Truyện

Truyện (192)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

RUE CLER - Để Nhớ Một Thời


The Syrah Apartment by Paris Perect on Rue Cler | Paris vacation, Paris  vacation rentals, Paris at night
   RUE CLER - Để Nhớ Một Thời   
 
 Tùy bút của Thầy Nguyễn Ngọc Hoàng


Có nhiều lý do để tôi không thích và thường tránh né khi phải lái xe vào khu trung tâm thành phố (downtown). Một trong lý do chính là hầu hết các con đường trong trung tâm thành phố trên toàn nước Mỹ đều là đường một chiều. Thành phố càng lớn thì đường một chiều càng nhiều. Ngặt một nổi các cơ quan hành chánh địa phương thường đặt văn phòng trong khu vực này, nên khi cần làm bất cứ giấy tờ gì, bất đắc dĩ chúng ta cũngphải lái xe vào. Có điều cũng lạ, gần như những con đường một chiều trong khu trung tâm thành phố đều mang số như: đường số Một, đường số Hai,… Thành phố càng lớn thì những con số càng nhiều. Durham, thành phố tôi ở rất nhỏ, nên chỉ đến đường số 16th là hết.


One Way Sign: What Does it Mean?
 
      Có những điều trong cuộc sống, không thích, không muốn nhưng chúng ta đành phải “tuân theo” như một quy luật cần thiết. Như cuộc đời, như số phận. Con đường một chiều là số phận con người trong cuộc sống đời này? Chỉ một lần đến, một lần qua và sẽ mãi không bao giờ trở lại. Mỗi một thời gian trôi qua, mỗi một kỷ niệm in dấu, mỗi một nghiệt ngã hằn sâu đớn đau, mỗi một dấu tích lịch sử khắc ghi… đều là những sự kiện, nối kết thành một chuổi đời dù ta muốn hay không, ý thức hay vô tình bỏ mặc! Những con đường “một chiều” mà tôi không thích, luôn muốn tránh né vẫn là những con đường huyết mạch tạo ra những sinh hoạt sống còn của trung tâm thành phố tôi đang ở…

Rue Cler: A Peaceful Paris Market Neighborhood
 
Buổi chiều cuối tuần, một người bạn làm cùng công ty rủ tôi đi cà phê Pháp chính hiệu mới khai trương. Hắn là người Mỹ gốc Pháp. “Rue Cler” là một tiệm bán cà phê và bánh ngọt của Pháp, lại nằm ngay trong khu trung tâm thành phố Durham, trên con đường một chiều. Bên ngoài không có gì đặc biệt, nhưng bên trong là một không gian kiến trúc rất Pháp. Đúng hơn rất Paris. Thêm vào đó, người bạn tôi cho hay, mỗi cuối tuần đêm thứ Sáu và thứ Bảy còn có cả trình diễn nhạc sống.

L'Éclair | Paris | France | AFAR
 
Khoảng tám giờ ba mươi tôi và Vinay đã có mặt. Chương trình nhạc sống cuối tuần sẽ từ chín đến mười một giờ đêm. Khách trong quán không đông lắm, vẫn còn nhiều bàn trống. Có lẽ thành phố này không có nhiều cư dân gốc Pháp. Phía cuối quán là sân khấu nhỏ đã chuẩn bị sẵn sàng với đàn guitar, chiếc organ điện, kèn saxophone, violin và vài chiếc trống tay… Pháp văn là môn sinh ngữ 2 của tôi thời trung học. Còn nhớ trong mấy năm liền liên tục, tôi rất yêu và chăm chỉ học môn Pháp văn hơn cả môn sinh ngữ chính là Anh ngữ.

Lý do đơn giản là người dạy Pháp văn trong liền 3 năm đó là cô Huỳnh Thị Liễu. Lớp tôi là lớp đầu tiên cô Liễu vừa ra trường sư phạm giảng dạy. Ngày đó tôi không biết “hoa hậu” đẹp cở nào, nhưng chắc chắn không thể sánh với cô Liễu dạy Pháp văn lớp tôi. Cô “hình hạc sương mai”, cao ráo, khuôn mặt ngọc ngà với mái tóc dài nửa lưng óng ả và đôi mắt to lồ lộ “chìm đắm” lòng người. Nhờ cô Liễu mà tôi có chút vốn luyến và mê nghe nhạc Pháp từ dạo đó..!

