt vào năm 1968. Cả hai cùng tham gia Thế vận hội Thành phố Mexico 1968. Ảnh: Bettmann/Corbis.
 
Năm 1956, Việt Nam thi đấu bộ môn đua xe đạp lòng chảo với hai cua-rơ Lê Văn Phước (27 tuổi) và Nguyễn Văn Nhiêu (26 tuổi). [5]
Thế vận hội Tokyo 1964 đánh dấu Việt Nam lần đầu tranh tài tại môn Judo với ba võ sĩ Nguyễn Văn Bình (25 tuổi), Thuc Thuan Thai (39 tuổi), và Lê Bả Thành (30 tuổi). [6] Đây cũng là lần miền Nam có số vận động viên tham gia thế vận hội đông nhất với 16 người.
 
judo
 
Võ sĩ Judo Nguyễn Văn Bình bên trái thi đấu với võ sĩ người Nga Aron Bogolubov tại Thế vận hội Tokyo 1964. Ảnh: Black Belt.
 
dienkinh
 
Vận động viên chạy bộ Nguyễn Văn Lý đang thi đấu nội dung Marathon (42km) tại Olympic Tokyo vào chiều ngày 21/10/1964. Trước đó, anh đã thi đấu nội dung 5,000 mét. Ảnh: Olympics.
 
Năm 1968, các xạ thủ Việt Nam môn bắn súng lần đầu tranh tài tại Thế Vận Hội Mexico. [7] Trung Tá quân đội Vũ Văn Danh (42 tuổi) thi đấu nội dung súng ngắn bắn nhanh 25 mét, Trung Tá Cảnh Sát Hồ Minh Thu (39 tuổi) và Dương Văn Dan (31 tuổi) thi đấu ở nội dung súng ngắn 50 mét.
 
Thế vận hội Mexico cũng đánh dấu lần đầu tiên phụ nữ miền Nam bắt đầu thi đấu ở Olympic.
 
Cô Hoàng Thị Hương là nữ xạ thủ Việt Nam đầu tiên thi đấu ở thế vận hội. Cô học bắn súng khá muộn từ người chồng quân nhân của mình. Cô thi đấu tại thế vận hội sau cùng mà miền Nam tham gia, vào năm 1972 tại Tây Đức. Người ta gọi cô là Annie Oakley của miền Nam Việt Nam vì tài năng bắn súng làm kinh ngạc các quý ông (Annie Oakley là xạ thủ nổi tiếng tại Mỹ vào cuối thế kỷ 19).
 
Xạ thủ Hoàng Thị Hương: Phụ nữ cũng bắn súng giỏi
 
Vào tháng 8/1972, xạ thủ Hoàng Thị Hương còn cách ngày thi đấu tại Tây Đức chưa đầy hai tháng. Cô dành bốn tiếng mỗi ngày tập luyện tại trường bắn.
Đó là thời điểm hãng tin AP thực hiện một bài viết về cô. Nên có nhiều phụ nữ tham gia môn bắn súng hơn nữa, cô Hương nêu ý kiến trong bài báo, “vì đây là bộ môn mà phụ nữ có thể tranh tài ngang hàng (về các nội dung thi đấu) với cánh đàn ông”[8]
 
Tại trường bắn, người ta thấy cô tập luyện với khẩu súng lục do chính tay cô gọt dũa báng súng sao cho thật vừa vặn với lòng bàn tay. Cô mang theo các con của mình khi tập luyện. Chính những đứa con, chứ không phải thế vận hội, mới là lý do ban đầu đưa cô đến với môn bắn súng.
 
bansung
 Xạ thủ Hoàng Thị Hương cùng chồng, Trung Tá quân đội Vũ Văn Danh, tập luyện chuẩn bị cho Olympics 1972. Ảnh: AP.
 
Xạ thủ Hoàng Thị Hương có sáu đứa con. Cô học bắn súng vào năm 1965 từ người chồng quân nhân cũng là xạ thủ Thế Vận Hội – Trung Tá quân đội Vũ Văn Danh – khi gia đình sống tại một đồn lính trong vùng chiến sự tại Huế. Trong bối cảnh như vậy, Trung Tá Danh đã dạy vợ bắn súng để đề phòng quân Việt Cộng.
 Kỹ năng bắn súng của cô lần đầu hữu dụng vào năm 1968 trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân. Cô bảo vệ sáu đứa con của mình với khẩu súng đã lên sẵn đạn.
 
bansung1 Xạ thủ Hoàng Thị Hương cùng chồng và các con tại trường bắn ở Sài Gòn vào ngày 13/8/1972. Cậu bé Dương đứng ngoài cùng được bắt đầu được mẹ mình dạy bắn súng. Ảnh: AP/Koichiro Morita.
 Năm 1969, cô tham gia một cuộc thi bắn súng với 45 nam quân nhân cốt để giải khuây, nhưng cuối cùng đã hạ hết các tay súng và giành huy chương vàng. Kể từ đó, cô đại diện miền Nam Việt Nam tại các cuộc thi bắn súng quốc tế và giành huy chương vàng Đông Nam Á vào năm 1971.
bansung2 Xạ thủ Hoàng Thị Hương và Hồ Minh Thu tại Lễ Khai Mạc Thế Vận Hội mùa hè Münich năm 1972 cũng là Thế Vận Hội sau cùng mà Việt Nam Cộng Hòa tham dự. Ảnh: Youtube.
 
Tháng 10/1972, cô thi đấu nội dung súng ngắn 50 mét, xếp thứ 56/59 xạ thủ. [9]
 Xạ thủ Hoàng Thị Hương không phải là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên thi đấu tại Thế Vận Hội. Có một vận động viên khác đã ghi tên mình vào lịch sử đó.
 
Kình ngư Nguyễn Minh Tâm: Người phụ nữ Việt Nam đầu tiên tham gia thế vận hội
 
Người phụ nữ Việt Nam đầu tiên thi đấu tại thế vận hội là kình ngư Nguyễn Minh Tâm. [10] Cô thi đấu lần đầu ở bộ môn bơi lội vào năm 18 tuổi tại Thế Vận Hội Mexico năm 1968.
 Ngoài cô ra, còn có kình ngư Nguyễn Thị Mỹ Liên, nhưng chỉ có Tâm được công nhận là phụ nữ đầu tiên của Việt Nam Cộng Hòa tham gia Thế Vận Hội.
 
boiloithevanhoi
 Phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa với hai vận động viên bơi lội nữ tại Lễ Khai Mạc Thế Vận Hội Mexico năm 1968. Ảnh: The Asahi Shimbun.
 
boiloithevanhoi1
 Hai kình ngư đại diện cho Việt Nam tại Thế Vận Hội Mexico 1968 là Nguyễn Minh Tâm và Nguyễn Thị Mỹ Liên. Ảnh: IOC.
 
 Kình ngư Nguyễn Minh Tâm sinh ngày 26/8/1950. Cô sinh ra trong một gia đình giàu có tại Sài Gòn. [11] Cô là thành viên của câu lạc bộ thể thao sang trọng dành cho giới nhà giàu Sài Gòn có tên là Cercle Sportif, nơi có hồ bơi đẹp nhất thành phố. [12]
 
Tại Thế vận hội Mexico 1968, Nguyễn Minh Tâm thi đấu ở hai nội dung bơi tự do 100 mét và 200 mét. Ở nội dung thứ nhất, cô xếp hạng 53/61 vận động viên với thời gian 1 phút 09. [13] Ở nội dung thứ nhì, cô không được công nhận thành tích cùng với 7 vận động viên khác. [14]
 
Nguyễn Minh Tâm không tham gia Thế Vận Hội sau cùng của miền Nam vào năm 1972 tại Tây Đức. Năm đó, phái đoàn thể thao miền Nam Việt Nam chỉ tham gia môn bắn súng với hai xạ thủ.
 
Trong sáu Thế Vận Hội mà miền Nam tham gia, có sáu vận động viên thi đấu liên tục hai kỳ là Lê Văn Phước (đua xe đạp đường trường), Trần Văn Xuân (đấu kiếm), Phan Hữu Dõng (bơi lội), Hồ Minh Thu (bắn súng), và Nguyễn Văn Lý (điền kinh).
 
Đoàn thể thao miền Nam không giành được huy chương nào trong sáu kỳ tham gia Thế Vận Hội. Tranh tài tại châu Á, miền Nam Việt Nam có một số gương mặt nổi bật như Hồ Minh Thu giành huy chương đồng bộ môn bắn súng vào năm 1970 tại Bangkok; [15] Trần Gia Thu giành huy chương đồng môn đua xe đạp đường trường năm 1966 tại Bangkok; [16] Ngô Thành Liêm và Trần Văn Nên giành huy chương đồng môn đua xe đạp đường trường vào năm 1958 tại Tokyo. [17] [18]
 
Miền Nam gặp không ít khó khăn khi tham gia các thế vận hội hay các giải đấu lớn. Vấn đề không nằm ở tài năng của các vận động viên mà ở khía cạnh tài chính.
 
Thể thao miền Nam thi đấu trong khó khăn
 
Nếu trở về thời kỳ đó, bạn có thể sẽ thấy khó chịu khi đất nước đang ngập trong đau khổ của chiến tranh, chết chóc, mà lại có người cứ tập luyện thể thao để thi đấu quốc tế – một việc rất tốn kém.
 
Đối với một đất nước không có truyền thống thể thao, việc các vận động viên miền Nam đạt đến tiêu chuẩn thi đấu tại thế vận hội đã là một nỗ lực đáng được ghi nhận. Báo chí quốc tế đã ghi nhận họ tập luyện trong một điều kiện thiếu thốn nhưng không bao giờ từ bỏ hy vọng.
 
botem
 
Một bộ tem lấy chủ đề thể dục – thể thao vào giai đoạn 1965 – 1966, thời Việt Nam Cộng Hòa. Ảnh: hipstamps.com.
 
Tháng 8/1960, các quan chức Ủy ban Olympic Quốc gia miền Nam thông báo phải cắt số vận động viên sẽ tham gia Olympic tại Rome, Italy từ 5 người xuống còn 3 người vì lý do tài chính. [19]
 
Tháng 4/1969, Hiệp hội Quần vợt Việt Nam thông báo hủy tham gia giải quần vợt Davis Cup tại Tokyo diễn ra vào cuối tháng cũng vì lý do về tài chính. [20] Ngoài ra, tay vợt ngôi sao của đội có tên Lưu Hoàng Đức lúc đó đã mất tích ở Hồng Kông.
 
Năm 1968, 11 vận động viên miền Nam lên đường thi đấu tại Thế Vận Hội Rome, Italy nhưng chính phủ chỉ tài trợ vé máy bay, các chi phí khác vận động viên phải tự túc.
 
Trước Thế vận hội Rome, Russ Whitman, huấn luyện viên cho các vận động viên, nói với báo chí rằng họ hầu như không có chỗ tập luyện, các sân vận động của thành phố đã trở thành các khu tị nạn vì cuộc tấn công Mậu Thân. [21]
 
cholonmauthan
 
Khu vực Chợ Lớn bị đánh bom nặng nề vào tháng 6/1968. Ảnh: Bettmann/Corbis.
 
Để thi đấu chuyên nghiệp, vận động viên cần giữ nhịp độ tập luyện liên tục. Tuy nhiên, việc đó là quá sức trong tình trạng chiến tranh tại miền Nam.
 
Russ lấy ví dụ rằng dân chúng từng bị yêu cầu ở nhà ít nhất trong 40 ngày khi xảy ra cuộc tấn công Mậu Thân. Không ai có thể giữ được thân hình tối ưu để thi đấu trong điều kiện như vậy.
 
“Ngay lúc này chúng tôi không có thời gian và tiền bạc cho thể thao”, Trung Tá Vũ Văn Danh nói vào năm 1972, “khi hòa bình đến chúng tôi sẽ chơi tốt hơn nữa”. [22]
Tuy nhiên, hòa bình vào tháng 4/1975 đã vượt xa những gì Trung tá Danh có thể hình dung.
 
Việt Nam tại Thế Vận Hội sau 1975
 
Trong khi miền Nam tham dự sáu kỳ Thế Vận Hội liên tục và Liên Xô, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cũng tham gia từ năm 1952, chính quyền miền Bắc Việt Nam đã không tham gia. [23] [24]
 
Năm 1976, Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký quyết định thành lập Ủy ban Olympic Quốc gia Việt Nam. [25] Mãi đến năm 1980 thì ủy ban này mới được Ủy ban Olympic Quốc Tế công nhận.
 
Vì vậy, Việt Nam đã bỏ lỡ Thế Vận Hội Montreal vào năm 1976 tại Canada.
 
Năm 1980, các vận động Việt Nam trở lại thi đấu tại Thế vận hội tại Liên Xô với 22 vận động viên.
 
Việt Nam tiếp tục bỏ lỡ một kỳ Olympics nữa vào năm 1984 sau khi Liên Xô tẩy chay Thế Vận Hội mùa hè Los Angeles, Mỹ. [26] Không chỉ có Việt Nam, các nước cộng sản như Bulgaria, Đông Đức, Mông Cổ và Tiệp Khắc và Lào cũng tuyên bố không tham gia. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn tham gia. [27]
 
Việt Nam giành được huy chương thế vận hội đầu tiên vào năm 2000. Người mang về huy chương bạc năm đó là võ sĩ Taekwondo nữ Trần Hiếu Ngân. [28]
 
Nguyễn Hạnh
Theo Luật Khoa tạp chí ngày 23/7/2021
 
Chú thích:
 
[1]  Tokyo 1964 Olympic Games – Olympic Flame & Opening Ceremony. (2013, October 3). YouTube.
https://www.youtube.com/watch?v=JOIYgXzMSC4
[2]  Olympedia – Vietnam (VIE). (n.d.). Olympedia. Retrieved July 23, 2021, from
http://www.olympedia.org/countries/VIE
[3]  Olympedia – South Vietnam (VNM). (n.d.). Olympedia.
http://www.olympedia.org/countries/VNM
[4]  Olympedia – South Vietnam at the 1952 Summer Olympics. (n.d.). Olympedia.
http://www.olympedia.org/countries/VNM/editions/13
[5]  Olympedia – South Vietnam at the 1956 Summer Olympics. (n.d.). Olympedia.
http://www.olympedia.org/countries/VNM/editions/14
[6]  Olympedia – South Vietnam at the 1964 Summer Olympics. (n.d.). Olympedia.
http://www.olympedia.org/countries/VNM/editions/16
[7]  Olympedia – South Vietnam at the 1968 Summer Olympics. (n.d.). Olympedia.
http://www.olympedia.org/countries/VNM/editions/17
[8]  AP. (1972, August 27). Viet Mother Shoot Pistol in Olympics. The Spokesman-Review via Newspapers.Com.
https://www.newspapers.com/image/570941605
[9]  Olympedia – Free Pistol, 50 metres, Open. (n.d.). Olympedia. from
http://www.olympedia.org/results/51723
[10]  Olympedia – First Female Competitors at the Olympics by Country. (n.d.). Olympedia.
http://www.olympedia.org/lists/99/manual
[11]  Kingsport Times. (1968, October 3). South Vietnam Enter Olympics. Newspapers.Com.
https://www.newspapers.com/image/592470887
[13]  Olympedia – 100 metres Freestyle, Women. (n.d.). Olympedia.
http://www.olympedia.org/results/6025
[14]  Olympedia -200 metres Freestyle, Women. (n.d.). Olympedia.
http://www.olympedia.org/results/6040
[15]  Olympedia – Hồ Minh Thu. Olympedia.
http://www.olympedia.org/athletes/44838
[16]  Olympedia – Trần Gia Thu. Olympedia.
http://www.olympedia.org/athletes/16846
[17]  Olympedia – Ngô Thành Liêm. Olympedia.
http://www.olympedia.org/athletes/15321
[18]  Olympedia – Trần Văn Nen. Olympedia.
http://www.olympedia.org/athletes/15836
[19]  AP/ Miami News Record. (1960, August 7). South Vietnam Cuts Olympics Delegation. Newspapers.Com.
https://www.newspapers.com/image/596078778/
[20]  AP/ Demoines Tribune. (1969, April 22). South Vietnam Team Pulls Out of Davis Cup.
Newspapers.Com. https://www.newspapers.com/image/325287897/
[21]  Asbury Park Press. (1968, October 15). Vietnam Team Had Problems. Newspapers.Com.
https://www.newspapers.com/image/144596979/
[22]  Xem [8]
[23]  Olympedia – Soviet Union (URS). Olympedia.
http://www.olympedia.org/countries/URS
[24]  Olympedia – People’s Republic of China (CHN). Olympedia.
http://www.olympedia.org/countries/CHN
[25]  Lịch sử hình thành, phát triển của Olympic Việt Nam. Ủy ban Olympic Việt Nam.
http://voc.org.vn/vi-vn/gioi-thieu/lich-su-olympic-viet-nam.aspx
[26]  History.com Editors. (2020, May 6). Soviets announce boycott of 1984 Olympics. HISTORY.
https://www.history.com/this-day-in-history/soviets-announce-boycott-of-1984-olympics
[27]  Xem [24]
[28]  Olympedia – Trần Hiếu Ngân. Olympedia.
http://www.olympedia.org/athletes/94170
 
Nam Mai sưu tầm
Xem thêm...

Thương tiếc nhà văn Bùi Bích Hà

    Tưởng niệm nhà văn Bùi Bích Hà    

(1938-2021)

Bùi Bích Hà nguyên là giáo sư dạy Pháp Văn ở trường trung học Phan Chu Trinh Đà Nẵng và trường nam trung học Nguyễn Trãi Sài Gòn trước 1975. Ra hải ngoại năm 1987 bà là một nhà văn nữ cực kỳ xông xáo ngay vào trường văn trận bút và nền báo chí của thủ đô Tỵ Nạn Bolsa – Nam California.

Bạn Văn 

    Bạn Văn    

  •  Thăm nhà Nguyễn Tường Thiết (con trai của nhà văn Nhất Linh) ở Seattle, WA.
  • Từ trái qua phải: Nguyễn Ngọc Ngạn, Nguyễn Mộng Giác, Trần Mộng Tú, Bùi Bích Hà và Nguyễn Tường Thiết
    (hình từ album riêng của Nguyễn Mộng Giác)
WESTMINSTER, California (NV) – Lễ tưởng niệm cố nhà văn Bùi Bích Hà được tổ chức vào lúc 3 giờ chiều đến 5 giờ chiều Chủ Nhật, 18 Tháng Bảy, tại 8200 Westminster Blvd., Westminster, CA 92683 (East/West Room – City of Westminster).
 