Patesô: món bánh có cái tên "rặt" Pháp nhưng thực ra lại là "con đẻ" của ẩm  thực Việt
 
Vinay và tôi gọi một dĩa 4 cái Pâté Chaud, hai ly cà phê đen pha với chút bơ ngọt. Hắn uống không đường, còn tôi phải pha thêm vài muỗng đường và sữa tươi cho ly cà phê của mình. Qua làn kiếng lấm tấm hơi sương, bên ngoài đã vắng xe và tĩnh lặng…
Tiếng nhạc bắt đầu trổi lên. Người nữ ca sĩ trẻ có dáng gầy, tóc ngắn và rất cao cúi chào khách bằng hai ngôn ngữ Pháp và Anh. Cả quán chợt im lặng, tôi có thể nghe hơi thở nhẹ của cô trong lời giới thiệu bài hát đầu tiên của mình.
-Xin chào mọi người, tôi tên là Donna Wittmer. Chúc tất cả các bạn sẽ có đêm nhạc vui vẻ, đầm ấm. Để mở đầu chương trình tôi xin trình diễn bài hát nổi tiếng của ca sĩ Françoise Hardy có tên là Tous Les Garçons et Les Filles. Mong quý vị thưởng thức.
 
Tiếng đàn guitar dạo đầu vút cao, hòa quyện với tiếng organ như một luồn điện lạnh chạy dọc vào mọi cảm giác của tôi. Tiếng hát trong trẻo, dày dặn, thiết tha như cơn lốc cuốn mênh mông tôi vào thật sâu của miền ký ức:
 
“Tous les garçons et les filles de mon âge
 

“Se promènent dans la rue deux par deux
“Tous les garçons et les filles de mon âge
“Savent bien ce que c'est d'être heureux

“Et les yeux dans les yeux 
“Et la main dans la main
“Ils s'en vont amoureux 
“Sans peur du lendemain.

“Oui mais moi, je vais seule 
“Par les rues, l'âme en peine
“Oui mais moi, je vais seule 
“Car personne ne m'aime…  (1)
 
 



(Xin bấm vào link dưới đây để nghe)

 
… Đêm văn nghệ cuối năm trường Marie Curie như mới hôm qua của hơn 40 năm về trước. Không biết đào ở đâu mà Duy có được hai giấy mời tham dự, nên “ưu ái” rủ tôi đi. Sau khi kết thúc, tôi và Duy chạy hai chiếc xe đạp theo sau ba chiếc xe đạp phía trước. Chắc cả ba cô nàng đã biết hai đứa tôi đang lẽo đẽo theo, nên gửi lại những nụ cười khúc khích sau lưng. Một trong ba, là người con gái tóc ngắn đã hát một ca khúc Pháp lừng lẫy một thời Sài-gòn của ca sĩ Françoise Hardy: “Tous Les Garçons et Les Filles” trong đêm văn nghệ cuối năm tối nay. Tôi đã từng nghe nhiều lần nhạc phẩm này qua tiếng hát của nữ ca sĩ Thanh Lan với lời Pháp lẫn Việt "Những Nụ Tình Xanh" – lời Việt của Phạm Duy (1).

LE BOIS, Paris - 16e Arr. - Passy - Menu, Prix, Restaurant Avis &  Réservations - Tripadvisor

Nhưng đêm nay, tiếng hát ngây thơ trong trẻo, làn hơi mỏng ngọt, đôi lúc lạc giọng của cô nữ sinh trường Marie Curie đã thật sự chiếm trọn niềm xúc cảm của tôi. Khuôn mặt dài thánh thiện, có chút như lai Pháp, cô gái có đôi mắt to sâu vời vợi trong từng ca từ chuẩn ngữ. Bây giờ tôi mới thật sự cám ơn và nhớ vô cùng cô giáo dạy Pháp văn xinh đẹp của mình!