Thông báo nội bộ của nhóm cựu học sinh trường Nguyễn Trãi, Sài Gòn, cho biết: “Theo ước nguyện của cô Hà, tang lễ của cô sẽ được cử hành giản dị trong gia đình, sẽ không có sự hiện diện của bạn bè thân hữu. Đó là lý do chúng ta phải làm một buổi lễ tưởng niệm để các học trò, bạn bè gần xa, các vị thân hữu trong văn giới, các cơ quan truyền thông, các vị giáo sư trong ngành giáo dục, có dịp đến bày tỏ cảm xúc, lòng kính mến, tiếc thương đến một vị giáo sư trung học, một nhà văn, một nhà làm truyền thông, một người bạn tuyệt vời, đó là Giáo Sư Bùi Bích Hà, hơn thế nữa, cô Hà là một người luôn luôn suy tư và gánh vác rất nhiều chuyện của cộng đồng.”
 Hình chụp tại quán Ngọc Sương, hàng trước, từ trái: Ngự Thuyết, Bùi Bích Hà, Tống Kim Chi, Lê Trọng Ngưng; hàng sau, từ trái: Hồng Vân, anh chị Nguyễn Đình Cường. (Hình: Ngự Thuyết cung cấp)
 
Nhà văn Bùi Bích Hà vừa qua đời sáng Thứ Tư, 14 Tháng Bảy, 2021 tại bệnh viện St. Joseph, Orange, hưởng thọ 83 tuổi.
Trước năm 1975, bà dạy học tại các trường Thoại Ngọc Hầu (Long Xuyên), Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho), Lê Ngọc Hân (Mỹ Tho), và Nguyễn Trãi (Sài Gòn).
 
Năm 1986, bà định cư tại Hoa Kỳ, viết sách và làm việc trong lĩnh vực truyền thông với nhiều cơ sở khác nhau.
Các tác phẩm của nhà văn Bùi Bích Hà bao gồm “Buổi Sáng Một Mình” (Người Việt, 1989), “Bạn Gái Nhỏ To” (Người Việt 1991), “Hạnh Phúc Có Thật” (Văn Mới, 2001), “Phương Trời Khác” (Cảo Thơm, 2002), và “Đèn Khuya 1, 2” (Người Việt, 2018).


Đi đâu… Về đâu… 
Trần Mộng Tú
(Gửi theo Bùi Bích Hà)
 
Đến một tuổi nào đó, bạn nhận thức được rõ ràng hơn về nỗi chết. Bạn biết, nếu không bị bệnh hiểm nghèo lúc trẻ thì tuổi sống của bạn cũng không bao giờ là vĩnh viễn được.
Bạn đã đến, đã nhập cuộc, đã hoàn tất cuộc chơi, dù hoàn hảo hay vụng về, bạn cũng phải buông tay, rũ áo… ĐI
 
Bạn và người thân yêu của bạn sẽ phải rời nhau ra, sẽ phải tách ra… Đi về hai phía.
Đi đâu? Nào ai biết mình hay người thân của mình sẽ đi về đâu? Bùi Bích Hà, người bạn thân của tôi, hơn tôi 6 tuổi. Chị thông minh, trí tuệ, là người hoạt bát, năng nổ, giọng nói ngọt ngào, hiểu biết và tháo vát. Lịch trình sinh hoạt của chị bao giờ cũng đầy ắp. Chị nói như chim hót trong vườn không hề lạc giọng, chị là một trong những tiếng nói được nhiều người mến chuộng của cộng đồng Nam Cali. Chị làm việc như một con ong thợ, không biết đến mệt mỏi. Chị cứ tiếp nối năm này qua năm khác, không hề nghĩ đến chuyện từ giã cái sân khấu cuộc đời. Chị quên đếm sinh nhật đời mình.
Tình bạn của chúng tôi suốt hơn ba mươi năm, cười khóc với nhau. Dù chúng tôi không sống chung một thành phố, nhưng chúng tôi đã cùng viết văn, làm báo với nhau một thời gian khá lâu (Nguyệt San Phụ Nữ Gia Đình – Người Việt). Khi hết làm báo chung, chúng tôi vẫn mỗi năm gặp nhau một tuần, thường là tôi xuống Cali với chị, đôi ba năm chị lên Seattle với tôi.
 
Chúng tôi cùng cười, nói, họp bạn với những người bạn chung, nhưng tối về, hai chị em vào một giường trò chuyện, chia sẻ những chuyện riêng trước khi ngủ. Chuyện mà mình không nói được với ai, chỉ có thể nói với nhau. Chị cười giòn giã với mọi người nhưng tôi là người duy nhất chị có thể gục khóc trên vai, chia sẻ những điều rất đỗi riêng tư mà ngay cả với gia đình, cũng không chia sẻ được. Tôi có nói chơi với chị một lần:
-Vai trái của em cho chị cười, vai phải của em cho chị khóc, vì vai phải mạnh hơn, kiên cường hơn.
Chúng tôi cũng có lúc tranh cãi nhau, bất đồng suy nghĩ nhưng chúng tôi nhanh chóng quên ngay sự trái ý đó vì cả hai chúng tôi đều nhân nhượng nhau.
Chị bao giờ cũng ngủ trước tôi, có khi đang nói chuyện, không nghe chị trả lời, biết là chị đã trôi vào giấc ngủ và chị ngủ thật sâu như một đứa trẻ, chứng tỏ chị có cái tâm của trẻ thơ. Tôi hay nói đùa, chị ngủ ngon như một củ khoai nướng.
 
Sống xa nhau, nhưng chúng tôi thư từ, tin nhắn, điện thoại gần như mỗi ngày.
 
Bỗng một một hôm nhận tin nhắn không từ chị: Chị bị ngã và máu chảy trong đầu, rồi tới tấp những tin dữ theo sau… Cuối cùng chị nằm im, máu ngưng chảy trong đầu, tim không đập nữa… Chị đi thật rồi, đi xa lắm rồi… Hai bờ vai tôi rồi đây, sẽ trống trải cô đơn vô cùng, vai nhớ những tiếng cười, vai nhớ những giọt nước mắt của chị.
Thôi nhé Bích Hà, dòng sông xanh từ nay chảy ra biển lớn, chảy về đâu, đi tới đâu, nào ai biết được. Tiếng chim ca trên mặt nước đã thảng thốt chìm.
Thượng Đế đang đứng đón chị ở đường chân trời, nơi cái quầng đỏ từ từ lặn xuống. Từ nay, mỗi lần nhớ chị, em sẽ nhìn về khúc quành của ngã ba sông nước trước cửa nhà em và hình dung ra chị đang theo sông ra biển.
 
Chị đi bình an nhé.
Ngày tiễn Bùi Bích Hà
Con sông xôn xao chảy
Cánh chim nhỏ bay ngang
Dòng nước xanh vỗ sóng
Tiếng chim như lạc đàn
Trôi đi trôi đi nhé
Nước lặng lặng trôi xa
Có tiếng cánh chim đập
Giữa sông nước bao la
 
Có cả tiếng chim ca
Thả rơi từng âm điệu
Tiếng chim và tiếng nước
Bật khóc trên dòng sông
Dòng sông một đời chảy
Cánh chim một đời bay
Tiếng chim một đời hót
Thả xuống đời xôn xao
Chiều nay con nước đứng
Tiếng chim thảng thốt… chìm.
 
Ngày 14 tháng 7 năm 2021
 


Giáo Sư Bùi Bích Hà
Lã Phương Loan
 
Tôi được gặp chị vào cuối niên học 1969 khi mới được thuyên chuyển về dạy ở Nguyễn Trãi. Cả hai chúng tôi đều dạy ca nhì, buổi chiều. Mỗi ngày có năm mười phút trước khi lên lớp gặp học sinh, chúng tôi không có đủ thời giờ để hỏi thăm chi tiết gia đình của nhau. Chị đã về trường nhiều năm trước tôi nên biết nhiều giáo sư khác.
Thời gian qua mau đến Tháng Tư, 1975, thì tôi ra đi. Chị cũng thừa hiểu tại sao tôi đột ngột biến mất.
 
 
Khoảng 1986 (nếu tôi không lầm) một buổi xế chiều chị xuất hiện trước tòa báo. Chúng tôi gặp lại nhau không hết đỗi ngạc nhiên. Sau khi hỏi thăm qua loa về gia đình, chị đưa tôi một xấp giấy bài gửi ban biên tập đăng báo, viết tay ký tên Đỗ Quyên. Bài chị viết sơ về những chuyện xảy ra sau 1975 và nhiều chi tiết hơn về cuộc sống mới sau khi đặt chân đến đất Mỹ. Giờ phút đó chị đã có công ăn việc làm và gia đình tạm ổn định.
 
Cuộc sống tạm cư đối qua cuộc sống định cư, chị bắt đầu viết lại.
Nhà văn Bùi Bích Hà khởi sự viết cho Người Việt với mục Bạn Gái Nhỏ To (một loại Dear Abby của báo Mỹ) góp ý kiến xây dựng hạnh phúc gia đình, được các bà các cô hưởng ứng nhiệt liệt.
Tập truyện “Buổi Sáng Một Mình“ là sách đầu tiên của chị do nhà xuất bản Người Việt in vào năm 1989. Quyển sách cuối cùng trước khi mất là “Đèn Khuya” cũng được Người Việt in vào năm 2018.
 
Khi cộng đồng Việt Nam phát triển, có báo nói (radio), báo hình (TV) chị là người có chương trình mỗi tuần trên cả hai kênh. Chị cũng từng là chủ nhiệm kiêm chủ bút nguyệt san Phụ Nữ Gia Đình từ năm 2002-2014.
Sau khi về hưu chị dành toàn thời gian của mình phục vụ cho các sở thích trên cho đến khi quỵ ngã và ra đi vào Thứ Tư, 14 Tháng Bảy, 2021 vừa qua.
 
Kỷ niệm chung với chị mỗi khi có các bạn từ phương xa về Quận Cam chơi, bốn người chúng tôi thường họp mặt hàn huyên tại nhà một chị bạn thân. Lòng tôi thường chùng xuống khi nghe chị gọi tôi với tên chị Yến, một sự ưu ái dành cho người đã khuất.
 
Bùi Bích Hà, chị đã ra đi quá đột ngột! Mong chị hãy ngủ một giấc bình yên bên cạnh các người thân.


Nhớ chị Bích Hà
Ngọc Hạnh
 
…Bạn ạ, nhớ lại sau 1975, mình được tiếp xúc, chuyện trò với nhiều người miền Bắc vào thời kỳ khó khăn đối với tất cả mọi người từng sinh sống hạnh phúc ở Miền Nam. Mình nhớ chị Bích Hà, cô bạn Bắc Kỳ. Chị vui vẻ, có phản ứng bén nhạy, tư tưởng vững vàng, có lòng tự tin nên chuyện trò với chị thấy an tâm, lạc quan hơn vào lúc không biết tin ai, tâm sự với ai, anh xã thì đi tù cải tạo. Nay đến xứ tự do chị em chúng tôi không còn đứng trên bục giảng nữa. Chị Bích Hà thành “chuyên viên gỡ rối tơ lòng” cho độc giả một tờ báo lớn ở Hoa Kỳ.
 
…Khi đến Hoa Kỳ chị là nhà văn, nhà báo, người gỡ rối tơ lòng, không theo nghề dạy học nữa.Theo mình chị Bích Hà là người có tài và có tình, hay giúp đỡ người khác. Không phải riêng mình, các vị trong trường khi có chuyện gì cần như đi thăm gia đình ốm đau, Bích Hà rất sẵn sàng. Lúc nào Bích Hà cũng tươi cười, chẳng thấy chị than khổ.
 
…Mình còn học được cách cư xử cho gia đình êm đẹp của Bích Hà, không chén dĩa bay khi có chuyện bất hòa. Phu quân chị là người đào hoa bay bướm, có bạn gái. Khi cô ấy gọi tới nhà, Bích không gỡ đường dây điện thoại, không la hét om sòm, chị chỉ nhẹ nhàng bảo phu quân: “Anh hãy nói cô ấy gọi anh nơi khác vì em không muốn để các con nghe thấy anh chuyện trò với cô ấy.” Bích Hà không to tiếng, làm ầm ĩ dù rất buồn trong lòng. Khi chia tay với chồng, chị vẫn gọi anh, xưng em ngọt ngào như xưa làm mình ngạc nhiên, có lần mình đã hỏi chị: “Hai bạn chia tay thật hay giả đấy?”


Vĩnh biệt cô Bùi Bích Hà 
Thảo Ly
 
Khi cô dạy ở trường trung học Nguyễn Trãi Saigon, em theo ban Anh Văn và cô dạy Pháp Văn cho nên em không được học với cô. Thế rồi vận nước đổi thay, em rời VN và lạc mất dấu thầy cô, bạn bè trong suốt nhiều năm nơi đất tạm dung.
 
Khi tìm lại được thầy cô, anh em trường cũ thì cơ hội gặp cô cũng chỉ có một lần thôi, trong kỳ Đại Hội Nguyễn Trãi ở Nam California – nơi cô sống và làm việc không mệt mỏi trong ngành truyền thông, báo chí, viết văn và giải đáp tâm tình, được rất nhiều người hâm mộ.
 
Giờ đây cô đã ngủ giấc bình yên, bỏ lại cho đời những đa đoan, tất bật phía sau. Dẫu cô và em ở hai nơi cách xa nhau, em vẫn cảm nhận cô luôn gần gũi qua những email cô gởi cho em. Cô viết không dài nhưng chứa đựng ân tình, làm ấm lòng mỗi khi đọc lại. Giữa những lá thư lưu giữ, em còn có thêm một tấm hình thật trẻ trung, duyên dáng của cô. Đó là kết quả của lần em vòi vĩnh cô “tấm hình xinh nhất” để đăng kèm trong Đặc San Nguyễn Trãi Houston.
 
Con tàu cuộc đời dừng lại mỗi sân ga. Cô là người hành khách vừa bước xuống trạm dừng dành sẵn. Cô tự tại, thong dong với cách ra đi không vướng bận người thân, càng không bận lòng chuyện tiễn đưa lần cuối của tha nhân. Trong nỗi tiếc thương của người ở lại, em thật an lòng với di nguyện của cô. Cô đã sống hết lòng với cuộc đời này và chọn cách chia tay lặng lẽ khi tạm biệt.
 
Chia tay cô em xin được gởi tình thương và lời cầu nguyện cho cô đi về cảnh giới an lành, trong ánh sáng của từ bi và trí tuệ.
 
Viết từ Houston, Texas
 
 Đường lên Mt. Rainier-Seattle, Washington State. (Hình: Trần Mộng Tú cung cấp)

Giã từ Bùi Bích Hà
Ngự Thuyết
 
Được tin cô Bùi Bích Hà đã vĩnh viễn ra đi, tôi vô cùng sửng sốt và đau đớn. Cô là một nhà văn nữ có tiếng, đã xuất bản nhiều tác phẩm giá trị.
Trước hết về vấn đề xưng hô. Tôi không quen gọi Hà là “chị.” Gọi như thế, tôi cảm thấy nó khách sáo, lạnh lùng, trong khi chúng tôi đã quen biết nhau từ lâu lắm. Tôi vẫn gọi “cô Hà,” hoặc “Hà” và xưng là “tui,” trong khi Hà gọi tôi là “anh” và tự xưng là “Hà” hoặc “tôi.” Xưng hô trong tiếng Việt rất phiền phức và tế nhị.
 
Hồi còn ở Huế, Hà học khác trường và sau tôi mấy lớp. Nhà của tôi lại gần ngôi biệt thự của đại gia đình cô Hà. Do đó tôi và vài thằng bạn, cái thứ con trai tấp tểnh mới lớn, ở gần đấy, làm sao mà không dần dần khám phá ra rằng vùng mình có một “cô Bắc Kỳ xinh xinh, nho nhỏ.”
 
Thật ra Hà gốc Bắc, nói tiếng Bắc giọng Hà Nội nghe thật nhẹ nhàng, trôi chảy, êm ái, nhưng sinh tại Huế. Chẳng biết mấy thằng kia có để ý nhiều đến người đẹp hay không, nhưng tôi không thể quên cái dáng xinh xinh đó đi học về một mình dẫn chiếc xe đạp từ con đường nhỏ đi sâu mất hút vào trong một khu vườn thâm u, kín cổng cao tường.
Nhà của Hà nhìn ra một cánh đồng khá rộng. Những ruộng lúa xanh rì. Đến mùa lúa chín, là cả một cánh đồng vàng. Nhưng khi mùa đông mưa giầm, gió bấc, rét mướt về, cảnh vật thật thê lương. Cánh đồng ngập nước mênh mông trắng xóa, người Huế gọi nước lụt ấy là nước bạc, lội xuống lạnh thấu xương. Tôi nhớ trong một truyện ngắn của Hà có hình ảnh cánh đồng mùa lụt ở Huế. Thêm vào đấy, ngày đêm vang đi rất xa tiếng ểnh ương đều đều, và buồn “thúi ruột.” Từ cổng nhà Hà nhìn xéo sẽ gặp một ngôi chùa nhỏ, không biết mang tên gì, thường được gọi là chùa Áo Vàng, vì các vị sư mặc áo vàng. Thời gian trôi qua quá mau, chúng tôi xa nhau.
 
Đúng ra hồi đó Hà có biết tôi là ai đâu mà bảo là “xa nhau.” Tôi vào Sài Gòn. Sau một thời gian, được tin Hà đã xong đại học, làm cô giáo môn tiếng Pháp tại một trường trung học, và đã lên xe hoa. Thế là “cô Bắc Kỳ xinh xinh, nho nhỏ” đã là người lớn. Thế là hết tuổi mộng mơ. Của ai nhỉ, của Hà hay của tôi? Từ đấy, bặt âm vô tín.
Qua xứ Mỹ này, tôi bắt đầu viết lách. Vào lúc sinh thời của nhà văn Nguyễn Mộng Giác, tôi gặp lại Hà tại nhà anh ấy ở Orange County, Nam Cali. Dường như tháng nào cũng có một buổi họp mặt tại nhà anh chị Giác. Khi có bạn văn nào đến thăm Tiểu Sài Gòn, lại cũng họp mặt chào đón. Hà đến đấy đều đặn, tôi cũng thế. Chúng tôi gặp lại nhau sau bao nhiêu năm bặt tin, xiết bao vui mừng, sau khi tôi “thành thật khai báo” ngọn ngành cho Hà biết tôi là ai. Nhìn lại Hà, tôi cũng nhận ra mấy nét quen thuộc ngày xưa dù nay Hà đã có con, có rể. Nét nổi bật tỏa sáng nơi Hà là sự niềm nở, chí tình, và cung cách cư xử ân cần, nhẹ nhàng, thân thương.
 
Thỉnh thoảng đến dự những Đại Hội Nhớ Huế, hoặc Hoàng Tộc, tôi lại gặp Hà. Hà rất trân quý xứ Huế, từ cảnh vật, thời tiết, con người, giọng nói cho đến phong tục, tập quán, món ăn, thức uống, vân vân. Và ngược lại các tổ chức liên quan đến Huế đều xem Hà như một thành viên cốt cán.
Thế rồi Nguyễn Mộng Giác qua đời trong sự thương tiếc của mọi người. Và cũng đáng tiếc không kém, các buổi họp đó mặt thưa dần và chấm dứt. Nhưng Hà và chúng tôi vẫn quyết tâm tìm nhau.
 
Chúng tôi gồm Bùi Bích Hà, Lê Trọng Ngưng, Tống Kim Chi, Phạm Tạo, anh chị Nguyễn Đình Cường, và tôi, bèn họp thành một nhóm nhỏ mỗi tháng gặp nhau một lần tại nhà riêng của mỗi người, hay tại nhà hàng. Ăn uống, chuyện trò, nghe nhạc. Chúng tôi đã gặp nhau như thế nhiều lần. Ngoài ra, chúng tôi dự định sẽ cùng nhau đi cruise, hoặc thuê xe kể cả tài xế đi thăm các thắng cảnh của Nước Mỹ mênh mông này, nhất là các tiểu bang, thành phố nằm ven Đại Tây Dương. Ở bờ Tây, mơ tưởng đến bờ Đông. Hà là một trong vài người hết sức tán đồng dự định nói trên.
 
Chưa thực hiện được đự định đó thì đại dịch nổ bùng. Chúng tôi bảo nhau chờ vậy, chờ thuốc chủng, chờ cơn dịch lắng xuống, rồi hẵng cùng nhau tổ chức những chuyến đi xa.
Chờ lâu quá chưa thấy có tin tức gì lạc quan, Hà có vẻ sốt ruột, đề nghị rằng chưa đi xa được thì ta cứ việc gặp nhau tại nhà, vì các tiệm ăn chưa được phép mở cửa, miễn là nhớ cách ly, đeo khẩu trang, không bắt tay, vân vân. Thế là khỏi sợ gì nữa. Anh em có người đồng ý, có người không, có người lại bảo sẵn sàng tham gia nhưng con cái không cho bố mẹ đi. Lại phải chờ.
 
Sau khi đã có thuốc chủng, Hà và Tống Kim Chi mời mọi người đến quán Ngọc Sương trên đường Brookhurst. Quán lúc ấy chưa được phép mở cửa “thả giàn,” chỉ 25% thôi, trang hoàng thật lộng lẫy, thức ăn thức uống ngon lành và đầy đủ. Tuy thế, khi chúng tôi vào, trong quán chỉ một bàn có khách ngồi. Chúng tôi chiếm bàn thứ hai cách xa bàn đó.
Bữa tiệc “bỏ túi” vui quá sau gần một năm không gặp mặt nhau. Ai nấy đều lớn tuổi nhưng ham vui nên ăn uống như hạm, chuyện trò nổ như pháo rang. Hà là người vui nhất, nói năng ý nhị và say sưa nhất. Xong tiệc, chúng tôi sắp xếp chương trình chi tiết sẽ đến nhà ai trước, rồi tiệm nào.
 
Một vài người trong nhóm vì công việc riêng phải đi xa, chúng tôi đành phải hoãn lại cuộc họp mặt tại nhà. Thứ Năm vừa rồi, được tin Hà bị té ngã tại nhà, phải vào bệnh viện. Hà sống một mình, khi té ngã không ai biết, nên vào bệnh viện trễ. Hà bị bất tỉnh hơn 5 tiếng đồng hồ mới được đưa đi cấp cứu, thì đã quá muộn. Số mệnh thật oái ăm. Một người như cô Hà, yêu đời, tích cực, thương mến gia đình và bạn bè, lại ra đi sớm hơn chúng tôi.
 
Hôm nay Thứ Ba, 13 Tháng Bảy, 2021, khi tôi viết những dòng này, đài phát thanh Little Saigon TV loan tin nhà văn Bùi Bích Hà vừa được bệnh viện cho rút hết các ống trợ lực, và đã qua đời. Tin buồn về Hà đã đến với chúng tôi mấy hôm trước đây, nhưng khi nghe lại tin đó trên đài phát thanh, tôi một lần nữa bàng hoàng, ngẩn ngơ. Bạn bè trong và ngoài nhóm gọi nhau qua điện thoại, ai nấy đều ngậm ngùi. Có bạn tìm an ủi: Chị Hà ra đi như thế cũng là điều hay, tránh được những đau đớn về thể xác.
Cầu nguyện nhà văn Bùi Bích Hà sớm yên vui nơi cõi vĩnh hằng.
 
14/7/2021


Bùi Bích Hà, một mình trong nỗi nhớ 
Bùi Vĩnh Phúc
 
…Bùi Bích Hà chỉ mới tự giới thiệu mình với độc giả hải ngoại bằng tập truyện ngắn Buổi Sáng Một Mình, do nhà Người Việt in năm 1989, cùng với một vài bài tùy bút về quê hương đăng rải rác trên một số báo chí và tập san văn nghệ trong mấy năm qua. Thế nhưng, chỉ với tập truyện ngắn và một vài bài tùy bút ấy, bà đã để lại những ấn tượng rõ nét trong lòng người đọc về một văn phong trầm lặng nhưng lại ẩn chứa đầy những sôi sục bên dưới, và một trái tim thiết tha nhưng luôn quằn quại với những câu hỏi của đời sống.
 
Buổi Sáng Một Mình. Đó là một tập sách gồm có mười lăm bài văn pha trộn những thể loại khác nhau: truyện ngắn, tùy bút, thư. Thật ra, có thể nói đây là một tập truyện ngắn được mở đầu bằng một lá thư cho một người bạn, một người mà tác giả quý mến, và chấm dứt với một tùy bút viết về Huế, quê hương một đời của bà.
 
Câu văn, hình ảnh và những rung động của Bùi Bích Hà, trong mắt nhìn riêng tôi, có một khoảng cách khá rõ so với câu văn, hình ảnh và những rung động của đa số những người viết hiện nay có tác phẩm xuất bản ở ngoài nước. Đọc văn của những người khác, ta thấy đời sống và tâm lý nhân vật như quay theo một trục quay gần gũi với cái trục quay vật lý và xã hội của cuộc sống này. Chúng quay nhanh hơn cái nhịp mà ta vẫn hằng quen biết, ngày xưa, ở quê nhà. Cái nhịp quay ở đây là cái nhịp quay của một xã hội hậu-kỹ nghệ đang tiến những bước dài sang một xã hội đặt căn bản trên sự thông tin. Con người ở đây đang phóng mình hối hả trên những xa lộ thông tin (information highway), đang “trượt sóng” trên những hệ thống tin tức liên-quốc-gia (surfing the Internet) trong một cái không gian được điện tử hóa (cyberspace). Đời sống là những vòng quay xấn tới, và con người trong xã hội này phải bắt vào cái nhịp của những vòng quay vừa nói.
 
Bùi Bích Hà và các nhân vật của bà, trong cái nhìn của tôi, hình như vẫn ở bên ngoài cái vòng quay ấy. Có những lúc, tôi có cảm tưởng rằng họ đã chọn lựa sự bất tham dự đó.
Đọc Bùi Bích Hà, tôi có cái thích thú như được xem một cuốn phim Pháp cũ. Động tác của nhân vật từ tốn, không hối hả. Ngôn ngữ họ cũng vậy. Mà cái không khí bao quanh họ cũng thế. Tất cả đều chầm chậm lướt qua lướt qua với những ý nghĩa của lời nói, của dáng điệu cử chỉ hành vi nhân vật… Tất cả đều được nhìn ngắm một cách tường tận, rõ nét. Cuộc sống ấy là cuộc sống được đặt trong một thế giới hợp lý, với những chìa khóa để ở đâu đó trong cuộc đời này mà con người có thể tìm kiếm ra. Còn cuộc sống náo động bây giờ thuộc về một thế giới khác. Một thế giới với những hoàn cảnh, những vấn đề, những hiện tượng bất lý giải hay bất khả lý giải. Chìa khóa của vấn đề, rất nhiều khi, đã được quăng vào rốn bể. Và con người, bây giờ, chạm mặt với những phi lý của đời sống. Những phi lý làm nó xao xuyến và buồn nôn. Và con người bị đẩy ra ngoài cuộc đời. Với một thiên nhiên nhiều lúc đã trở thành xa lạ, và một nội tâm nhiều khi đã trống rỗng. Đã mất rồi những hình bóng và âm hao cũ.
 
Tác giả là một người có những rung động thật sâu và sắc bén. Phân tích tâm lý nhân vật của Bùi Bích Hà làm cho người đọc có cảm tưởng rằng bà thường tự phân tích mình trong những tình huống hằng ngày của cuộc sống. Trong những mô tả về những rung động tế vi của con người và trong những cuộc giải phẫu tâm lý nhân vật, Bùi Bích Hà chứng tỏ bà là một người tinh. tường…


Cô Bích Hà kính thương,
Quý Trần & Loan Võ (cựu học sinh NT71-78)
 
Chúng em những học trò của cô tại trường trung học Nguyễn Trãi Saigon thập niên 70 vô cùng thương tiếc trước sự ra đi đột ngột của cô. Vì chúng em rất mong muốn được gặp lại cô vào dịp Đại Hội Nguyễn Trãi toàn Thế Giới lần 6 tổ chức tại Nam Cali vào Tháng Năm, 2022 sắp tới.
 
Dẩu biết rằng sinh tử vốn vô thường nhưng chúng em vẫn không nén được cảm xúc nghẹn ngào khi phải nói lời tiễn biệt với cô. Chúng em vẫn lưu giữ mãi tình cảm và hình ảnh của cô trong những lần họp mặt với cựu học sinh Nguyễn Trãi khắp nơi. Đặc biệt vào mùa hè năm 2017 khi sang California chúng em đã có dịp gặp lại cô và nhiều thầy cô đã dạy chúng em tại nhà của thầy Lê Triều Vinh. Lần đó cô cho biết rất tiếc đã không thu xếp sang Houston, Texas, tham dự Đại Hội Nguyễn Trãi Thế Giới lần đầu tiên vào năm 2012 và mong có dịp sẽ sang Houston để thăm đồng nghiệp và học sinh Nguyễn Trãi. Lúc đó chúng em ngỏ lời mời cô theo xe của chúng em sang Houston một chuyến thì cô cười vui ngỏ lời cám ơn, nhưng cho biết chưa thu xếp được.
 
Đầu năm 2020 vừa qua vì chân đau cô lại không thể đến Houston tham dự Đại Hội Nguyễn Trãi Thế Giới lần thứ 5. Vì vậy chúng em đang mong chờ ngày gặp lại cô tại Đại Hội Nguyễn Trãi Thế Giới lần 6 ở Nam Cali. Vậy mà, hỡi ơi! cô đã vội chia tay trần thế.
 
Thương nhớ cô chúng em xin thay mặt bạn học Nguyễn Trãi 71-78 có mấy dòng thơ tiễn biệt:
 
Nghe tin cô vừa mất
Lòng chúng em tiếc thương
Nhớ lời cô nhẹ nhàng
Trong những buổi talk show
Từ nay vắng bóng cô
Học trò cũ khắp nơi
Cùng thắp nén nhang lòng
Tiễn cô về cõi Phật
Vãng sanh miền cực lạc…
 
Với tấm lòng thành chúng em xin kính cẩn cúi chào tiễn biệt cô: một nhà giáo, một nhà văn nhà thơ, nhà truyền thông, nhà tâm lý…
Chúng em tự hào là học trò của cô và nhớ cô mãi.


Ngày hết hạn bất ngờ
Hương Thơ
 
Mọi thứ trên đời đều có ngày hết hạn. Nhưng trong đại dịch, nhiều người đã đau đớn tột cùng khi phải đối diện với những ngày hết hạn bất ngờ của đời người và những biệt ly không lời từ biệt.
 
Tôi quen chị gần 25 năm, từ một cơ duyên và tương giao đặc biệt. Chị vừa là người bạn vong niên, người cộng sự, người chị, người Mẹ và người Thầy (mentor) mà tôi rất quý mến và kính trọng. Những năm tháng dài quen biết và làm việc bên nhau với chương trình Phụ Nữ Ngày Nay của SGTV cùng nhiều sinh hoạt khác, chúng tôi đã chia sẻ nhiều vui buồn và thử thách, cũng có lúc giận hờn và bất hòa, nhưng không bao giờ sống vắng nhau lâu.
 
Chị là chỗ dựa tinh thần giúp tôi trưởng thành trong suy nghĩ, trong cách sống và trong công việc. Dù vóc dáng nhỏ nhắn, chị lại luôn là nơi tôi tìm đến để được chở che, an ủi và bám víu trong những lúc chới với khi tuyệt vọng, chán chường. Tôi học từ chị: lòng đam mê và nhiệt huyết khi làm việc, tình yêu với chữ nghĩa, tình yêu dành cho tha nhân và cuộc sống; nhờ đó tôi đã trưởng thành và tự tin hơn.
 
 
Nhà văn Bùi Bích Hà (trái) và Hương Thơ. (Hình: Hương Thơ cung cấp)
 
Mỗi tuần trước đại dịch, chị và tôi và hai người bạn cao niên đều đặn gặp nhau, truyện trò, ăn uống, và để “tâm tình với Thái Hà.” Chỉ cần gọi một cú phôn, tôi chạy ngay đến chị hay ngược lại. Nhưng những ngày tháng gần đây, sức khỏe chị giảm sút hẳn và cú phôn sau cùng nhận được của chị là vài ngày trước khi chị bị ngất trong nhà. Chị than thở là cảm thấy buồn và muốn tôi đến chở chị đi thăm bạn bè để ăn uống và trò chuyện. Không ngờ rằng đó là lần cuối cùng chúng tôi gặp nhau và là lần cuối cùng tôi được đỡ chị lên và xuống xe.
Vào buổi chiều định mệnh, chị lỡ một buổi hẹn, tôi mang thức ăn đến nhà, gõ cửa, không ai mở, gọi phôn không ai bắt. Và đó là cú phôn tôi gọi chị cuối cùng mà chị không trả lời. Rồi tiếp theo là những đêm dài mất ngủ, cầu nguyện mong phép lạ xảy ra, khi chị rơi vào cơn hôn mê trong bệnh viện.
 
Rồi cái ngày hết hạn không chờ cũng đã đến, dù không tin cũng đã thành sự thật. Cho đến bây giờ tôi vẫn chưa ra khỏi cảm giác thảng thốt, bàng hoàng và lạc lõng, như vừa đánh mất một thứ gì vô cùng quý giá và quan trọng nhất trong đời, vì chị chính là người Mẹ thứ hai của tôi sau khi tôi mất Mẹ.
 
Em sẽ ghi nhớ những lời chị vẫn thường xuyên dặn dò mỗi khi chúng ta gặp nhau, như lời chị đã viết trong tập truyện ngắn “Đèn Khuya:” “Đường trần gian sỏi đá, hãy nghiêng vai trút xuống mọi hành trang của mỗi chặng đường qua, cho nhẹ thân phù thế. Hãy ngợi ca tình yêu, từ mỗi sớm mai qua từng buổi chiều như thời gian dệt toàn bằng sợi tơ yêu thương êm ái. Và, bởi vì con đường nào cũng sớm muộn dẫn tới biệt ly, hãy biệt ly nhau trong vòng tay yêu thương, ngay trong gặp gỡ và cả khi rời nhau.”
Tạm biệt chị, người Mẹ tinh thần của em, em yêu quý và thương nhớ chị vô cùng.


Tưởng nhớ một vị thầy đáng kính!
Mai Đông Thành
 
Cô về dạy trường Nguyễn Trãi khi còn khá trẻ, chỉ hơn các học trò lớn khoảng chục tuổi. Vẻ hiền lành và những lời nói ôn tồn ấm áp đã chinh phục dễ dàng lũ học trò nổi tiếng phá phách, nghịch ngợm.
 
Qua Mỹ, gặp lại cô vẫn những lời thăm hỏi thân tình, những nụ cười hiền lành, lũ học trò ngày xưa càng thấy gần gũi cô hơn.
Trong những buổi thầy trò họp mặt hầu hết đều có cô tham dự. Cô mà vắng mặt thì ai cũng hỏi “Sao hôm nay không thấy cô Hà?”
 
Sau hơn một năm bắt buộc phải cách ly vì đại dịch, đến Tháng Năm vừa qua khi hầu hết người lớn đều đã chích ngừa, anh em Nguyễn Trãi lại rủ nhau họp mặt với một số thầy cô thân thiết từ mấy chục năm nay. Cô Hà hứa sẽ tham dự, nhưng trước một ngày cô phải cáo lỗi vì có người bạn từ xa về chơi lại gặp trở ngại gì đó, cô không thể bỏ mặc được. Tuy nhiên cô vẫn gửi cho buổi họp một nồi cá nục kho khá nhiều.
 
Đến giờ họp mặt, mọi người đề nghị gọi cho cô. Cô hỏi ngay “Cá kho của cô thế nào?” Tôi tình thật trả lời “Dĩa cá kho của cô đã làm thủng hết nồi cơm lớn của tụi em rồi!” Mà cá nục kho của cô ngon thật! Nó không tanh chút nào mà còn rất đậm đà, ngon hết biết! Các nàng dâu Nguyễn Trãi nấu ăn cũng có hạng mà đều phải chào thua, xin cô cho bí quyết.
Lần họp mặt thứ nhì vào Chủ Nhật, 13 Tháng Sáu, cô cũng nhận lời nhưng rồi cũng lại cáo lỗi vì có người bạn về chơi với cô một tuần. Hỏi ai vậy thì cô nói “nhà văn Trần Mộng Tú.” Tôi năn nỉ “Cô Tú về chơi cả tuần, cô chỉ bỏ ra vài tiếng đến chơi với tụi em đâu có sao” Cô cười “Cô Tú lại nói học trò thì ở gần quanh năm, cô Tú thì ở xa lâu lắm mới gặp nhau.” Biết hai cô rất thân nhau nên tuy tôi cảm thấy hơi ganh với cô Trần Mộng Tú, cũng đành chịu thôi.
 
Trong một số lần trò chuyện, khi nghe học trò kể về những chuyến du lịch đó đây, cô thích lắm và bảo “Khi nào cô về hưu sẽ đi với các em.” Tôi thúc giục “Cô làm việc lâu quá rồi, cô nghỉ đi để thảnh thơi du lịch khi vẫn còn đi được.” Cô bảo có lẽ sang năm cô sẽ nghỉ. Lúc đó là đang giữa đại dịch. Năm nay khi tôi hỏi lại “Bao giờ cô về hưu?” thì cô lại bảo “Người ta đang ngỏ ý mời cô lấy thêm 4 giờ ban ngày, các em có hợp tác với cô không?”
 
Cô Bùi Bích Hà là thế! Cô yêu độc giả, khán giả, thính giả nên luôn miệt mài viết, sẵn sàng làm mọi việc cho cộng đồng. Báo giấy, báo nói (radio), báo hình (TV) chỗ nào cũng có cô.
Cho mãi đến buổi sáng ngày 14 Tháng Bảy vừa qua cô mới thật sự “về hưu!”
Cô ơi! Em nhớ cô quá!


Giáo Sư Bùi Bích Hà săn sóc học trò mọi lúc mọi nơi
Nguyễn Mộng Tâm
 
Tôi biết bà Bích Hà khi vào hãng Baxter làm việc năm 1998. Một người mới sang Mỹ tiếng Anh không biết nhiều nên khi vào sở Mỹ làm, gặp được đồng hương thì an tâm lắm. Những lúc gặp bà, nói một hai câu chuyện, cảm nhận bà thật chân thật từ tốn, nói chuyện nhỏ nhẹ, hướng dẫn tận tình khi mình có điều thắc mắc. Quý vị sang đây, đi làm chắc cũng biết qua cảnh ma mới bắt nạt ma cũ, nịnh bợ, đút lót ngay cả những người cùng làm việc với mình để khỏi gặp chuyện rắc rối. Tôi cảm thấy rất may mắn khi trong hãng tôi có bà Bích Hà, chúng tôi có vấn đề gì với HR dù lớn hay nhỏ đều được bà tận tình giúp đỡ để giải quyết tốt đẹp, người Việt mình không bị dân tộc khác ở lâu bắt nạt!
 