Qua khỏi bùng binh ngả Sáu cổng xe lửa đường Lê Văn Duyệt là hướng về khu vực Chí Hòa. Cũng hơn 10 giờ đêm, đường vắng xe và ba cô gái đạp xe nhanh hơn.
Tôi nói với Duy: “Theo mấy nàng cũng coi như đi hộ tống làm phước…”. Nhiều lần tôi định vượt lên nói vài câu làm quen, không hiểu sao lại thôi. Chừng như có cái gì đó, giác quan thứ sáu cho tôi biết “bước đi sẽ đứt, động hờ sẽ tiêu” (Chiều – Xuân Diệu).

Đang lan man nghĩ ngợi, thì ba cô gái quẹo nhanh vào khu Chí Hòa. Mấy cây đèn đường ít hơn, ánh điện lưa thưa không in nổi mấy chiếc xe đạp trên đường. Duy và tôi cố bám gần hơn, đủ để nghe mấy tiếng nói cười nho nhỏ. Chợt phía trước hiện rõ một bờ tường cao, quanh đèn sáng tỏ. Cả ba cô nàng dừng trước chiếc cổng nhỏ bên hông chiếc cổng sắt cao, sừng sững trang nghiêm. Người con gái cao gầy, hát nhạc Pháp xuống xe, nói gì đó với hai bạn rồi quay lại ra dấu chào tạm biệt chúng tôi.

Rồi nàng khuất sau chiếc cổng nhỏ khép lại, hai cô bạn cười đáp rồi đạp xe đi thẳng. Tất cả diễn ra khá nhanh, bất ngờ khiến cả tôi và Duy không kịp phản ứng gì. Khi định thần, tôi mới chợt thấy bên trên chiếc cổng sắt lớn có tấm bảng ghi: “Dòng Nữ Tu Bác Ái”.
Nhiều buổi chiều sau đó, tôi muốn đến đứng đợi trước cổng trường Marie Curie nhưng lại thôi, không nỡ đành lòng. Nhiều đêm sau đó, tôi muốn đến đứng đợi trước cánh cổng sắt nhà dòng, nhưng cũng lại thôi, ngậm ngùi bỏ lại. Đời người có biết bao nhiêu câu hỏi và rất ít câu trả lời. Người con gái hát đêm cuối năm hôm đó là một, mãi mãi chỉ là câu hỏi, mãi mãi chỉ là thoáng bóng mơ qua. Rồi đêm lại nối ngày, ngày trôi tuần tự trên mỗi số phận con người vạn ngả chia xa. Có ánh mắt, có nụ cười thánh thiện đó như giấc mơ có thật luôn hướng tôi về một niềm tin yêu vời vợi trên cao…
 
Thời gian không chờ nhau và khuôn mặt người con gái ngày nào, nay lờ mờ trong trí nhớ của tôi. Những bốn mươi năm, mà ngỡ chừng hôm qua. Càng cố nhớ, khuôn mặt, ánh mắt, nụ cười của nàng càng tan vỡ, khuất xa… Chỉ còn lại là tiếng hát, tiếng hát của ca khúc nhạc Pháp “Tous Les Garçons et Les Filles “, vẫn mãi vang vọng một đời không quên…

Tiếng vỗ tay, dứt nhạc kéo tôi về thực tại. Bài hát nào rồi cũng dứt, khúc nhạc đời cũng thoáng chốc trôi xa. Kỷ niệm nào còn đó chút dư âm. Mùi hương người thánh thiện chưa bám phấn bụi đời. Tất cả sẽ về đâu giữa mênh mông cuộc đời hệ lụy. Như viên ngọc quý, tôi nâng niu từng kỷ niệm chợt có chợt không. Tiếng nhạc lại trổi lên, người thanh niên trẻ ôm chiếc đàn guitar ngồi xuống chiếc trên sân nhỏ nhỏ cuối quán. Đêm càng khuya khách càng đông, để lẫn lộn trong tiếng nói cười chung quanh, giọng hát trầm ấm, âm thổ đục vút cao:
 

 

 

 
 

(1) Tous Les Garçons et Les Filles- Françoise Hardy
"Những Nụ Tình Xanh"
[Lời Việt: Phạm Duy]
 
Bao nhiêu uyên ương trong cơn yêu đương
Đôi chân miên man hân hoan
Lang thang giữa phố phường.
Bao nhiêu duyên vui xuân xanh
Đôi mươi xuân xanh như tôi,
Ai kia hai mươi cũng biết rồi.
Niềm hạnh phúc trong tay người
Hay trong mắt, trên môi cười
Họ yêu nhau và đi tới sẽ sống với niềm vui mới
Thế nhưng tôi vẫn đơn côi vẫn không ai kết duyên đôi
Thế nhưng tôi vẫn đơn côi vẫn không ai đoái hoài tôi.