Sau này khi công việc đã ổn định chúng tôi bắt đầu sinh hoạt cộng đồng. Chúng tôi tìm bạn học Nguyễn Trãi, phu quân tôi là Đỗ Kim Thiện học niên khóa 1956-1960.
Trong những lần họp mặt, lúc đó tôi mới biết bà là giáo sư của trường. Tôi càng cảm mến bà hơn khi bà vui mừng gặp lại tôi và còn giới thiệu tôi với học trò, rằng tôi là bạn cùng làm việc một công ty! Quý vị thấy không, một giáo sư, một nhà văn, một nhà báo, một nhân viên làm việc văn phòng, không hề có những hành động cử chỉ để tỏ ta là người hơn hẳn mọi người. Bà Bích Hà lúc nào cũng dịu dàng, chu đáo, còn săn sóc học trò mọi lúc mọi nơi.

Nguyễn Trãi mới họp mặt hôm 13 Tháng Sáu, 2021, vì bận bà không tới được nhưng cũng gởi một nồi cá kho ngon tuyệt vời cho học trò ăn để có sức mà họp. Bà hẹn kỳ họp tới ngày Thứ Bảy, 10 Tháng Bảy, bà sẽ tới cùng góp ý với Đại Hội Nguyễn Trãi 2022 nhưng mọi việc đã đem cho cựu học sinh Nguyễn Trãi một sự mất mát to lớn: Giáo Sư Bùi Bích Hà đã ra đi.


Mùi hoa bưởi
Cao Đắc Vinh
 
Đêm nay không hẳn là một đêm bình thường trong cuộc đời hưu trí của tôi. Mấy giờ rồi? Tôi không rõ chỉ biết rằng đêm đã khuya…
 
Thành phố Irvine im lìm dưới ánh trăng, không gian yên lặng để tôi nghe tiếng lòng mình thổn thức. Một mình tôi ngồi trong bóng đêm… nhớ cô! Tôi nhớ cô vô cùng.
Mấy ngày nay cứ nghe ngóng tin tức từ nhà thương, biết không vui mà vẫn chờ… chờ một phép lạ đôi khi xảy ra nhưng dù thế nào tôi vẫn đợi! Đợi chờ là hy vọng, là liều thuốc xoa dịu được nỗi lòng thương nhớ nhưng có lẽ chính nó, những mâu thuẫn ấy đã làm tôi khó ngủ? Rồi sẽ lại gặp nhau hay chúng ta sắp chào nhau lần cuối, kẻ ở người đi, người đi về cõi thiên thu để lại đường trần từ nay vĩnh biệt!
 
Ôi thôi! Bùi Bích Hà, một ánh sao sáng vừa rơi giữa bầu trời văn học. Chuyện đời là duyên khởi, cái duyên khởi để tôi tình cờ gặp cô là văn chương. Tôi yêu lối cô hành văn và cả tiếng nói mạch lạc trên đài phát thanh nhưng yêu nhất là cách cô sống thẳng tâm thẳng tính. Thời gian đầu, tuy chưa hiểu rõ nhau cặn kẽ nhưng cô đã trao cho tôi tất cả sự tin tưởng để cô tâm tình: Yêu ai cô bảo rằng yêu, ghét ai cô cũng nói hết lời vì thế tôi cảm thấy gần gũi và dĩ nhiên chưa một lần tôi phản bội cô dù cho vật đổi sao rời.
 
Đêm nay trăng sáng quá, tôi như ngồi trò truyện với cô trước giờ chia tay. Ánh trăng làm sáng cả khu vườn mà cô đã đến đây vài lần. Cô ngồi dưới tàn cây bưởi nở rộ mùi hoa thơm mùa Xuân năm nào… Và từ đó, mỗi lần nhận được thư cô, tôi lại đọc những câu văn nhắc nhở và tán thưởng mùi hoa bưởi.
 
Cô ơi, từ nay cứ mỗi độ Xuân về, nhà em lại nồng nực mùi hoa bưởi và em sẽ lại tìm thấy cô qua không gian vô thường vô ngã đó. Em yêu cô từ bản chất lãng mạn và thẳng tính ấy nên sẽ không bao giờ quên được người đàn bà đẹp mang tên Bùi Bích Hà.


Tiễn bạn Bùi Bích Hà
Nguyễn Ngọc Hạnh
 
Vĩnh biệt Bích Hà người bạn hiền
Giã từ bằng hữu về cõi tiên
Môn sinh đồng nghiệp nhiều thương tiếc
Báo chí văn chương hết nợ duyên
Chúc bạn thong dong nơi tịnh yên
Vào nơi an lạc chẳng ưu phiền
Thiên đường hạnh phúc xin cầu chúc
Hoa thơm cỏ lạ chốn thần tiên
“Phụ Nữ Gia Đình” làm chủ nhiệm
“Bạn Gái Nhỏ To” tâm trí yên
“Hạnh Phúc Có Thật” nhiều độc giả
“Buổi Sáng Một Mình” vui thiên nhiên
Thương lắm Bích Hà người đi trước
Dọn sẵn đường đi kẻ đến sau…
Tiếc nhớ đôi hàng gởi bạn hiền
Sau trước rồi ta sẽ gặp nhau.
 
 
 
Tưởng niệm nhà văn Bùi Bích Hà
 
  (1938-2021) 
 
Nhà văn Bùi Bích Hà.
 
Tôi chưa gặp nhà văn Bùi Bích Hà bao giờ. Trong giới cầm bút hải ngoại, có lẽ tôi là người đứng dúi ngay sau lưng nhà văn Túy Hồng. Hai chúng tôi rất ít giao thiệp với các văn nghệ sĩ hải ngoai. Theo lời Túy Hồng và Trần Thị Lai Hồng, những bạn của Bùi Bích Hà kể lại, Bùi Bích Hà là người có nhiều khả năng cao, lại khéo ăn nói và giao thiệp rộng.
 
Bùi Bích Hà nguyên là giáo sư dạy Pháp Văn ở trường trung học Phan Chu Trinh Đà Nẵng và trường nam trung học Nguyễn Trãi Sài Gòn trước 1975 . Ra hải ngoại năm 1987 bà là một nhà văn nữ cực kỳ xông xáo ngay vào trường văn trận bút và nền báo chí của thủ đô Tỵ Nạn Bolsa – Nam California.
 
Tưởng Niệm Nhà Văn Bùi Bích Hà (1938-2021)
Từ trái: Nhà thơ Trần Mộng Tú, chủ biên Diễn Đàn Thế Kỷ Phạm Phú Minh, và nhà văn Bùi Bích Hà tại vườn nhà Phạm Phú Minh, năm 1998 (Hình của nhà văn Phạm Phú Minh)
 
Bùi Bích Hà là cây bút quen biết thân thiết với các nhà văn như Nguyễn Mộng Giác (chủ biên tờ Văn Học), với nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng (chủ biên tờ Văn, Thế Kỷ 21, Viet Tribune San Jose), với ký giả Đỗ Ngọc Yến (chủ chốt sáng lập tờ Người Việt) nhà thơ Đỗ Quý Toàn (Người Việt), Phạm Phú Minh, (Người Việt, Thế Kỷ 21, Diễn Đàn Thế Kỷ).
 
Có thể nói nhà văn Bùi Bích Hà và nhà thơ Trần Mộng Tú là đôi bạn văn nữ “làm mưa làm gió” trên các diễn đàn Văn Chương và Báo Chí Hải Ngoại vì mối quen biết sâu sắc đậm đà với các ông chủ báo chủ biên trên. Gần như các sáng tác và bài vở của hai bà Bùi Bích Hà và Trần Mộng Tú luôn luôn được săn đón và đánh bóng trên các tờ báo do các ông chủ báo chủ biên trên đây xuất bản.
 
Ngoài ra nhờ tài ăn nói, Bùi Bích Hà thường được mời làm MC cho các sinh hoạt văn nghệ Hải Ngoại. Nhà văn Trần Lai Hồng từng thiết kế áo dài và tổ chức những sinh hoạt trình diễn áo dài. Lai Hồng tổ chức khắp nơi như Houston, Wahsington State, California, Florida, mỗi lần tổ chức, Trần Lai Hồng nói với tôi, chỉ thích mời Bùi Bích Hà làm MC.
 
Bùi Bích Hà là nữ ký giả điều hành rất nhiều chương trình Radio ở quận Cam Orange County. Tôi sống xa Orange County nên chưa được nghe các hội thoại của Bùi Bích Hà trên radio nhưng biết tin đồn Bùi Bích Hà được khán thính giả Nam California ái mộ vì giọng Bắc ngọt ngào và kiến thức phong phú của một cô giáo giảng bài. Tựa như ông nhà văn nhà giáo Nguyễn Ngọc Ngạn giảng bài cho khán giả Thuý Nga Paris và được triệu triệu fan Việt hâm mộ mê tơi.
 
Một người đàn bà đa tài và năng động. Có thể nói đối với giới báo chí và văn nghệ quận Cam, nữ sĩ Bùi Bích Hà xông xáo và có khả năng thuyết khách cỡ như nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn bên nam giới. Năm nay vừa đúng 80 tuổi, bà Bùi Bích Hà vẫn sinh hoạt năng nổ đến những ngày cuối đời. Vẫn làm công việc ký giả radio, vẫn tập thể dục hàng ngày,và sống trong ngôi nhà be bé xinh xinh, ký giả Hoàng Trọng Thụy đài Little Saigon Tivi ở Nam Cali nói như thế. Nhà văn bị một cơn bất tỉnh tại nhà. Khi người khác biết sự kiện, thì mọi việc đã trễ … Bùi Bích Hà sống chỉ một mình vào những năm tháng cuối đời.
 
Nguyện cầu hương linh nhà văn thanh thản dịu êm đi về miền hoang vu vô định, và những gì nhà văn để lại cho đời được đón nhận với nhiều may mắn.
 
Tác phẩm của Bùi Bích Hà: Buổi Sáng Một Mình (truyện ngắn 1989), Bạn Gái Nhỏ To (1991), Hạnh Phúc Có Thật (Văn Mới, 2001), Phương Trời Khác (Cảo Thơm, 2002), và Đèn Khuya 1, 2 (theo báo Người Việt Nam Cali)
 

Đừng đến Seattle

Lê Hữu

Nhà văn Bùi Bích Hà & nhà thơ Trần Mộng Tú (Seattle, 7/2012)
 
Tin chị Hà mất không làm tôi bất ngờ. Không bất ngờ, vì tôi đã chờ đợi cái tin xấu nhất ấy suốt mấy hôm nay. Chúng tôi cùng góp lời cầu nguyện và mong phép lạ nào đến với chị, tuy biết chị khó mà qua được.
Những ngày chờ đợi là những ngày thật dài và nặng nề. Chúng tôi không ai nói với ai lời nào. Sau cùng thì mọi chuyện cũng kết thúc khi chị Tú báo tin đến mọi người. Tôi nhớ mình đã ứa nước mắt, nhưng đầu óc tôi thì trống rỗng.

“Chị Hà vừa mất, sáng nay,” tôi nói thật chậm rãi, để N không phải hỏi lại hay nghĩ mình nghe lầm.
Đang lúi húi trong bếp, N khựng lại, gieo mình xuống chiếc ghế cạnh đấy. Hai vợ chồng cùng im lặng, nhìn nhau, rồi cùng nhìn ra vườn cây ngoài khung cửa sổ. Nắng và gió nhẹ, những tán lá lay động.

Nồi nước sôi sùng sục trào ra, tôi bước lại gần tắt bếp.
“Nếu chị ấy lên đây cuối tháng rồi thì chắc không đến nỗi…,” N nói như nói một mình.
Câu nói không mang ý nghĩa nào cả, rơi vào khoảng không. Có vẻ N chỉ buột miệng, để lấp khoảng trống hay vì thương chị Hà mà nói vậy.
“Cũng có khi là vậy,” tôi nói sau phút im lặng, “hay ít ra mình cũng được ngồi ăn chung với chị thêm lần nữa.”

Lẽ ra thì chị Hà đã có mặt ở Seattle cuối tháng rồi, cách đây hai tuần. Chị có cái hẹn lên chơi và N lại có dịp trổ tài nấu nướng để khoản đãi chị món bún bò từng được chị khen ngon và đề nghị “tái bản” trong cuộc “họp mặt hậu Covid” chuyến này. Ngon dở thế nào không biết, nhưng chị có cách khen khiến người được khen vui thích và cảm thấy chị khen rất thực lòng.
Gần như mỗi năm chị Hà đều lên chơi Seattle. Chị nói có hai nơi chị vẫn muốn tìm đến như tìm những giờ phút thư giãn hiếm hoi trong cuộc sống luôn bận rộn của chị, Dallas và Seattle. Dallas để thăm người anh cả và Seattle để có những buổi họp mặt đầy tình thân, ngồi giữa những tình bạn ấm áp và dễ chịu.
 
Thế nhưng, trời lại không chiều lòng người. Gần đến ngày đi thì sức khỏe chị Hà bỗng sa sút và có những biến chứng đáng ngại, lại thêm chỉ số huyết áp tăng cao và trồi sụt bất thường. Không còn thấy chị háo hức nhắc đến ngày hẹn gần kề, nhưng chị cũng không nói liệu chị có đi được. Tôi biết tính chị Hà, không dễ gì ngăn cản chị “đến hẹn lại lên”. Chị khăng khăng giữ lời hứa dù là hứa với một đứa bé. Chị quý bạn bè và được bạn bè quý mến cũng vì cái chí tình ấy.

“Thôi chị Hà ơi,” tôi gọi cho chị và nói, “chị ở nhà đi, đừng có đi đâu nữa. Chị hãy lo mà bảo trọng, mùa dịch vẫn chưa qua hẳn đâu.” Tôi nói thêm khi chị vẫn ngần ngừ, “Đừng lên Seattle nữa. Xin chị không phải băn khoăn, không khi này thì khi khác, ngày còn rộng tháng còn dài mà, lo gì.”
Tôi đoán chị thở ra được một hơi nhẹ nhõm vì có người nói thay cho mình.

“Làm gì mà còn ngày rộng tháng dài,” chị cười. “Quỹ thời gian đã gần cạn, sức khỏe lại bết bát thế này thì hứa hẹn gì với ai được nữa.”
Rồi chị nói sơ về chứng bệnh của mình. Để trấn an chị, tôi nói chị không phải lo lắng gì nhiều vì chứng này khá phổ biến. Nhiều người cứ bước chân đến bệnh viện, phòng mạch là số đo huyết áp lại tăng cao, về nhà thì chẳng có chuyện gì. Các bác sĩ gọi đấy là hội chứng “white coat hypertension”.

Tôi tìm đọc chị trong những ngày chị nằm im lìm trên giường bệnh. Chị viết về mọi đề tài, mọi góc cạnh, ngóc ngách của đời sống. Chị viết về cái tốt lẫn cái xấu, trong lúc vẫn tìm kiếm và tìm cho bằng được cái tốt trong mỗi con người. Chị khiến người đọc cảm thấy cuộc sống dù có thế nào đi nữa vẫn cứ đáng yêu, đáng sống.
Tôi đọc, vẫn cảm thấy như chưa bao giờ “đọc” hết, hiểu hết được về chị. Chị sâu sắc, chị tinh tế. Ánh mắt chị trông hiền hòa mà cái nhìn thì xoáy sâu như đọc hết được những ý nghĩ trong đầu người khác.

Văn chị êm ả, nhẹ nhàng. Nụ cười chị cũng nhẹ nhàng, và giọng nói chị dịu dàng, mềm mại, lúc nào cũng gượng nhẹ tựa như giọng cô y tá nói với người bệnh. Tôi vẫn gọi đùa giọng chị là giọng “gây mê” hay giọng “thì thầm bên gối”.
Chị được nhiều người yêu, nhiều người ghét, như thể cuộc sống vốn là vậy. Chị nghĩ cho người khác nhiều hơn cho mình và dễ dàng chia sẻ những cảnh ngộ trái ngang, những phận người đen bạc, như thể cuộc đời chị buồn nhiều hơn vui.
 
Nhớ có lần tôi xúi chị Hà, “Chị viết tự truyện đi. Nhiều người muốn đọc chị lắm.”
“Không ai thích đọc những câu chuyện buồn,” chị nói. “Nếu không mang đến được niềm vui cho người khác thì cũng chẳng nên gieo rắc nỗi buồn.”
Chị Hà là vậy, là nén chặt nỗi đau, là giấu kín nỗi buồn.

Trong một email gửi tôi gần đây nhất, chị nói muốn tìm đọc hai truyện cổ tích, Hồ Thùy Dương của Doãn Quốc Sỹ và Con Chồn Tinh Quái của Linh Bảo, hai tên truyện mà tôi nhắc đến trong cuộc chuyện trò giữa anh em chúng tôi về hai nhà văn tên tuổi này. Tôi gửi chị cái link để vào đọc trong một trang web và nói, “Những truyện ấy không chỉ là chuyện cổ tích; hoặc, là những chuyện cổ tích cho cả trẻ em và người lớn.” Có ai ngờ đến tuổi này chị lại muốn tìm về những “ngày xửa, ngày xưa” êm đềm trong khu vườn cổ tích.
Đọc chị, tôi đặc biệt yêu thích những bài chị viết về Huế, là địa danh mà một phần đời của chị còn gửi lại nơi chốn ấy, về người mẹ một đời nhục nhằn, tần tảo vì con, và về cái chết. Chị viết về Huế, về Mẹ bao giờ cũng với tình yêu xót xa, buồn bã, đọc muốn chảy nước mắt. Chị viết về cái chết, thường là của những người thân yêu, bao giờ cũng mang một triết lý bàng bạc.

Có một câu hát trong bài nhạc nào đó chị rất thích và thường trích dẫn, “Chết thật tình cờ, chết chẳng hẹn hò, nằm chết như mơ”. Có lẽ chị cũng mong được vậy, và chị đã được vậy… Buổi sáng, chị gửi ra một email vui vui cho nhóm bạn hữu với những câu nói đùa ý nhị. Buổi trưa, chị đã nằm im lìm trong nhà thương, và từ đó chị chìm sâu vào giấc ngủ thật dài. Không phải “thật tình cờ”, không phải “chẳng hẹn hò”, không phải “nằm chết như mơ” sao?

Có một câu nói của chị tôi rất thích và muốn đưa vào đây, “Khi trái tim chúng ta đầy chật thương yêu, không một thứ gì khác có thể len vào được nữa.”(1)
Câu ấy có thể gọi là “danh ngôn” của chị. Chị đã sống như thế, hay ít ra chị cũng đã muốn sống như thế, sống bằng trái tim đầy chật thương yêu.
Sau cùng, tuy chỉ được quen biết chị khoảng mười năm trở lại đây, tôi vẫn không thể không cám ơn chị đã cho tôi mối giao tình tốt đẹp; hơn thế nữa, mối đồng cảm sâu sắc của những lần chia sẻ và cả những lời chị nói ra hay viết xuống như nói giúp tôi điều gì đó tôi vẫn canh cánh bên lòng.
 
“Tôi biết rằng nhiều người trong chúng ta, kể cả tôi, cứ mỗi lần dự tang lễ tiễn đưa người thân yêu hay bạn bè, trong lòng luôn có chút hối tiếc về một điều gì đó thiếu sót chưa kịp bày tỏ, chưa kịp làm hay đã chểnh mảng không làm đối với người vừa nằm xuống, nay thì không còn cách nào sửa chữa hay cứu vãn được nữa.”(2)

Quả đúng như chị nói, trong đời tôi vẫn có lắm thiếu sót, có nhiều lầm lỗi. Trong số ấy có những lỗi lầm có thể sửa chữa được hay rút kinh nghiệm để làm cho tốt hơn về sau, thế nhưng thật không may là có những lỗi lầm chỉ đến có một lần, không còn có cơ hội nào để mà sửa chữa nữa đã khiến tôi phải ray rứt và hối tiếc mãi cho đến cuối đời.
Thật may là tôi không có điều gì hối tiếc hay băn khoăn chưa kịp nói với chị. Cũng như chị, giờ đây chị không còn phải băn khoăn về chỉ số huyết áp lên xuống bất thường hay về chuyến đi Seattle như một cuộc hẹn, một lời hứa mà chị đã không thực hiện được.
 
Chị Bùi Bích Hà, tôi biết chắc rằng chị không còn phải băn khoăn về bất cứ điều gì nữa. Tôi cũng biết chắc rằng chị ra đi thật thanh thản, nhẹ nhàng vì hơn bao giờ hết, đúng như chị nói, “Không một thứ gì khác có thể len vào được nữa.”
Lê Hữu
(1) “Tại sao?”, tùy bút Bùi Bích Hà(2) “Đi qua đời nhau”, tùy bút Bùi Bích Hà
 
    Diệu Nương sưu tầm và tổng hợp    
Xem thêm...

Bác sĩ, nhạc sĩ Vũ Minh Đức - Heart to heart

 Bác sĩ, nhạc sĩ Vũ Minh Đức - người “hiểu về trái tim” 

  SÀI GÒN SẼ LẠI VUI THÔI MÀ! (Nhạc sĩ Minh Đức) | Tác giả hát  

BPO - Tốt nghiệp Đại học Y khoa năm 1995, giành học bổng y khoa tại Paris (Pháp) năm 2000, bác sĩ Vũ Minh Đức (Phòng khám Goldencare, quận 7, TP. Sài Gòn) là một trong những người tiên phong về kỹ thuật chụp và nong động mạch vành tại Việt Nam. Anh còn là cái tên quen thuộc trong làng nhạc qua những bài hát về tình yêu, quê hương, lòng nhân ái, thiếu nhi và là tác giả cuốn sách “Sài Gòn chữ vội trên vai”, “Thư gửi con - bao giờ cho hết yêu thương”...

Năm 1998, bác sĩ Vũ Minh Đức về công tác tại Bệnh viện Thống Nhất (TP. Sài Gòn). 2 năm sau, anh nhận học bổng ở Pháp về chuyên ngành tim mạch - kỹ thuật chụp và nong động mạch vành (một kỹ thuật rất mới đã cứu sống nhiều bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp). Sau gần 10 năm gắn bó với kỹ thuật này, bác sĩ Vũ Minh Đức đã chuyển sang làm công tác quản lý và trải nghiệm môi trường y tế tư nhân với mong muốn mang lại cho bệnh nhân những dịch vụ y tế chất lượng và tiện ích nhất.

 “Trẻ con bây giờ lớn vội, cánh diều biết có còn không?” 

Thông qua tác phẩm âm nhạc, bài tản văn nhẹ nhàng, sâu lắng được khán giả, bạn đọc yêu thích, bác sĩ Vũ Minh Đức đã truyền đi những thông điệp sống rất ý nghĩa, nhân văn. Giai điệu da diết, tiếc nuối trong bài hát “Cánh diều còn không” đã khiến không ít người nghe nhạc thổn thức với câu hỏi: “Trẻ con bây giờ lớn vội/ Cánh diều biết có còn không?”. Không chỉ hoài niệm về cánh diều tuổi thơ, lời bài hát “Cánh diều còn không” còn nhắc các bạn trẻ về lối sống gấp, sống vội và trải nghiệm cuộc sống thiếu sâu sắc dẫn đến hời hợt với những gì đang xảy ra xung quanh mình.

Bác sĩ, nhạc sĩ Vũ Minh Đức tập bài hát cùng ca sĩ nhí Khai Xuân

Hay 30 tản văn của anh Đức trong cuốn “Sài Gòn chữ vội trên vai” chứa đựng nhiều “bài học chưa thuộc” mà ai cũng có thể tìm thấy mình trong đó. Đọc “Sài Gòn chữ vội trên vai” sẽ thấy anh rất giỏi giải tỏa cảm xúc của những người luôn thấy mình bận rộn, áp lực, thậm chí căng thẳng. Anh Đức cho rằng: Cuộc sống hiện đại với những guồng quay hối hả đã cuốn nhiều người phải chạy theo mà quên đi nhu cầu sâu thẳm của bản thân. Thông qua những tác phẩm, tác giả muốn nhắn nhủ với mọi người giữa cuộc sống bộn bề hãy dành thời gian lắng lòng, tận hưởng những thú vị của cuộc sống và mở lòng chia sẻ với xung quanh. Hãy nghe một tiếng rao, hãy nhìn cụ bà têm trầu hay thử một lần trú mưa... để thấy rằng trong những điều bình dị, giản đơn ấy nhiều bài học mà nhịp sống quá nhanh khiến người ta khó cảm nhận được. Và qua đó mỗi cá nhân tự điều chỉnh cuộc sống phù hợp để hạnh phúc hơn.

    Heart to heart - từ trái tim đến trái tim    

Bác sĩ Vũ Minh Đức cho rằng, một trái tim khỏe mạnh là một trái tim khỏe về thể chất và khí chất. Một trái tim khỏe về thể chất được rèn luyện bằng thể dục thể thao điều độ, chế độ ăn uống lành mạnh, chế độ làm việc và nghỉ ngơi cân đối. Một trái tim khỏe về khí chất là một trái tim bao dung, lạc quan, biết yêu thương, sẻ chia.

Ngoài chăm sóc sức khỏe bản thân, bác sĩ Vũ Minh Đức đã kết nối thành công nhiều trái tim nhân ái để chung tay giúp đỡ cộng đồng. Với nhuận bút từ âm nhạc và văn chương, anh đã xây dựng Quỹ Chắp cánh ước mơ giúp học sinh hoàn cảnh khó khăn đến trường.

   Tôi mong muốn những học sinh nghèo học giỏi được Quỹ Chắp cánh ước mơ hỗ trợ, sau này lớn lên sẽ cùng cộng đồng xây dựng quỹ để giúp những em khác.  Đó là những học sinh đậu đại học nhưng không có tiền đi học, sinh viên ngành y khó khăn, những bạn trẻ dân tộc thiểu số nghèo dang dở ước mơ… Đến nay, quỹ đã hỗ trợ hơn 50 trường hợp bằng lòng yêu thương, sự tự giác, biết hy sinh và minh bạch. Quỹ sẽ đồng hành suốt nhiều năm đại học cho đến khi các em thành tài và trở thành thành viên của quỹ tiếp tục giúp đỡ thế hệ sau. Thời gian tới, tôi sẽ duy trì những hoạt động gây quỹ như phát hành thêm sách viết về hạnh phúc gia đình, tổ chức đêm nhạc... thu hút nhiều tổ chức và cá nhân chung tay ủng hộ quỹ. Đồng thời đưa Quỹ Chắp cánh ước mơ đến nhiều nơi, nhất là Bình Phước để tiếp sức những học sinh, sinh viên nghèo học giỏi trên địa bàn tỉnh.

  Bác sĩ, nhạc sĩ Vũ Minh Đức

Gặp bác sĩ, nhạc sĩ Vũ Minh Đức mới cảm nhận hết đây là con người đa tài. Vừa là bác sĩ, nhạc sĩ, nhà văn và ở lĩnh vực nào anh cũng gặt hái nhiều thành công rất nổi bật. Bác sĩ Vũ Minh Đức cho rằng, thành công nhất của mình chính là anh đã gác được sự bộn bề của cuộc sống sang một bên để sống cuộc đời nhẹ nhàng, tinh tế, ý nghĩa. Đặc biệt, chính trái tim khỏe về thể chất lẫn khí chất và tâm hồn nghệ sĩ, nhân văn, sự đồng cảm, giàu năng lượng tích cực đã giúp anh thành công trên các lĩnh vực y học, âm nhạc, văn học nói riêng và cuộc sống nói chung.

 Bác sĩ, nhạc sĩ Vũ Minh Đức: “Giá trị con người nằm ở những gì biết cho đi” 

Mặc dù khá bận rộn với công việc tại phòng khám của mình, nhưng bác sĩ – nhạc sĩ Vũ Minh Đức luôn là người truyền năng lượng đến mọi người thông qua những hoạt động của anh đến với cộng đồng. Bên cạnh vai trò là một bác sĩ, anh đến với âm nhạc bằng năng khiếu và niềm đam mê từ nhỏ. Đó là niềm vui đồng thời là nhịp cầu để anh kết nối những tâm hồn đồng điệu cùng chung tay thực hiện những hoạt động xã hội vô cùng ý nghĩa.
Bác sĩ – nhạc sĩ Vũ Minh Đức
PV: Bên cạnh công việc tại phòng khám, thì gần đây anh đã tham gia hoặc thực hiện những chương trình văn nghệ nào?
Vũ Minh Đức: Hai đêm nhạc “Mùi quê nhà” vào ngày 23 và 24-10 diễn ra tại phòng trà Người Sài Gòn nhằm gây quỹ “Chắp cánh ước mơ” hỗ trợ các sinh viên giỏi, các tài năng Việt có hoàn cảnh khó khăn, với tổng số tiền gần 140 triệu. Đồng thời, ca khúc mới nhất của tôi được trình làng phục vụ khán giả trong chương trình. Đây là ca khúc như một thước phim đời người từ lúc bé thơ đến khi trưởng thành cùng những “được – mất” với thông điệp hãy yêu quý và trân trọng những gì thuộc về gia đình – quê hương – thầy cô – bè bạn. Và đêm 25-11 vừa qua đêm nhạc “Miền Trung sâu nặng nghĩa tình” tại phòng trà We (số 8, Lê Quý Đôn, P6, Q3, TP SaiGon) đã thành công ngoài mong đợi nhằm gây quỹ ủng hộ đồng bào miền Trung khắc phục những khó khăn sau bão lũ.
Bác sĩ – nhạc sĩ Vũ Minh Đức (ở giữa) trong đêm nhạc “Mùi quê nhà”
PV:  Là một bác sĩ có uy tín và đã có những thành công trong lĩnh vực y học, anh lại được biết đến qua vai trò nhạc sĩ, ca sĩ, và có khi là nhà văn. Vậy khi nhỏ anh bộc lộ năng khiếu ở lĩnh vực nào trước, ước mơ khi nhỏ của anh là gì?
Vũ Minh Đức: Khi còn nhỏ tôi mơ ước sau này sẽ thành một thầy giáo hoặc bác sĩ làm tốt công việc của mình, rồi thỉnh thoảng hát cho học sinh hay bệnh nhân của mình nghe. Tôi học chuyên Toán từ lớp 5 đến lớp 12, môn Toán là môn tôi mê nhất. Nhưng từ năm lớp 9, tôi cảm nhận mình yêu thích và có năng khiếu về Văn nên cũng yêu môn này không thua gì môn Toán.
PV: Sau khi xong THPT, anh quyết định theo ngành y hay có do dự và suy tính gì không? Gia đình đã ủng hộ anh như thế nào?
Vũ Minh Đức: Thời đó được thi nhiều trường đại học nhưng tôi chỉ thi đúng một trường. Tôi chọn ngành y và không do dự. Lúc đó, anh và chị ruột của tôi đang là sinh viên y khoa nên tôi càng thêm hào hứng và tự tin. Ba mẹ và cả nhà ủng hộ tôi.
“Ba tôi từng ước mơ sẽ mở một bệnh viện hay phòng khám cho mấy anh chị em tôi làm chung, mỗi người một chuyên khoa” – Bác sĩ – nhạc sĩ Vũ Minh Đức chia sẻ. 
PV: Còn năng khiếu âm nhạc anh có thừa hưởng từ ai trong gia đình của anh không?
Vũ Minh Đức: Cả ba và mẹ tôi là những người yêu văn nghệ, hát rất hay. Ba mẹ đã cho chúng tôi nghe nhạc từ khi còn bé, toàn nhạc hay. Tất cả anh chị em trong nhà đều hát hay, biết đàn. Hồi đó, thỉnh thoảng ba tôi còn thu âm băng cassette cho cả mấy anh chị em, đến nay tôi còn lưu giữ đã gần 40 năm.
PV: Anh đã bắt đầu với việc viết lách và ra sách từ khi nào?
Vũ Minh Đức: Tôi viết khi có cảm hứng hoặc khi cần gửi một thông điệp gì đó đến mọi người và thường tôi viết tản văn. Năm 2016 tôi chọn lọc và biên tập lại những tản văn mình đã viết để phát hành quyển sách đầu tiên: tản văn “Sài Gòn chữ vội trên vai” (NXB Văn hoá Văn nghệ). Đây là món quà tinh thần gửi đến mọi người trong thời @ cần sống chậm lại một chút.
“30 tản văn trong “Sài Gòn chữ vội trên vai” là 30 thông điệp cho 30 ngày của một tháng để ít nhiều mọi người có những thay đổi bản thân” – Bác sĩ –nhạc sĩ Vũ Minh Đức chia sẻ
PV: Quyển sách tiếp theo anh xuất bản là quyển sách nào? 
Vũ Minh ĐứcNăm 2018, NXB Văn hóa Văn nghệ phát hành quyển thứ hai của tôi: “Thư gửi con – Bao giờ cho hết yêu thương?”. Đây là những lá thư của ba mẹ gửi cho các con tuổi teen như một cách để tâm sự, trao đổi, bày tỏ yêu thương có lồng ghép giáo dục một cách tự nhiên, nhẹ nhàng, phù hợp tâm lý tuổi đang lớn. Tôi muốn mọi người nghĩ về văn hoá viết thư cũng là một cầu nối gắn kết yêu thương trong gia đình, xã hội mà lâu nay bị lãng quên. Tôi đang chuẩn bị cho việc phát hành quyển thứ 3 vào năm 2021.
Bác sĩ – nhạc sĩ Vũ Minh Đức (thứ ba từ trái sang) trong buổi giao lưu, giới thiệu sách “Thư gửi con – Bao giờ cho hết yêu thương?”
PV: Ở lĩnh vực âm nhạc, ca khúc đầu tiên anh sáng tác là ca khúc nào?
Vũ Minh Đức: Đó là ca khúc “Cỏ xưa”, tôi viết về mối tình không thành thời sinh viên y khoa, chỉ mong một ngày nào đó người ta nghe được và nhận ra mình trong đó.
“Trong các sáng tác của tôi 80% là những bài tình ca viết về tình yêu, còn lại là những bài hát về gia đình, cha mẹ, quê hương và những bài hát thiếu nhi” – Bác sĩ – nhạc sĩ Vũ Minh Đức chia sẻ
PV: Động lực nào để anh sáng tác những ca khúc dành cho thiếu nhi?
Vũ Minh Đức: Vì tôi trưởng thành từ phong trào âm nhạc khi còn là thiếu nhi. Tôi từng sinh hoạt tại Nhà thiếu nhi Đồng Nai những năm 1984 đến 1986 và thực tế khi đó ca khúc về thiếu nhi rất ít. Sau này, khi tôi có con, tôi nắm bắt tâm lý của con mình và cũng tiếp xúc nhiều với trẻ thơ tôi đã sáng tác nhiều ca khúc dành cho thiếu nhi.
Cùng tạo kiểu “siêu cute”  với các “ca sĩ nhí” trước khi các ca sĩ thu âm
PV: Gia đình nhỏ của anh cũng nguồn cảm hứng để anh thăng hoa trong sáng tác?
Vũ Minh Đức: Gia đình không chỉ là nguồn cảm hứng mà còn là động lực để tôi phấn đấu trong mỗi lĩnh vực mình đang theo đuổi. Gia đình nhỏ của tôi có 4 thành viên. Hai con của chúng tôi ngoan, học tốt, có năng khiếu âm nhạc và cũng tham gia nhiều hoạt động thiện nguyện rất thực tế, ý nghĩa. Với tôi, cuộc sống như vậy là hạnh phúc.
“Tôi luôn muốn mình là một bằng chứng sống làm những điều tích cực, lan toả những việc làm ý nghĩa để định hướng các con làm người tốt” – Bác sĩ – nhạc sĩ Vũ Minh Đức chia sẻ
PV: Anh chia sẻ về cách sắp xếp công việc để luôn giữ cho mình luôn có nguồn năng lượng dồi dào như thế:
Vũ Minh Đức: Một bí quyết lớn là hãy xem công việc là niềm vui, là phương tiện để bạn cân bằng chính mình và lớn khôn thêm. Thay vào những phút giây than vãn là việc nở nụ cười, bắt tay vào làm bằng trách nhiệm và đam mê.
“Đừng quên một điều vô cùng quan trọng để bạn có thể đi đường dài: Một tinh thần khoẻ mạnh trong một cơ thể cường tráng” – Bác sĩ – nhạc sĩ Vũ Minh Đức chia sẻ
PV: Xin anh chia sẻ cụ thể hơn về quỹ “Chắp cánh ước mơ”
Vũ Minh Đức: Quỹ “Chắp cánh ước mơ” là quỹ hỗ trợ những học sinh, sinh viên giỏi, những tài năng Việt có hoàn cảnh khó khăn. Chúng tôi hướng đến những nhân tài sau này có thể giúp được nhiều cho cộng đồng, xã hội. Các em đang nhận học bổng này là các sinh viên y khoa cả 3 miền Bắc – Trung – Nam; bác sĩ nội trú chuyên ngành ung bướu, các sinh viên dân tộc thiểu số đậu đại học; các em học sinh giỏi cấp tỉnh, quốc gia; các tài năng âm nhạc,… Và điều đặc biệt là chúng tôi trao học bổng, đồng hành cùng các em nhiều năm liền cho đến khi các em tốt nghiệp ra trường có công việc làm chứ không phải chỉ trao một học bổng mang tính hình thức. Và chúng tôi cũng kỳ vọng sau này các em lại trở thành những nhân tố như chúng tôi để xây dựng quỹ “Chắp cánh ước mơ” ngày càng lớn mạnh hơn.
Các nhân vật đã từng nhận học bổng từ quỹ “Chắp cánh ước mơ”
Nguồn quỹ có được từ đóng góp của các mạnh thường quân, các anh chị em cùng tâm nguyện và từ những hoạt động định kỳ của quỹ: triển lãm tranh, những đêm nhạc bán vé, hoặc thu nhập có được từ việc bán sách, phát hành album nhạc, tác quyền âm nhạc từ VCPMC, kênh youtube cá nhân ,… tôi đều đưa vào quỹ này. Bởi theo tôi giá trị con người nằm ở những gì biết cho đi.
Bác sĩ – nhạc sĩ Vũ Minh Đức chia sẻ
PV: Xin cảm ơn anh đã dành cho chúng tôi buổi phỏng vấn ngày hôm nay.
 