Nỗi sầu, ôi nỗi u sầu
Những ngày buồn trôi giống nhau.
Cõi đời ôi là những âu sầu
Không có những tiếng nói ấm áp
Của người yêu mến nhau.
Tôi chưa yêu đương, tôi mong yêu, trong cơn đau thương
Ai đưa tôi lên chốn Thiên Đường ?
Tôi chưa duyên vui, xuân tôi hai mươi,
Tôi mong như ai, vui trong duyên đôi sẽ biết đời
Niềm hạnh phúc trong tay người,
Hay trong mắt, trên môi cười
Họ yêu nhau và đi tới sẽ sống với niềm vui mới
Khiến cho tôi có ai yêu sẽ quên đi
Những cơn đau, dắt tay nhau
Tới mai sau
Tới nơi yêu nhau dài lâu.
 
     La Nuit – Salvatore Adamo     
(Xin bấm vào link dưới đây để nghe)


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

    Sưu tầm và tổng hợp by Nguyễn Ngọc Quang     

Em chân thành cảm ơn Thầy vì đã dành thời gian gửi về.

Chúc Thầy Cô một ngày tốt lành.
Kính thư,
 
Ảnh minh họa   db43c148
 
c6ox4y5hrxvc7lqb668g
 
 
 
 

      RUE CLER - Để Nhớ Một Thời      

Xem thêm...

Truyện Ngắn: Nhánh Sông Ngậm Ngùi

Nhánh Sông Ngậm Ngùi

 

Truyện Ngắn của Nguyên Nhung

~~<>❤️❤️<>~~

 

Tôi không bao giờ nghĩ mùa hè năm ấy, sau hơn ba mươi năm kể từ ngày từ giã mái trường, chút duyên xưa vẫn còn để tôi lại thấy Toàn trong đêm Hội Ngộ. Đời biền biệt trôi đi như dòng sông, cuốn những con thuyền ra biển xa. Sau khi nối lại được liên lạc với một người bạn cũ, hai đứa hẹn gặp nhau kỳ họp mặt Trường ở Toronto, hội ngộ với các bạn đồng môn trường cũ, để được sống lại những phút giây của tuổi học trò năm xưa.

Cuối cùng, bạn tôi lại không đến được vì một lý do bất ngờ, thế là chỉ mình tôi khăn gói lên đường với một mớ tâm sự ngổn ngang. Chưa bao giờ tôi nôn nao đến thế, như lần đầu tiên năm đệ thất được mặc chiếc áo dài trắng đồng phục bước vào ngưỡng cửa Trung Học, cô chị 12 tuổi bỗng thấy mình trở thành người lớn trước mấy đứa em còn đang học Tiểu học. Hơn ba mươi năm rồi, một quãng thời gian khá dài đủ để cho những kỷ niệm ngậm ngùi và cay đắng đã nhạt nhòa đi, vậy mà chỉ hôm nay thôi, tôi nghe trái tim bừng bừng reo vui những nhớ nhung bao hình ảnh về trường xưa, bạn cũ, nhất là hình ảnh của ai kia một thời đã làm trái tim tôi đắm say, chất ngất, để rồi lòng cũng nát tan khi cuộc tình không trọn.

Từ một chiếc bàn trong góc tối của hội trường đang ồn ào tiếng trò chuyện, thăm hỏi lẫn nhau, tôi đã nhận ra Toàn khi anh bước vào ngưỡng cửa căn phòng lớn. Không thể nhầm lẫn được, dù có đến mấy mươi năm chúng tôi không gặp lại nhau. Vẫn dáng cao cao nghệ sĩ ấy, mái tóc bồng bềnh đã nhuốm màu thời gian, khuôn mặt xương xương và nụ cười phảng phất một nét gì không trọn. Toàn đang bắt tay một vài người quen, tôi đã ngỡ ngàng tưởng mình đang sống trong mơ, một cảm giác lạnh buốt chạy dài khắp châu thân. Hóa ra chàng vẫn còn đó, cái tin chàng bỏ mình trong một trại tù sau năm bảy mươi lăm chỉ là ngộ nhận , bạn tôi đã nghe phong phanh như thế khi ở Việt Nam, rồi kể lại cho tôi nghe. Khi nghe bạn nói, tôi chỉ biết ngậm ngùi và cầu nguyện cho Toàn, biết đâu Toàn đã qua được những phút giây cận kề với nỗi chết.

Hơn ba mươi năm với biết bao khổ ải đẩy xuống cuộc đời, cuối cùng, đêm nay cả tôi và chàng cùng có mặt nơi đây, từ hai ngả đường khác nhau, để tìm về những kỷ niệm dưới mái trường xưa thuở nào.Trong hội trường vẫn ồn ào tiếng cười nói của bạn bè gặp lại nhau, những bàn tay xiết chặt bàn tay, những đôi mắt rưng rưng vì xúc cảm khi không ngờ bao nhiêu năm còn có đêm này. Họ đến đây từng nhóm, từng cặp, có đủ vợ chồng con cái, có người già người trẻ, có những người cô lẻ như tôi, như Toàn, mỗi người mang theo bên mình nhiều kỷ niệm và họ cũng đang đi tìm kỷ niệm, ước mong tìm gặp lại thầy cũ, bạn cũ, những hình ảnh ấy tưởng đã mịt mờ với thời gian, đã tản mát đi khắp bốn phương trời, từ khi chia tay với mái trường thân yêu ấy.

 

Từ chỗ ngồi trong góc tối này, tôi vẫn không thể nào không nhìn về phía Toàn, nơi chàng đang ngồi với vài bạn cũ. Hình như chưa ai nhận ra tôi, còn tôi thì im lặng tìm kiếm.Thời gian ba mươi năm trôi qua, trông tất cả đã già đi với mái tóc điểm sương, riêng Toàn, vẻ lặng lẽ của chàng đã nói lên chiều sâu của một nỗi đau nào đó khiến lòng tôi ngậm ngùi vô tả. Có thể là nỗi đau từ mối tình đầu không trọn, có thể là sự mất mát thảm khốc hơn từ những cuộc tình sau, sự thay đổi của cuộc sống đã làm chàng mất đi nét vui tươi của ngày trẻ tuổi, tất cả nỗi đau ấy biết cái nào hơn. Thỉnh thoảng tôi thấy Toàn nhìn quanh, tìm kiếm một cái gì đó để rồi lại có vẻ thất vọng khi không tìm thấy gì cả. Không biết anh có đang nghĩ đến tôi như tôi đang nghĩ đến anh đêm nay, và liệu sự gặp gỡ bất ngờ này, có làm tan biến đi hình ảnh cũng như tình cảm đẹp đẽ và dễ thương của tuổi học trò hơn ba mươi năm trước.

Riêng tôi, không phải chỉ đêm nay lòng tôi mới xôn xao như thế, mà đã biết bao nhiêu lần trong đời, dường như bao kỷ niệm êm đềm của những ngày trẻ tuổi vẫn âm ỉ trong lòng tôi, cho hơn ba mươi năm tôi làm cánh chim viễn xứ. Biết bao lần trong căn nhà cô quạnh trong một trang trại miền quê nước Mỹ, tôi đứng lặng nhìn cơn mưa ào ạt đổ xuống cánh đồng cỏ hoang vu, gió lồng lộng hun hút lùa vào khung cửa gỗ trong những ngày mưa bão. Bao nhiêu lần ấy, nước mắt như hòa với nước mưa, tôi nhớ về quê nhà với một nỗi cô đơn khủng khiếp, bên cạnh người chồng ngoại quốc và lũ con hai giòng máu.