Thực hiện: Nguyễn Như Quân, Lâm Hữu Tặng
(Ảnh nhân vật cung cấp)
  Album Tình khúc Minh Đức . Vol 6 | 20 NĂM VIẾT TÌNH CA [Official]  



Liên khúc Minh Đức
  - BAO GIỜ CHO HẾT YÊU THƯƠNG  
(Duy Long . Duy Hưng . JB Thanh Hưng . Lê Minh Đức)

 

             Cánh Diều Còn Không - Trọng Bắc            

 

     ĐÊM VẮNG MẸ     

- Bác sĩ Anh Quốc | Bác sĩ Minh Đức [Studio Video]

 

    CỎ XƯA (Nhạc sĩ Minh Đức) | Nguyễn Quang    


 TUẤN NGỌC - CÓ LẼ VÌ (Nhạc sĩ Minh Đức) 

 
     Kim Phượng sưu tầm và tổng hợp     
 

 

Xem thêm...

“người nẫu ” viết về “người Huế”-Võ Phiến(đi xa rồi !)

“người nẫu ” viết về “người Huế”

 Võ Phiến (đi xa rồi !)

******

Phút thư giản mùa ôn dịch

https://donghuongkontum.files.wordpress.com/2021/07/vocc83-phiecc82cc81n-1.jpg

Người nẫu Võ Phiến

Nước Đại Việt, phong thổ khí hậu, đại ước khí âm thịnh, khí dương suy. Nghiệm chứng : muôn vật phát sinh về thu đông, làm việc dùng ban đêm, con trai thông minh không bằng con gái (1).Cái “nước Đại Việt” , của ông hòa thượng Thích Đại Sán thật ra là xứ Huế đó. Vị tu sĩ Trung-hoa này sang « Đại Việt » một năm rưỡi, ngoài bốn tháng vào Hội-an mang bệnh nằm khoèo, hầu hết thời gian còn lại đều ở Huế.

Và điều ông ta viết về xứ Huế trên đây, ai nấy tha hồ mim cười, vì nó thật ngộ nghĩnh. Nhận định đã ngộ: âm thịnh dương suy ? Nghiệm chứng cũng ngộ nữa: « Làm việc dùng ban đêm. (Làm việc gì cũng vậy cả sao ? Lẽ nào ? Chắc hòa thượng chů ý nói riêng một vài việc nào đó thôi chứ !) « Con trai thông minh không bằng con gái » (Liệu hòa thượng biết được bao nhiêu về gái Huế mà nói nghe chắc nịch, rành rẽ quá vậy ?)Cười hòa thượng thì tha hồ cười, tuy nhiên nhận xét của khách phương xa ấy dường như cũng không phải là hoàn toàn vô căn cứ đâu. Dường như cái giọng Huế có thể giúp cho ông ta một « nghiệm chứng nữa: một giọng nói có âm vực hẹp, nghe ngọt ngào, dịu dàng, uyển chuyền, không thể oai dũng (2), một giọng nói đầy âm tính. Và nếu vui tươi, phan phát, nhanh nhẹn v.v… là thuộc tính của dương, thì những điệu hò điệu hát lững lờ, buồn thảm, chùng chình, chậm chạp, kéo dài lê thê của Huế (2) cũng có thể nói chứa nặng âm chất.Nhưng chuyện âm dương khí hóa là các sở trường của một người Tàu ba trăm năm truớc. Chúng ta ngày nay, dù nghĩ về giọng Huế hay người Huế, thiết tuởng cũng không nên dừng lại quá lâu ở vấn đề âm dương ấy.

 

Giọng Huế dịu dàng, hò Huế nghe thê thiết : có nhiều cách giải thích.Có cách giải thích của các nhà nhạc học, bằng sự truy tầm nguồn gốc xa xôi của một cung điệu, như Trần văn Khê và Phạm Duy đã làm: « Âm giai hò mái đẩy là yếu tố còn sót lại của một hệ thống âm nhạc độc đáo phổ biến trên đất Việt, truớc khi người Việt chấp nhận hệ thống âm giai ngũ cung của nhạc Trung hoa » (…) « Tiếng hát (của Hò mái đẩy hay Hò mái nhì) xây dựng trên một hệ thống âm giai Ấn-độ, mẹ đẻ của âm nhạc Chàm, vì những cung bực lơ lớ mà thể hiện ra được sự thầm bí của cõi lòng, và vì vậy mà đi sâu vào tâm hồn chúng ta hơn nhạc miền Bắc. (1)

Có cách giải thích bằng hình thể sông núi, bằng cảnh trí địa phương, như Nguyễn xuân Khoát và Thanh Tịnh đã làm « Cũng một điệu hò chèo thuyền nghe ở một khoảng phá hay ở một khúc sông là đã khác nhau : giọng hò lan dài rộng trên mặt phá, nghe thanh thoát hơn giọng hò vẳng trên sông: giọng hò trên sông nghe « mùi hơn, gần gũi hơn. Làng nào ở khúc sông, hay khoảng phá hẹp, giọng hò của người làng này nghe ngắn và trong; ở khúc sông hay khoảng phá rộng, giọng hò nghe trầm và mạnh ».(2)

Có cách giải thích bằng sinh hoạt địa phương: Điệu hò khoan thai vì điệu sống bình thản. (3)

Có cách giải thích giọng Huế bằng người Huế: giọng nói giọng hát biều hiện tâm tình, người nào giọng ấy v.v…

Lướt qua các lời giải thích trên, lời thứ nhất quá chuyên môn, kẻ phàm tục nên tránh xa: Tại sao âm giai Ấn độ chọn một vùng Trị Thiên con con mà không chọn nơi khác để đánh rơi lại những cung bực lơ lớ ? Ai mà hiểu?

Lối thứ hai quá xa vời : Con sông Hương có tiếng lững lờ thật. Nhưng còn những sông Bồ, sông Thu v.v… đều thế chăng ? đều khác biệt với sông ngòi trong Nam ngoài Bắc cả chăng ? Người thiếu phụ ru con giữa đêm khuya trên chiếc võng trong gian nhà chật hẹp, giọng ru cũng chịu ảnh hưởng của giòng nước lững lờ các con sông chăng ?Rốt cuộc, kẻ phàm tục đành lắc đầu trước những cái hóc búa, và quay về với những điều gần gủi giản dị hơn : vài nét đặc biệt trong tính tình và sinh hoạt của người địa phương.

o0o

Sự sinh hoạt ở Huế không giống ở các nơi khác khắp miền Trung. Hồi cuối thế kỷ thứ XVII, vẫn theo lời Thích Đại Sán, « trong nuớc dân rất khổ, đất ruộng ít ỏi, lúa chẳng đủ ăn. Dân thời trước một dãi Thuận hóa Hội an đều sống nhờ lúa của các hạt khác. Thổ âm gọi « phạn là « cơm », kiếm đủ cơm ăn không phải chuyện dễ… » (4)

« Trong nước dân rất khổ », cái « nước mà hòa thượng nói đó là « một dãi Thuận hóa Hội an “, hay chẳng qua là một vùng xung quanh Huế. (Bởi vì « các hạt khác đã thừa lúa đưa đến nuôi sống vùng này thì đâu có « đất ruộng ít ỏi ” ).

Sau Thích Đại Sán ba thế kỷ, nhà văn Phan Nhật Nam than rằng giặc đánh chỗ nào trên đất nước cũng chết người dân Trị Thiên cả (3) : nói cách khác, là dân Trị Thiên tản mác đi làm ăn khắp nơi. Một nhà văn khác, cũng người Huế, là Hoàng Ngọc Tuấn, viết: « Bà ngoại tôi có thông lệ rải con cái khắp các tỉnh trên toàn lãnh thổ » (1).

Thông lệ ấy chắc chắn có liên hệ với cái tình trạng đất ruộng ít ỏi. Đã vậy, Huế cũng không phải là nơi để kinh doanh buôn bán. Sàigòn, Nha trang, Qui nhơn, Đà-nẵng v.v… mỗi năm mỗi khác ; đường mới, phố mới, nhà mới mọc thêm lung tung… Nhưng kẻ xa Huế năm năm mười năm, ngày về thấy cảnh cũ vẫn còn nguyên, có thêm chăng là mấy ngôi trường, một khu bệnh viện, mấy cơ sở hành chánh, chứ hoạt động kinh tế yếu ớt không đủ sức làm thay đổi xáo trộn bộ mặt thành phố.

Cửa tiệm chỉ tập trung ở vài đường phố; còn lại là nhà ở. Không có đô thị nào mà « khu gia cư chiếm phần rộng lớn như vậy. Sống ở đây như là để nghỉ ngơi : mỗi nhà một khoảnh vườn, có cây có kiềng… Nhiều biệt thự quá: biệt thự nguy nga và biệt thự lụp sụp, biệt thự lợp ngói và biệt thự lợp tôn, biệt thự vách bê-tông và biệt thự vách phên tre v.v… Giữa phố thị mà giàu nghèo đều đuợc hưởng thú ẩn dật trong khung cảnh tĩnh mich. Cuộc sống « bình thản là vậy đó chăng ?

Như thế, bình thản là do thiếu hoạt động. Đây không phải là nơi đến để làm ăn, dù là làm ruộng, hay làm thợ, hay bán buôn. Đây là đất “thần kinh”, là chỗ đặt triều đình trong nhiều thế kỷ, là cứ điểm của bộ máy cai trị đông đảo nhất nước thời trước. Bộ máy khổng lồ ấy dung nạp từ những nhân tài học rộng tài cao giữ các địa vị rường cột quốc gia cho đến những tùy phái, lao công, những ông đội, thầy cai…, nó nuôi sống một giới khá lớn trong thời thịnh phát của nó.Và dĩ nhiên, nó cũng ghi lại it nhiều nét riêng trọng nếp sống, trong tính người. Sao cho khỏi ?

o0o

Người nông dân khác người thư lại.

Trên các cánh đồng Nam Ngãi Bình-Phú Khánh-Thuận, nông phu lam lũ vất vả. Có vài danh từ quen thuộc để mô tả dân quê : cục mịch, chất phác. Không phải không có lý do : sự láu lỉnh ranh mãnh hay lời nói khôn khéo ngọt ngào đều vô ích đối với khoai, lúa. Muốn hoa màu được tốt, chỉ cần có công phu chăm sóc hì hục.

Trái lại, người buôn bán không thể không lém lỉnh, người thư lại không khéo léo khó tiến thân. Làm quan phải có chữ nghĩa đã đành, nhưng còn phải biết giao thiệp. Biết ăn chơi chút ít: nghe hát, đánh bài…, biết rượu trà chút ít, biết lựa lời cho đẹp lòng cấp trên vui lòng cấp dưới; biết thuật đàm đạo ở những chỗ hội họp bạn bè, biết cách yến tiệc đãi đẳng để kết giao v.v… Do sự đòi hỏi của nghề nghiệp, xã hội thư lại phải chăm sóc cái ăn, cái mặc, lời ăn tiếng nói, trau dồi nghệ thuật xử thế… Về cái ăn, Huế dồi dào nhất miền Trung. Mâm cơm Huế trông cảnh vẻ, mỗi món một chút, nhưng thật nhiều món, nhiều màu sắc. Chất liệu có thể nghèo nàn nhưng món ăn thật phong phú. Người đàn bà Huế sau này được rải khắp toàn lãnh thổ » ở các miền nam Trung Việt và Cao nguyên họ toàn làm chủ những quán ăn ngon nhất, truyền dạy các món ăn được ưa chuộng: tré, nem ( nem Ninh hòa, nem Tuy phước cùng một vị và chắc cùng làm theo một cách thức của nem Huế ), bún bò v.v…Về cái mặc, tục ngữ còn xếp hạng Huế trên xứ Bắc : « Ăn Bắc mặc Kinh “. Có lẽ câu nầy ra đời vào thời kỳ mà triều đinh Huế với các đại thần, mệnh phụ, các vương tôn công tử còn giữ vai trò hướng dẫn kiểu thức trang phục cho cả nước.

https://donghuongkontum.files.wordpress.com/2021/07/bacc81n-dacca3cc82u-hucc89-huecc82cc811.jpg

Thời ấy qua rồi; nhưng cho đến ngày nay trông áo quần ở Huế vẫn trang trọng hơn ở các nơi: Không một người đàn bà Huế nào – hoặc gánh hàng rong bán dạo, hoặc ngồi ở đầu chợ v.v…-mà chịu bằng lòng với cái áo bà ba chẳng hạn. Dù sờn dù rách, ra khỏi nhà họ vẫn giữ chiếc áo dài.

Và khắp miền Trung thời xưa có lẽ cũng chỉ có ở Huế việc làm đẹp của người đàn bà mới đuợc đưa xa hơn chuyện áo quần. Ở Huế có thứ phấn nụ : đây có phải là thứ mỹ phẩm cổ truyền duy nhất sản xuất ở xứ ta mà các hàng Âu Mỹ nhập cảng vẫn chưa giết chết chăng ? Ở Huế, có những người đàn bà cao tuổi, rất cao, vẫn đánh phấn bôi son hàng ngày: cũng là trường hợp duy nhất ở miền Trung nữa chăng ? Cũng lại ở Huế, nghề kim hoàn đạt đến mức tinh xảo nhất. Khi được “rải khắp toàn lãnh thổ “, người đàn ông Huế đến làm ăn tại nam Trung Việt và Cao nguyên đều làm chủ những tiệm vàng, tiệm nữ trang : dân địa phương đâu dám dại dột mon men cạnh tranh với họ trên lãnh vực này!

Cái ăn cái mặc như thế, còn về lời nói ?

– Dân ta có một nguyên tắc về sự khôn ngoan trong lời ăn tiếng nói : « Chim khôn hót tiếng rảnh rang, Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe.» Trong xã hội thư lại xưa kia, nghề nghiệp bắt buộc phải khôn. Gì chứ “ dịu dàng » thì người Huế ăn đứt: lời nói dịu, giọng nói càng dịu. Họ còn đi xa hơn sự dịu dàng một bậc nữa : họ nhỏ nhẹ, (theo cách phát âm địa phương là « dỏ dẹ ».) Trong con mắt những người nông dân, cục mịch khắp các tỉnh khác của miền Trung, người Hue tiêu biểu là đúc kết của sự thanh tú: Hinh vóc månh mai, nói năng nhỏ nhẹ. Một hình ảnh như thế, thật không có gì khác lạ với người nông dân hơn.

Đây, một người dân quê tỉnh khác nói về sắc diện một người đàn bà Huế : «Chèn ơi, cô có bà má chồng thiệt ngộ mà lâu nay giấu tui há. Bã già mà còn diện đẹp mê hồn vậy đó (…) Đôi môi thoa son đỏ chét, má dồi phấn trắng chạch y chen mấy cô đào thương của ông « Bang Bạnh » (1)

Và đây là người đàn bà Huế nói về ngôn ngữ của dân quê tỉnh khác : « Cũng thì chửi, mà xứ tui họ chưởi dễ dàng như ca hát, họ chưởi thanh tao, có mô mà tục tằn, hàm hồ hàm Chứa như con mụ nó. »

Chưởi dễ dàng còn như ca hát, huống hồ nói dỏ dẹ thì êm tai biết bao. Do đó mà có một thành kiến về người Hue. Vì lời nói êm tai có thể khiến ta nuốt trôi những điều cay dắng mà không kịp nhận ra, có thể khiến ta chấp thuận những điều thiệt thòi mà khi nghĩ ra thì đã muộn, lời nói dễ nghe có thể là thuốc đắng bọc đường.

Về phía phụ nữ, lời nói dễ nghe tăng thêm mức quyển rũ. Học trò trong Quảng ra thi > mới trông thấy hình dáng đã mê rồi, nghe nói năng càng quýnh lên. Cho nên bảo : «Sơn bất cao, thủy bất thâm… Thực ra, cái khéo léo của dàn ông không nhất thiết phải là trí trá, còn cái ngọt ngào nào của đàn bà cũng cho là tình tứ cả thì có ngày hố to ! Đó chẳng qua là kết quả của một nề nếp sinh hoạt trong đó sự giao tế có vai trò quan trọng.

Nếu phục sức sơ sài hó hênh của người đi cấy đi cày bắt cua mo ốc được ca ngợi là nét hồn nhiên thì trong xã hội thư-lại sự ăn mặc cẩu thả có thể đua đến một thất bại nghề nghiệp. Nếu lời nói sống sượng của nông dân được ca ngợi là bộc trực chất phát, thì trong xã hội thư lại nó có thể làm hỏng một tuơng lai nghề nghiệp.

Do đó, hồn nhiên bộc trực v.v… là những cái cấm ky. Ở đây, cũng như ở mọi xã hội “ văn minh , ước lệ giao tế trấn áp các phản ứng tự nhiên. Ngưới đàn ông tập quên những cơn phẫn nộ, người đàn bà tập dằn nén tình cảm, dìm nó xuống thật sâu tận đáy lòng. Ai nấy tập luyện làm chủ lấy mình, khắc phục ức chế bản năng… « Bình thản » là vậy đó chăng ?Nếu thế bình thản chi là cái mặt ngoài. Nó che giấu những cơn sóng ngầm. Dấu sao, ở bề ngoài , người Huế sống thật chững chạc, khuôn phép. Họ chống lại những gì sôi nổi, vụt chạc, phiêu lưu. Người Huế có đánh bạc, thật nhiều, nhưng đánh nhỏ để giao thiệp, đề tiêu khiền thôi : không có lò sát phạt điên cuồng phu ở Đại thế giới trong Chợ-lớn độ nào. Trong năm ba năm gần đây, phong trào đánh số đề hoành hành điên đảo khắp miền Trung : đến đèo Hải vân nó dừng lại, cúi đầu. Người Huế không say mê, không mạo hiềm.

MÔ,TÊ,RĂNG…RỨA ? | ĐỒNG HƯƠNG KONTUM

Đó là phong thái của người cách mạng miền Trung đó sao ?Thực ra, miền Trung cách mạng lâu nay chỉ nổi tiếng ở hai vùng Nghệ Tịnh và Nam Ngãi. Còn Huế chỉ được chú ý từ vụ 63, một biến cố có nhiều màu sắc tôn giáo, mà dân Trị Thiên vẫn có một lực lượng Phật tử đông và ngoan.

Thế thường người thư lại không có thói quen chống đối, nồi giận. Có một thời người ta đặt ra cái « Liên đoàn công chức cách mạng»… Đó là một sự đùa giễu : Công chức với cách mạng là hai thứ kỵ nhau như nước với lửa. Một bên là tuân phục một bên là chống đối; một bên hòa mình vào mọi chế độ, một bên lật đổ chế độ đó.

Một người dân Hue phản kháng, tranh đấu, dữ dằn ? Hình ảnh ấy không có trong trí tưởng tượng của người miền Trung đâu; chỉ có hình ảnh ngưoi Hue thanh tú. Riêng ở người đàn bà nét thanh tú nọ có thề che giấu những tình cảm không ngờ. Lại một dip nhớ đến nhà sư Trung hoa : Âm là thu liễm vào bên trong. Tình cảm ẩn ức thu liễm vào, phải chăng đã ngấm qua những điệu hát buồn thê thiết, thấm thía tinh thần nhẫn nhục…

Con người thanh nhã, xứ sở hạnh phúc - huetourism.gov.vn

– Sao có thể nói về người Huế như về giới thư lại ?