Làm sao chồng con tôi có thể chia xẻ với tôi được nỗi nhớ nhung của kẻ xa nhà , khi ở đấy có một góc trời riêng, chất chứa hình ảnh gia đình, bạn bè và những kỷ niệm buồn vui trong quá khứ. Mưa ở đâu cũng là mưa, gió ở đâu cũng là gió, vậy mà trong sâu thẳm của trái tim, tôi không khỏi không nhớ lại tiếng mưa rơi rào rào trên chiếc áo đi mưa một chiều tan học, Toàn đứng đợi tôi ngoài cổng trường, hai đứa đã che chung một tấm áo mưa, lòng vui vui như còn nghe vẳng lại tiếng chế giễu của bạn bè một thuở.

 Trên sân khấu, người điều khiển chương trình đang giới thiệu những tiết mục trong đêm hội ngộ, tiếng vỗ tay rào rào, người ngồi chung bàn hỏi tôi câu gì đó làm tôi giật mình ngượng nghịu. Từ lúc biết Toàn có mặt trong đêm hội ngộ, đầu óc tôi bỗng dưng quay cuồng ngẩn ngơ, cảm tưởng đau sót của lần chia tay năm ấy như hiện về trong trí nhớ, suốt cả đời tôi không hề mong mỏi một lần hạnh ngộ .

Định mệnh. Tôi thường tin vào hai chữ định mệnh để an ủi mình khi sinh ra trong một gia đình nghèo với bao điều bất hạnh, dù suốt cả đời tôi chưa hề làm điều gì bất nghĩa. Toàn và tôi gặp nhau thật tình cờ với những bài thơ đăng trên Đặc San của trường năm đó. Anh học hơn tôi hai lớp, là một trong những cây bút khá nổi tiếng với những bài thơ hay. Tôi là người ngưỡng mộ và cũng đang tập tành viết lách, thơ của Toàn như nói hộ giùm tôi những trăn trở của tuổi trẻ về quê hương, khi chúng tôi đang sống trong đất nước chiến tranh, với cái nhìn hoài nghi về tương lai. Hai tâm hồn văn nghệ gặp nhau, quý mến nhau, để rồi thương yêu nhau đó là chuyện tự nhiên của thế giới học trò.

Chỉ có điều là tôi quá vô tư để không nhìn thấy trở ngại, giữa tôi và chàng lại có hai hoàn cảnh khác biệt hẳn nhau. Toàn may mắn sinh ra trong một gia đình giàu, có tiếng tăm trong xã hội lúc bấy giờ, trong khi đó ba tôi chỉ là người lính tầm thường rong ruổi suốt bốn vùng chiến thuật. Mẹ con tôi cứ lẽo đẽo theo ba từ đơn vị này tới đơn vị khác, mãi tới khi đám con khôn lớn cần phải có một nơi cố định học hành, một mình ba tôi ra đơn vị, để vợ con ở lại trú ngụ trong một xóm nghèo đa số là dân lao động, những con đường ngoằn nghoèo trong ngõ hẻm với những mái lá, mái tôn tối tăm, chật chội.

Tôi vẫn nhớ ngôi biệt thự xinh đẹp có tường vây xung quanh trên con đường rợp bóng sao, có giàn hoa tigôn màu hồng nhạt leo quanh chiếc cổng sắt sơn trắng, đấy là ngôi nhà của cha mẹ Toàn. Mỗi lần đi ngang qua đấy, tôi vẫn mang chút tự ty mặc cảm để không dám nhìn vào hai cánh cổng sắt đóng im ỉm. Tôi biết Toàn có một đời sống no đủ và sung sướng, khác biệt hẳn cuộc sống của tôi, đứa con gái nhà nghèo, con một người lính trận, lúc nào cũng đối diện với hiểm nguy và nỗi chết.

Biết tôi nghèo như thế nhưng Toàn vẫn yêu tôi, với tất cả sự nồng nhiệt cuả tình yêu tuổi trẻ, Toàn không hề nghĩ rằng đấy là một trong những trở ngại mà hai đứa gặp phải, để có ngày phải chia tay nhau mãi mãi. Những ngày đi học, Toàn thường đứng chờ tôi trước cổng trường, dù nắng hay là mưa, chàng đưa tôi về trên những lối ngõ quanh co , tặng nhau những bài thơ tuổi học trò thơm ngát tình yêu ngây thơ, trong sáng.

Tôi vẫn hồn nhiên sống trọn vẹn với tình yêu tuổi học trò, dù đôi lần vô tình bắt gặp cái nhìn khinh khỉnh của cô em gái Toàn cùng học một trường với tôi. Mỗi lần bắt gặp Toàn đứng đón tôi ở cổng trường, dù năm ấy anh vừa lên Đại Học, cô bé lại phóng cho tôi một cái nhìn đầy vẻ miệt thị, khiến Toàn cũng ngượng ngùng không biết nói gì cho không khí bớt phần căng thẳng.

Không biết những gì đã xảy ra trong gia đình chàng lúc ấy, nhưng tôi linh cảm có sự chống đốí ngấm ngầm của cha mẹ Toàn, khi biết Toàn đã yêu một đứa con gái nhà nghèo, con của một người lính già không tên tuổi. Tuy biết phận mình, nhưng những cuốn hút sôi nổi của tình yêu tuổi trẻ tôi vẫn không chống đỡ nổi tình yêu đó, chỉ biết cố gắng học để hy vọng trong tương lai, tôi sẽ thoát khỏi hoàn cảnh nghèo khổ hiện tại, nhất là để đỡ đần gánh nặng cho ba mẹ tôi trong lúc tuổi già.

Mùa hè năm ấy, mùa hè có những trận đánh từ nơi chiến trường xa, ba tôi theo đoàn quân tiếp viện cho đơn vị bạn ngoài địa đầu chiến tuyến, cũng để bảo vệ cho những người thành phố được sống một cuộc đời yên vui, hạnh phúc. Sự bất hạnh luôn luôn đeo đuổi những cảnh đời cùng khổ, ba tôi ngã xuống vào mùa hè năm ấy, mẹ tôi đã ngất đi không biết bao nhiêu lần khi dẫn đám con dại đi nhận xác chồng trong nhà quàn của Quân Y viện.

Chiều hôm ấy, cũng một buổi chiều mưa rơi tầm tã, trên mái tóc xanh tôi quấn vội vã mảnh khăn tang, nhìn mẹ bằn bặt trong tiếng nức nở đến xé lòng, rũ xuống như một tàu lá đổ trước nấm mộ của ba tôi. Tất cả là một chấm hết cho đời người góa phụ, là nỗi mất mát lớn lao cho lũ con thơ, kể từ đây, ba tôi đã vắng mặt vĩnh viễn trên cõi đời này, mãi mãi và mãi mãi.

Đêm mưa. Nhìn ảnh ba tôi trong màu áo trận, trên bàn thờ nhòa nhạt khói nhang, tôi vẫn ngỡ ba tôi còn sống và đang băn khoăn, ái ngại cho hoàn cảnh bi đát của vợ con giữa thời buổi chiến tranh, cùng bao nhiêu cạm bẫy, cam go của cuộc đời. Mưa vẫn rơi đều trên mái lá, càng về khuya càng não nùng như những lời tỉ tê, tiếng mưa tí tách từng giọt buồn tênh rớt xuống chiếc thau nhôm hứng những giọt mưa từ mái nhà giột ẩm ướt, như những giọt lệ tủi buồn của đứa con gái mồ côi rớt xuống cõi đời hiu quạnh.

Số tiền tử tuất của ba tôi quá ít ỏi, chỉ đủ cho mẹ tôi mở một tiệm tạp hóa nho nhỏ, bán đủ thứ than củi, mắm muối cho những người hàng xóm trong khu lao động lúc nhúc những mảnh đời khốn khổ. Cái quán nghèo nàn ấy càng ngày càng thâm thủng đi vì sự đau ốm của mẹ tôi, cùng sức ăn của bầy em đang tuổi lớn.