Đâu phải ở Hue ai cũng làm quan ? Phong thái nhà quan ảnh hưởng đến kẻ ăn người ở trong nhà phong thái của vị đại thần ảnh hưởng đến kẻ hầu người hạ xung quanh. Từ đó, lan truyền đến gia đình quyến thuộc của họ, thẩm thấu khắp dân gian. Giới quan lại đã đông đảo, lại có địa vị then chốt trong cuộc sống địa phương, là mối hãnh diện của địa phương. Ảnh hưởng của nếp sống giới ấy là tự nhiên.Nhưng từ một thể kỷ, khi thực quyền cai trị đã về tay người Pháp, từ ba mươi năm nay, khi chế độ vua chúa đã chính thức cáo chung…

Huế mất cái đặc điểm nọ của một thời, Huế đang hòa đồng vào nếp sống chung của các tỉnh khác tại miền Trung. Phải, mấy nét cá tính kia đang tự xóa dần. Những nét mới đang thành hình. Những ghi nhận trên đây sắp lỗi thời. Và truớc khi lỗi thời, nó đã là những ghi nhận thiếu sót : Nó chỉ căn cứ ở một khía cạnh của cuộc sinh hoạt mà thôi. Đâu có thực tai nào giản dị đến thế ?

 

VÕ PHIẾN

 

**********

 

MÔ,TÊ,RĂNG…RỨA ?

Giọng nói, tiếng nói Huế

Ngọc Lan

 

 Tôi yêu áo dài Việt Nam
 
Huế! một địa danh vừa ngắn gọn, vừa thân thương.

Nói đến Huế, người ta sẽ liên tưởng đến một thành phố xa xôi với những ngày hè nắng chang chang thiêu đốt thịt da; những ngày đông mưa dầm dề, trắng trời thối đất; mưa rã rời, dai dẳng với cái lạnh cắt da.

Huế với điệu hò câu hát não nùng, buồn rười rượi, những khúc Nam Ai, Nam Bình, Hành Vân, Lưu Thủy, Tương Tư.. bềnh bồng trên sông nước khi chiều xuống, lúc đêm về.

Huế với dòng Hương Giang ‘ngọc tan thành nước’; với đỉnh Ngự ngỡ ngàng mây trắng thông reo; với lăng tẩm đến đài âm thầm cổ kính, với hoàng cung ‘năm thức mây phong nếp áo chầu’; với áo tía lọng vàng; với lầu son, gác phượng…

 

Huế với những món ăn thanh đạm, đậm đà mang nặng tình quê hương bát ngát…

Huế thật quyến rũ, thật đặc biệt, và rất chi là Huế.

Nhưng nổi bật và đặc thù hơn hết trong những thứ rất Huế, đó là: tiếng nói Huế.

 Chuyện dài ý tưởng nghệ thuật đột phá của “đỉnh cao trí tuệ loài người” về  cái nón Huế “mọc sừng” của nhà thiết kế Minh Hạnh ! | ĐỒNG HƯƠNG KONTUM

Tiếng nói Huế làm nhiều chàng trai tương tư, “ngớ ngẩn một trời thơ bay” và suốt đời chỉ mong đợi một phút giây nghe em nói:

Nghe em nói tự bao giờ,

Bao giờ chừ vẫn ngẩn ngơ lạ kỳ

Em ơi, giọng Huế có chi

Mà trong hoa nắng thầm thì cơn mưa

Nghe hoài nghe mãi chưa bưa,

Anh thương, thương quá tiếng xưa vọng về

hoakhoiquochochue3-819362-1372514404_500x0

.. .. .. .. .. .. .. .. .. ..

Nhiều khi như lạ như quen

Giữa mênh mông đọng giọt em ngọt ngào

.. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .

Xanh trong như tiếng chim chuyền

Nhìn em mái tóc che nghiêng mắt cười

Suốt đời giây phút này thôi

Lắng nghe em nói, một trời thơ bay

(Một Trời Thơ Bay, Lê Nhược Thủy)

Tiếng Huế nói ra rất lạ tai với những từ: chi, mô, răng, rứa, tê, chừ, ni, nớ, hỉ, hả… và giọng nói Huế cũng rất khó nghe, dễ gây bối rối ở những người bạn đồng hương Việt Nam từ các tỉnh thành khác. Có thể vì vậy mà chàng Lê Nhược Thủy này sinh ra ngớ ngẩn rồi tương tư cô nàng? Hay vì cô em quá đẹp đã hớp hồn chàng? Nhưng có lẽ Lê Nhược Thủy phải là một chàng trai Huế ‘chính hiệu con nai’ mới hiểu được nàng nói, rồi cảm thông, rồi say men tình…

Nhà văn Thanh Nam, người bạn đời của nhà văn Túy Hồng đã nhận xét và phát biểu cảm nghĩ về tiếng Huế như sau:

‘Người Huế nói chuyện với nhau bằng ‘ngoại ngữ Huế’. Người Nam, người Bắc chỉ đứng ở ngoài mà nghe, không làm sao chen vào được một câu’(Túy Hồng: Áo Rộng Khăn Vành, Tiếng Sông Hương, 1990)

image005Mới nghe qua tưởng như chuyện khôi hài đùa cợt; nhưng qua kinh nghiệm thực tế, qua giao tiếp, ý kiến trên không phải là không có lý. Chúng ta thử đọc qua bài:

Rứa Răng                                            (Ghi chú)

Đời là rứa hay là răng rứa hí

Rứa răng đời không một chút vui tươi.

Thấy răng răng nên đôi lúc mỉm cười.

Vì rứa rứa nên dường như muốn khóc

Câm lặng rồi, rứa răng cứ mời mọc.

Có nói nhiều răng rứa cũng như ri

Mà răng răng, rứa rứa có ích chi

Rứa răng, răng rứa hỡi người đà chán lắm

Có nhiều lúc hỏi răng mà như rứa

Đành trả lời như rứa chứ mần răng

(Đời là thế, hay là sao thế nhỉ)

(Thế sao đời không một chút vui tươi)

(Thấy sao sao nên đôi lúc mỉm cười)

(Vì thế đấy nên dường như muốn khóc)

(Câm lặng rồi, thế sao cứ mời mọc)

(Có nói nhiều, sao thế cũng thế thôi)

(Mà sao sao, thế thế có ích chi)

(Thế sao, sao thế… )

(Có nhiều lúc hỏi sao mà như thế)

(Đành trả lời như thế, chứ làm sao)

(Vô Danh,                                                             ĐVP ‘chuyển ngữ’)

Nếu không phải là dân Huế thì khó lòng hiểu nổi bài thơ, hoặc câu chuyện giữa một đôi bạn trẻ người Huế:

Ghét tui không?

Ghét mà cho ri!

Cho chi mô?

Ầu, răng rứa?

Có chi mô nà.

Ấy, làm răng chừ?

Không răng mô!

Răng răng?

Răng thì rứa.

4 (2)-2Đối với những người khác xứ, câu đối đáp trên có vẻ bâng quơ, bí ẩn, không đâu vào đâu cả. Nhưng với dân Huế, họ có thể hiểu ngay là câu chuyện gay cấn giữa hai người trẻ tuổi với nhau, hứa hẹn nhiều sôi nổi.

Người Huế khi nói chuyện với nhau dùng rất ít chữ, câu nói ngắn, gọn mà hàm súc ý. Với họ, việc diễn tả ý tưởng của mình bằng một vài chữ sơ sài là một chuyện quá dễ dàng, như chuyện cơm bữa. Người Huế nói ít mà hiểu nhiều. Người Huế dùng những từ đặc biệt rất Huế, của riêng Huế để nói chuyện với nhau. Những từ này kết hợp, móc nối khác nhau để trở nên dồi dào phong phú đủ để họ trao đổi các ý nghĩ riêng tư.

Hai câu thơ:

Nghiêng nghiêng hoài chiếc nón

Hỏi mãi cứ làm thinh

Cho thấy rõ một nét đặc điểm của cô gái Huế.

Túy Hồng, nhà văn nữ của Huế cũng đã nhận xét:

‘Giọng Huế không phải là giọng nói trước đám đông, mà chỉ có thể là giọng nói trong phòng khách.. .’

Ở đây dằng dặc những ngày mưa

Bông sứ trầm tư lặng cổng chùa

Có một dòng sông trôi chẳng nỡ

Có người con gái: ‘Dạ, xin thưa.. .’

(Nét Huế – Xuân Hoàng)

‘Giọng Huế khó nghe, tiếng Huế khó hiểu, có thể xem như một ‘ngoại ngữ’’

(Võ Hương An, Tiếng Sông Hương, 1994, trang 86)

Theo giáo sư Lê Văn Lân trong bài ‘Tiếng Huế Trong Nhóm Thổ Âm Miền Bắc Trung Việt’ (Nhớ Huế, số 9) thì tiếng Huế chỉ là một trong nhiều thổ âm đặc biệt của ta. Theo ông, có thể thổ ngơi thường quyết định sự khác biệt về thể chất, tính khí  của các dân tộc. Chẳng hạn Lê Quý Đôn trong ‘Vân Đài Loại Ngữ’ đã trích dẫn một đoạn văn trong sách Hoài Nam Tử của Lưu An đời Hán: ‘Khí núi sinh nhiều con trai, khí đầm sinh nhiều con gái; khí nước sinh nhiều người câm, khí gió sinh nhiều người điếc. Khí rừng sinh nhiều người yếu ớt, khí cây sinh nhiều người còng, khí đá sinh nhiều người khỏe…’ và đặc biệt sách trên ghi: ‘Ở nơi nước trong thì tiếng nhỏ, ở nơi nước đục thì tiếng thô.’

 Tâm hồn người Huế và nét rất riêng trong ẩm thực xứ Huế | Mytour.vn

Thật ra ảnh hưởng của môi trường sinh thái trên các cá thể. Ngày nay khoa học cũng đã khám phá ra nhiều dữ kiện khả dĩ giải thích một phần nào, nhưng vẫn chưa hoàn toàn đúng hẳn.

Còn tiếng nói thì người mình vẫn cho là do nước uống mà ra.

Trong cuốn Đại Nam Nhất Thống Chí, khi nói về tỉnh Nam Định, vùng giáp biển Mộ Trạch, có đoạn: ‘Mộ Trạch có tập tục quê mùa, giọng nói ngọng nghịu. Người ta gọi là tiếng nói đường biển… Ở đây ít có kẻ sĩ danh tiếng và thành đạt. Ấy là do phong thổ mà nên vậy.’

Một tài liệu viết về thổ âm xứ Huế lại cho rằng dòng sông Hương có ảnh hưởng đến giọng nói Huế. Và bởi vì dòng sông Hương chảy qua lòng thành phố Huế, nên người Huế rất sâu sắc, thâm trầm:

Con sông dùng dằng, con sông không chảy

Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu

(Tạm Biệt Huế, Thu Bồn)

Linh mục Leopol Cadiere qua hai bài khảo cứu Phonetic: Dialec du Haut Annam và Dialec du Bas Annam đã nhận xét tiếng Huế là một trong những thổ âm miền bắc Trung Việt. Theo ông, căn cứ trên sự phân hoạch về dân cư và thổ âm Trung Việt, người ta chia ra ba địa khu: Thanh Nghệ Tĩnh – Bình Trị Thiên – Nam Ngãi Phú Khánh.

thiếu nữ huế chèo đòThổ âm Bình Trị Thiên đương nhiên phải bắt nguồn từ vùng Thanh Nghệ Tĩnh cùng dùng chung những từ Mô, Tê, Răng, Rứa… như trong bài hát dặm Nghệ Tĩnh

Đi mô cũng nhớ về Hà Tịnh.

hoặc:

Trời làm trộ (trận) mưa giông

Trời làm hai trộ mưa giông

Nước chảy băng đồng, băng hói, băng sông

Bài thơ sau đây của một thầy đồ người Quảng Bình có những chữ thường gặp ở vùng quê Bình Trị Thiên:

Con Voi

Con chi to nậy tắng hai thừng

(to lớn, trắng hai sừng)

Cấy mụi lòn thòn tọt dưới chưn

(cái mũi long thong tuốt dưới chân)

Một vạt da đen thui, thủi thụi (vạt = đám)

Bốn đùi chưn cứng nững nừng nưng

(Chưn = chân)

Vấn đề kề cận địa lý càng có nhiều sự giống nhau hơn .

Bài Hò Cuốn phát xuất từ miền núi Mai, sông Thạch Hãn cũng có nhiều từ thổ âm của Thừa Thiên:

Khoai to vồn thì tốt cộ (củ)

Đậu ba lá cũng vừa um

Gà mất mẹ thì lâu khun (khôn)

Gái thiếu trai thì thậm khổ (rất khổ)

(Mà) Trai thiếu gái cũng thậm khổ

Trời sinh voi thì sinh cỏ

Trời sinh giếng thì sinh mo

Trời sinh sông thì trời sinh đò

Trời sinh o thì sinh tui (o= cô, tui = tôi)

O một mình thì không đặng

Gió dưới biển (hắn) dồn vô

Mây trên trời (hắn) cuốn lại.

O với tui cùng cuốn lại.

Tui với o cùng cuốn lại.

 Những nét đặc trưng chỉ có ở Huế | Dulich24

Người Huế chịu ảnh hưởng thổ âm vùng Bình Trị Thiên, nhưng giọng Huế lại nhẹ nhàng thanh tao hơn; có lẽ do ảnh hưởng của dòng Hương Giang thơ mộng, dòng sông ‘ngọc tan thành nước’ chăng?

Dạ thưa xứ Huế bây giờ

Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương

(Bùi Giáng)

Thường thường các thổ âm chỉ được nói ở các vùng quê, xa nơi thành phố. Kinh đô Huế là một trung tâm văn hóa quan trọng – nơi giao lưu của nhiều dòng văn hóa tư tưởng – như Hà Nội, Sài Gòn, nên việc dùng các thổ âm cũng dần dàmất đi.

Bài thơ sau đây tuy không dùng nhiều thổ ngữ Huế, nhưng lại có giọng thơ đặc sệt Huế .

Trong gánh vương tư (tơ) những vật gì?

Dây hồng lá đỏ đó chớ chi!

Hãy còn bợ ngợ sương (mang, gánh) không nổi

Sao lại lần đân (Lần khân, dây dưa) chẳng vất đi?

San sẻ không nhờ cân tạo hóa

Nặng nề thêm mãi khối tình si

Hỏi ai là bạn thương mình đó

Xin hãy xê vai rớt (chia sớt) chút ni!

Tin tức, sự kiện liên quan đến Lưu Huyền Trang | Dân Việt

Một giả thuyết khác lại cho rằng người Việt trên bước đường Nam Tiến, tiếp xúc với Chiêm Thành, Chân Lạp, Cao Mên, Thái Lan… có thể theo nhu cầu, người dân xứ Huế đã sáng tạo cho mình và vay mượn của người để có những chữ ngắn gọn, giản dị dễ hiểu rất cần thiết để dùng trong khi giao tiếp với nhau trong cuộc sống hang ngày.

Nhiều tiếng Huế đã xuất phát từ tiếng Chàm như: Tê (The), Rứa (Roh), Ấy (Ay), Ni (Ni)

Giọng Huế khó nghe đối với đồng bào khác xứ phải chăng vì thanh âm do người Huế phát ra thuộc một âm vực khó nhận ra. Nhiều khi người ta còn chọc quê người Huế nói năng ‘trọ trẹ’ khó hiểu.

Theo Võ Hương An, khi phát âm, người Bắc thiên về giọng thấp; người Nam đi giọng cao, còn người Huế thì giọng bình. Phải chăng cái đặc tính bình thanh này khiến cho nó trở nên khó nghe. Điều này xin nhường lại cho các nhà âm ngữ học.

Theo tác giả trên, nếu miền Bắc và Nam có giọng nói dễ nghe hơn Huế, thì họ lại khó giả giọng các miền khác. Giọng Huế thuộc loại bình, trung tính, khó nhận với người ngoài; nhưng cũng nhờ đặc điểm này đã giúp người Huế có thể giả giọng nói mọi miền đất nước không mấy khó khăn.

Thiếu nữ xứ Huế 'đốn tim' trong tà áo dài - VietNamNet

Người Huế phát âm không phân biệt dấu hỏi (?) dấu ngã ( ), không phân biệt có ‘g’ hay không ‘g’, ‘c’ với ‘t’ ở cuối chữ, và ‘oi’ với ‘oai’. Người Huế cũng không phân biệt ‘gi’ với ‘d’ và ‘nh’. Ví dụ: người già thành người nhà (Về điểm này, có lẽ tác giả Ngọc Lan đã nhầm ngược lại. Vì người Huế nói người ‘d’ hoặc ‘nh’ thành ‘di’. Ví dụ: cái ‘nhà’ thành cái ‘già’, con ‘dao’ thành con ‘giao’. LTS); ‘nói’ thành ‘noái’.

Sau chiến tranh, sau bao dâu bể, người dân Huế sống tha phương đều đổi giọng. Họ đổi giọng không phải vì mặc cảm giọng nói mình khó nghe, mà chỉ để đáp ứng với thực tế cuộc sống, thích nghi với hoàn cảnh.

Nói như thế không có nghĩa là người Huế đã quên đi giọng nói của xứ mình. Khi ở trong gia đình hay thù tiếp bạn bè đồng hương ‘cơm hến, bún bò’ của mình, thì người Huế vẫn là ‘Huế chay’, ‘Huế rặc Huế’, Huế thứ thiệt .

Nón lá & áo dài Việt Nam lọt top trang phục truyền thống ấn tượng thế giới

Tôi xin kể vài câu chuyện khá vui về việc tiếng Huế gây sự hiểu lầm:

* Một anh bạn người Huế đưa một cậu bạn đến nhà người dì để giới thiệu cô em gái xứ Huế của mình. Vì là lần đầu tiên, anh bạn Nam kỳ hơi ngần ngại. Anh người Huế trấn an, khuyến khích:

– Cứ vô đi, cô ta không có răng mô. Đừng ngại!

Anh bạn Nam kỳ hốt hoảng:

– Mèn đét ơi, không có răng thì ghê quá, tôi không thích.

* Hai bà (một Bắc, một Huế) rủ nhau đi chợ. Bỗng gặp một bà áo tang khăn chế. Hai bà bạn hỏi để tang cho ai. Bà này trả lời chồng mới chết. Bà người Huế hỏi: ‘Đau răng mà chết?’ Bà người Bắc lẩm bẩm: ‘Giời ơi! Đau răng mà cũng chết được sao!’

* Một thiếu nữ Hà thành khi nghe một thanh niên Huế ngỏ lời: ‘Cô cho tôi một cái bóng của cô để làm kỷ niệm.’ Cô ta ngơ ngác hỏi lại: ‘Thưa anh bảo cái bọng gì của tôi cơ ạ?’

* Một ông người Huế khi vào hội tứ sắc đã hỏi làng: ‘Hôm nay tôi hên, muốn đánh lớn. Mấy bà có chịu hai cắc (một lệnh) không? Một bà người Nam giận dữ bỏ về vì nghe lầm dấu sắc (‘) ra dấu nặng (.) cho rằng ông người Huế tục tĩu.

* Một thầy giáo người Huế dạy văn lớp 11 ở một trường vùng cao nguyên. Mới ra trường chưa kinh nghiệm, với giọng trầm trầm, thầy nói: ‘Các em lấy vở ra ghi bài.’ Một em học sinh người Bắc nghịch ngợm nói to: ‘Lấy vợ ra ghi bây.’

Cùng một vật dùng để thức ăn, người Bắc gọi là ‘bát’, người Huế gọi là ‘đọi’, người Nam gọi là ‘tô’.

Để chỉ động tác mất thăng bằng rơi xuống đất, người Nam gọi là ‘té’, người Bắc gọi là ‘ngã’, người Huế gọi là ‘bổ’.

Cùng loại trái cây, người Bắc gọi là ‘Dứa’, người Nam gọi là ‘khóm’, người Huế gọi là ‘thơm’.

 Nón lá Việt Nam biểu tượng đặc sắc của người Việt.

 

 Theo Võ Hương An, sự đa dạng trong ngôn ngữ của một dân tộc là điều tự nhiên. Bao giờ trong cái chung cũng có cái riêng và thấp thoáng trong cái riêng là hình ảnh của cái chung. Hình như địa lý và lịch sử đã kết hợp với nhau để tạo nên cho Huế một môi trường nảy sinh ra nhiều thổ âm và thổ ngữ hơn những miền khác; đến độ có người đã nói là có thể sưu tập thành một tiểu tự điển tiếng Huế.

Ngay chỉ một từ ‘nói’ mà tiếng huế đã có hơn 70 cụm từ liên hệ.

-Nói ba giẻm: thiếu lịch sự

-Nói ba láp: -nt-

-Nói ba lơn (bông lơn): nói đùa, nói giỡn chơi

-Nói ba que xỏ lá: thiếu lịch sưNói ba trợn: -nt-

-Nói ba xàm ba láp: có ý chê. Nói không đâu vào đâu cả

-Nói bả lả: thấy câu chuyện trở nên gay cấn, cần làm hòa, để vui vẻ cho cả hai bên, có mục đích xã giao

-Nói bở sở: nói ú ớ, không nhân thức được điều mình nói

-Nói cà tửng: nói đùa, nói giỡn chơi

-Nói chận họng: nói trước những gì đối phương sẽ nói dể chặn đầu trước, để họ phải theo ý mình

-Nói cho cố: có ý lo xa cho người nói nhiều sẽ bị hớ

-Nói chuốt ngót: nói có tính cách vuốt ve, nịnh bợ

-Nói chưa bưa: nói chưa đã

-Nói dóc tổ: nói láo quá mức

-Nói dựng đứng: đặt ra nhiều chuyện dễ sợ để gán ghép cho người khác

hues-cau-truong-tien-7

-Nói đặt điều: -nt-

-Nói điêu toa, nói hồ đồ, nói ngoa ngoạnh: nói ngang, nói bướng, đặt nhiều điều không đúng để nói

-Nói đổng: Nói lửng lơ không chỉ rõ ai

-Nói hiện ngụy: Biểu lộ sự ngạc nhiên, không chê, không khen, phảng phất ít nhiều rộng lượng, thông cảm

-Nói húy tiểu: nói những chuyện có phần nào quan trọng, người nghe phải kỵ húy, nể nang không nhắc tới, nay nói ra với nhiều thêm thắt, tưởng tượng pha lẫn giễu cợt

-Nói không ngạ: nói nhiều nhưng chưa hết ý, cỏn hứa hẹn nói tiếp

-Nói lảng: nói tránh qua một đề tài khác vì nếu trả lời trực tiếp là bất lịch sự, không tiện nói

-Nói leo, nói hớt: khi người ta đang nói, mình nói theo, cướp lời người khác để nói

-Nói lép bép: nói lau chau, lách chách, chỉ cách nói không rõ ràng

-(Ăn) nói luông tuồng: nói không giữ gìn ý tứ, nói năng tự do, buông thả

-Nói lựng lựng: nói một chuyện chưa bao giờ xảy ra, nhưng qua cách nói làm cho người khác hiểu lầm câu chuyện đang xảy ra

-Nói như sanh như sứa: nói tía lia, nói liến thoắng

-Nói như nước đổ lá môn: nói hoài, nói đầy đủ ý mà người nghe vẫn ỳ ra không hiểu

-Nói như quạ bẻ bắp: nói nhanh, nói khỏe, nói không ngừng nghỉ

-Nói như rìu chém đá, rạ chém đất: nói với thái độ xác quyết, chắc chắn

-Nói ố ố, lác lác: có ý chê, nói không đâu vào đâu

-Nói ốt dột: nói những điểu lẽ ra không nên nói, làm người nói, người nghe đều mắc cở

-Nói rảng rảng: nói nhiều, nói to

-Nói rồng nói rắn: đặt điều nói thêm nói bớt, nói toàn những chuyện không có

-Nói săn đón, sách hoạch: nói năng không ngoan, chững chạc, lý luận vững chắc

-Nói tam toang, tam tinh: -nt-

-Nói tào lao: nói không đâu vào đâu cả, chẳng đúng tí nào

-Nói tào lao, xịt bộp: -nt-

-Nói tầm bậy, tầm bạ: có ý chê nói không đâu vào đâu

-Nói tầm khào: có ý chê nói không đúng, nói điệu bộ khiếm nhã

 호치민시, 베트남 - 9 월 13 일, 2015 미확인 베트남어 아오 다이 여자가 C의 학교 운동장에서 흰색 유니폼을 착용합니다. 아오  다이는 베트남 전통​​ Custume 여성 유명하다. 로열티 무료 사진, 그림, 이미지 그리고

-Nói tầm phào: -nt-

-Nói te rẹt: nói nhiều, ngụ ý khoe khoang, muốn người ta chú ý mình

-Nói thày lay: những điều, những chuyện riêng tư, của người ta mà mình vẫn xen vô nói

-Nói thắt nảy: nói làm cho người nghe phải sợ

-Nói thiên lôi, địa tướng: đặt điều, nói thêm nói bớt, nói toàn những chuyện không có

-Nói thiên thung mang nai: nói lung tung, quanh co, nói lai rai chưa vào trọng tâm

-Nói thụi: nói hùa theo

-Nói trạng, nói tướng: nói láo, nói dóc ở mức thượng đẳng, khó tin để khoe khoang

-Nói trời ơi, đất hỡi: đặt điều, nói thêm nói bớt, nói toàn những chuyện không có

-Nói tự thị: lời nói thiếu khiêm tốn, lịch sự của kẻ tự cao, tự đại, hoặc không ai cho phép nói, cho phép làm mà vẫn cứ nói, cứ làm

– Nói xàng xê xàng xự: nói quanh co, úp mở, không vào đề làm người nghe sốt ruột chờ

Ngoài ra, Huế có nhiều cách nói khác nữa như:

-Nói trèo trẹo

-Nói sa đà

-Nói dai như giẻ rách

-Nói dai như đĩa

-Nói cho bõ ghét

-Nói cho một trận

-Nói ba xí, ba tú

-Nói xì lô, xì la

(Ăn nói) kim sanh… (Nguyên Hương: Tiếng Huế, người Huế nói)

 Hochiminh City, Vietnam - September 13, 2015: Unidentified Vietnamese..  Stock Photo, Picture And Royalty Free Image. Image 45701232.

 

 Tiếng Huế đặc thù, thay đổi tùy theo môi trường và hoàn cảnh sử dụng. Huế là kinh đô của triều Nguyễn nên tiếng Huế trong cung đình cũng khác tiếng Huế ngoài dân gian. Trong hoàng tộc, con cháu của vua thì được gọi là ‘chị’, ‘mệ’, hay ‘mụ’. Phải gọi như vậy để ma quỷ tưởng là con gái mà không quấy nhiễu hoặc không bắt đi, khỏi phải chết yểu.

Chữ ‘mệ’ ở đây để chỉ các ông hoàng, khác với chữ ‘mệ’ trong dân gian để chỉ những người đàn bà cao tuổi, hay để gọi bà nội, bà ngoại.

Hình ảnh một ‘mệ’ ngồi ăn khoai lang cho chúng ta thấy rõ đặc thù của phong cách Huế và tiếng Huế:

Vắt chân chữ ngũ, ‘chém’ củ khoai lang

Bớ mụ nhà hàng, múc ta ‘đoại’ nước.

Khi nói đến vua, hay các vật dụng của vua, người ta dùng chữ ‘long’, hay ‘ngự’. Long là rồng, tượng trưng cho nhà vua.

long bào (áo vua),

long nhan (mặt vua),

long sàng (giường vua),

long đình, (nơi vua hội họp)

long giá, long xa (kiệu, xe vua),

thuyền ngự: thuyền vua đi

ngự lãm: dâng lên để vua xem

ngự uyển (vườn của vua),

ngự tửu: vua ban lộc cho cấp dưới

ngự thiện (bữa ăn của vua),

ngự giá (vua đi),

ngai ngự: chỗ cao nhứt, chỗ vua ngồi

vua nghỉ ngơi: vua ngơi

vua đau nặng: đại tiêm

vua chết: băng hà, thăng hà

mộ vua: tẩm lăng

Khi vua muốn trừ khử một người nào đó, vua cho phép họ tự tử theo ba cách của triều đình, gọi là ‘tam ban triều điển’: uống thuốc độc, thắt cổ, dùng dao kiếm để chết.

Vua cho phép tự xử như vậy gọi là ‘gia ân’

Với tội đồ, ngày xưa thường bị xử chém gọi là ‘trảm’. Thủ trảm là chém đầu, thân trảm: chém ngang lưng .

Ngắm nữ sinh Huế lãng mạn và dịu dàng trong nắng thu - Giáo dục Việt Nam

Tiếng Huế dân gian thì thật đặc biệt. Người Huế dùng nhiều từ ngữ không đâu có. Phải ở Huế lâu năm, nói theo từ của người Huế ‘lâu thâm căn cố đế’, mới hiểu được ý người Huế muốn nói gì.

Chúng ta nghe thử hai câu hát sau đây để thấy Huế có nhiều phương ngữ mới lạ:

Ru em cho ‘théc’ cho ‘muồi’(théc = ngủ, muồi = lâu)

Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu.

Một vài ví dụ về các từ ngữ đặc biệt ở Huế:

Ấy: anh chi, giọng thân mật

Chi lạ rứa: sao lại thế?

Có chi mô: có gì đâu!

Chi tệ rứa: sao tệ thế!

Chi ri: cái gì đây?

Mô: ở đâu?

Không răng mô: không sao đâu?

Mô nà: ở đâu?

Mô rứa: ở đâu?

Đi mô rứa: đi đâu?

Mô hè: ở đâu kia (ai biết đâu không?)

Làm chi tui: làm được gì tôi nào (giọng thách thức)

Biết chi mô: biết gì đâu?

hoakhoiquochochue7-686230-1372514405_500x0

Tê: đó kia

Bên tê: bên kia

Đó tề: đó kìa

Dị chưa tề: kỳ quá!

Ngụy chưa tề: kỳ dị quá!

Khi tê: biết thế nay

Bữa tê: trước đây 2 ngày

Răng: làm sao

Răng ri: sao thế?

Răng rứa: sao thế?

Răng hỉ: sao nhỉ?

Không răng mô: không sao đâu

Biết làm răng chừ: biết làm sao bây giờ

hoa-khoi-quoc-hoc-diu-dang-net-hue-73c1ea2e35429a2fb4bb98ba934fa3b0Ai răng tui rứa: họ sao tôi vậy

Răng ra ri: sao đến nỗi thế nầy

Ri em: thế nầy em

Mô ri: ở đâu mà có thế nầy

Nớ: ấy, đó!

Người nớ: người ấy

Nó tề: cái đó kìa

Ấy mà dị chưa: anh mà kỳ quá (nũng nịu)

Rứa hả: thế à?

Mô hả: ở đâu nhỉ?

Ri hả: thế nầy hả?

O: cô

Đoản hậu: không nghĩ tình

Đời tù huy, tù huýt: từ đời xa xưa

Hằm bà lằng: lẫn lộn

Làm bộ, làm tịch: tự cao, tự đại

Làm đày, làm láo: làm dốc, lên mặt hỗn xược

hoakhoiquochochue6-761651-1372514405_500x0

Làm như mèo quào: làm giả dối, phớt qua

Lục lát: nói giỡn mà chơi

Ngựa Thượng Tứ: gái thích theo trai

Ốt dột, ốt dạt: người ta chê cười

Đi thằng cò o ngón: đi thẳng, không chịu về

Tùm lum, tà la:lộn xộn

Gạo lon tộn: học chăm chỉ

Om củ tỏi: ồn ào quá

Tiếng Huế, người Huế khi giận hờn cũng đặc biệt khác người xứ khác.

Theo nhà văn Nguyễn Mộng Giác, người Huế khi chửi lộn cũng có lễ giáo, khuôn khổ, luật lệ của nó (cũng như lúc ra đường, dù buôn thúng bán bưng, người Huế vẫn mặc áo dài, đội nón lá).

Chửi lộn của dân Huế nhắm vào tội bất hiếu (vô hậu kế đại, mồ tàn không ai un…), tội để cho người khác ‘xách lên để xuống tổ tiên mình.’

Người Huế chửi lộn có tính cách dai dẳng. Chửi mệt rồi, vào nhà nấu cơm, đoạn ra sân chửi tiếp. Chửi có vần điệu, có qua có lại như xướng họa một bài thơ.

-Chửi nhiều lúc như nói chuyện, không cần tiếng, có tính cách phân bua cho mọi người thấy mình là người tốt, quân tử; và đối phương, ‘thứ đồ nớ’ là loại không ra gì.

-Chửi có thể vừa đối vừa đáp, kẻ tung người hứng như hò giã gạo. Chửi mạch lạc, nhịp nhàng. Khi chửi có thể giơ tay, giậm chân; nhưng tránh sùi bọt mép vì sợ đối phương cho là ‘khùng’, ‘tàng’, ‘điên’.

-Chửi nhẹ nhàng, ra mặt dạy dỗ đối phương với giọng lên xuống trầm bổng; nhưng chửi thấm thía làm cho đối phương phải đau xót, quay quắt như ‘đỉa phải vô’, ‘ngồi phải lửa’.

-Chửi đổng, là chửi bóng, chửi gió khi mất gà, bị hái trộm trái cây… Chửi làm cho kẻ ‘cầm nhầm’ phải cảm thấy ‘ốt dột, ốt dạt.’

hoa khôi xứ huế-Chửi trù: chửi trù cho người ta ‘chết ẻo’, ‘ăn vào đau bụng thổ tả’, ‘chết không kịp ngáp’, hoặc ‘không chết cũng ngất ngư thấy mụ nội, mụ ngoại.’

-Chửi trù còn trù cho kẻ địch ‘tàn mạt’, ‘cất đầu không nổi’, ‘vô hậu’, ‘vô phước’ làm cho kẻ bị chửi phải đau đớn, lo âu, sợ hãi.

-Chửi có tính cách trách mắng quân vô lương. ‘uống nước không chừa cặn’, ‘cạn tàu ráo máng’, ‘đoản hậu’, ‘như quân cướp cạn’.

Chửi cũng có thể là chửi cho sướng miệng vì không thích một người nào đó, hay ganh tị với người ta, thường phát tiết ra với câu nói ‘khi không mi chọc cho cha mi giận.’

Nói tóm lại, tiếng Huế, giọng Huế thật đặc biệt, khác xa với các xứ khác. Chính vì vậy mà Huế có một chỗ dứng riêng biệt, không lẫn lộn, không pha trộn với bất cứ một nơi nào khác.

Những cụm từ ‘gái Huế’, ‘trai Huế’, ‘bún bò Huế’, ‘nón Huế’, ‘mè xửng Huế’, ‘Huế chay’, ‘Huế đặc sệt’, ‘Huế 100%’, ‘Huế rặt’ đã nói lên điều đó.

Nhà thơ Huỳnh Hữu Dụng trong bài ‘Rất Huế’ đã tha thiết xin người tình ‘hãy giữ một chút gì rất Huế’ đã làm cho mình say mê, thương nhớ.

Hochiminh City, Vietnam - September 13, 2015: Unidentified Vietnamese Ao  Dai Girls Wear White Uniform At C Schoolyard. Ao Dai Is Famous For  Traditional Custume Woman In Vietnam. Stock Photo, Picture And

Xin em hãy giữ nét duyên dáng, hiền ngoan dịu hiền và rất đài trang của Huế; nhất là giọng nói dễ thương, mặn mà của Huế.

Giữ chút gì rất Huế mặn mà

Dạ thưa ngọt lịm ai mê say

Và hơi thở mềm, sương khói bay

(Rất Huế, Huỳnh hữu Dụng)

Chúng tôi xin mượn bài thơ ‘Giọng Huế’ của thi sĩ Tô kiều Ngân để chấm dứt bài này :

Ngắt một chút mây trên lăng Tự Đức

Thả vào mắt em thêm một dáng u hoài

Đôi mắt ấy vốn đã buồn thăm thẳm

Thêm mây vào e tan nát lòng ai

Anh quỳ xuống hôn lên đôi mắt đó

Bỗng dưng sao thương nhớ Huế lạ lùng

Chắc tại em ngồi bên em thỏ thẻ

Tiếng quê hương xao động đến vô cùng

‘Hẹn chi rứa, răng chừ, em sợ lắm’

Mạ ngày xưa cũng từng nói như em

Anh mất mạ càng thương em tha thiết

Như từng thương câu hát Huế êm đềm

Ao Dai is my hate and my pride. – Vietnam Food Delicious

 

.. .. .. .. .. .. ..

Nếu lại được em ru bằng giọng Huế.

Được vỗ về như mạ hát ngày xưa

Câu mái đẩy chứa chan lời dịu ngọt

Chết cũng đành không nối tiếc chi mô.

Người Huế trầm ngâm như nhà văn Bùi Bích Hà viết:

‘Con gái Huế ấm như nắng hè, thơm ngọt như mật ong, óng mượt như tơ tằm, thanh bai như nhành lệ liễu và con gái Huế sắc như dao, lạnh như mùa đông, can trường như đá núi, thâm trầm như biển sâu. Gặp rồi không thể không yêu, yêu rồi cuộc tình sẽ là một vết thương thiên thu’.

 Nón lá Việt Nam – Biểu Tượng Đặc Trưng Của Văn Hóa Việt

Giọng Huế đặc thù, tiếng Huế khó hiểu… nhưng cũng vì thế mà Huế có những cá tính riêng biệt không nơi nào có được. Huế lại càng mang tính cách lạ lùng, quyến rũ hơn lên .

Xin nhớ đến Huế và cảm ơn Huế đã tạo cho chúng ta một cá tính làm giàu đẹp thêm cho dân tộc Việt.

Ngọc Lan

Tài liệu sử dụng:

Tiếng Huế Tuyệt Vời – Bùi Minh Đức

Tiếng Huế Trong Nhóm Thổ Âm Miền Bắc Trung Việt – Lê Văn Lân, tuyển tập Nhớ Huế, số 9. Westminster, CA, USA

Tiếng Huế, Người Huế Nói. Nguyên Hương

Tiếng Huế, Một Ngoại Ngữ. Võ Hương An (Trích Tiếng Sông Hương, 1994, Dallas, TX, USA)

Huế Đặc Sệt. Bùi Minh Đức (Trích tuyển tập Nhớ Huế, số 81 8, Westminster, CA, USA)

Tiếng Huế Đặc Thù. Nguyễn Mộng Giác (Tivi Tuần san)

Huế Yêu Dấu. Bùi Bích Hà

Các bài thơ: Giọng Huế của Tô Kiều Ngân

Rất Huế của Huỳnh Hữu Dụng

Một Trời Thơ Bay của Lê Nhược Thủy.

kdlh-thieu-nu-hue-tinh-khoi-ngay-he-3

Xem thêm...
Theo dõi RSS này