Cố gắng hết niên học, tôi quyết định bỏ học đi làm giúp đỡ mẹ. Mảnh bằng Tú Tài I chưa đủ cho tôi có một hành trang vững chãi bước vào đời, nhưng tôi không thể nào chịu nổi khi mỗi đêm trời giông bão, căn nhà lá nghèo nàn, dột nát như muốn đổ xuống dưới sức gió của đêm mưa, mẹ tôi phải lẩm nhẩm tính toán suốt ngày những đồng thu chi trong cái vốn cỏn con ấy, rồi nó cũng sẽ mất đi lúc nào chẳng biết. Nghĩ đến Toàn và căn nhà xinh đẹp của gia đình chàng, tôi lại thấy nghẹn ở ngực. Tình yêu Toàn dành cho tôi vẫn không thay đổi, vẫn đầy tràn hơn bao giờ hết, nhưng mặc cảm trong lòng đứa con gái nhà nghèo vẫn làm tôi tủi thân, để có cảm tưởng là cả hai đứa khó nắm được tình yêu cho nhau, khi gia đình hai bên quá khác biệt.

Không dễ gì tìm một việc làm tương đối trong thời buổi ấy, là con một tử sĩ, tôi chỉ có thể xin một việc làm khiêm nhượng trong hệ thống quân đội, hoặc làm một chân thư ký đánh máy trong căn cứ Mỹ đang chiến đấu ở Việt Nam. Tôi suy nghĩ rất nhiều, cuối cùng nhờ một người bà con, tôi cũng xin được một việc làm cho quân đội Mỹ. Nói sao cho hết cái mặc cảm của đứa con gái Việt Nam ra vô mỗi ngày nơi căn cứ Mỹ, phải nhận những cái nhìn nghi kỵ phẩm giá của người đồng chủng, nhưng cứ đến kỳ lương cầm những đồng tiền trong chiếc bao thư về nhà cho mẹ, tôi mừng rỡ hơn bao giờ hết, vì biết từ nay có thể thay ba để lo cho lũ em dại.

Nhưng điều ấy lại không đem lại may mắn cho tôi trong tình yêu, khi chính Toàn ngại ngần mãi rồi mới nói cho tôi biết cái trở ngại trong tình cảm của hai đứa, nếu tôi cứ tiếp tục đi làm sở Mỹ. Cái nghèo đã là một cái tội, huống chi đứa con gái nào đi làm sở Mỹ trong thời buổi ấy cũng tự nhiên gánh thêm một cái tội nữa trên đầu, dù chưa làm gì nên tội, nhất là đối với những gia đình trưởng giả, nhiều thành kiến như gia đình Toàn.

Toàn khổ sở vì yêu tôi, vì những thành kiến ích kỷ của gia đình chàng, nhưng liệu chàng có cách gì để giúp tôi thoát ra cái bế tắc của cảnh nghèo hiện tại. Với sự giàu có, dư dả của cha mẹ chàng, Toàn đâu thể hình dung nổi cái khổ của đám người cùng đinh trong xã hội, mà mỗi miếng cơm là những giọt mồ hôi ướt đầm manh áo vá. Chàng làm sao thấy hết được, tôi đã phải gò lưng trên chiếc xe cọc cạch chất đầy than củi, mắm muối, mùi hôi hám của những thứ thực phẩm nhà nghèo ấy làm cho tôi trông càng thê thảm hơn. Có bao giờ trong căn biệt thự sáng trưng ánh đèn, văng vẳng điệu nhạc dặt dìu êm dịu, Toàn có biết lúc ấy lũ em tôi đã phải vật lộn với sách vở dưới ngọn đèn đỏ quạch, không đủ soi sáng cho những hàng chữ của bài học.

Gia đình Toàn vốn đã không ưa tôi ở cái nghèo, nay lại thêm một yếu tố nữa để bắt chàng đoạn tuyệt. Có lúc quẩn quanh Toàn nghĩ đến chuyện hai đứa đem nhau đi thật xa, đến một phương trời nào đó, xa loài người, xa cuộc đời, gạt bỏ tất cả thành kiến hẹp hòi của những người xung quanh. Tôi đâu có can đảm để làm điều ấy, khi nghĩ mình đâu có tội tình gì, nếu không phải chỉ vì nghèo để không được yêu. Hơn nữa tôi còn một bà mẹ đau khổ và một bầy em cần nương tựa, tôi không thể sống chết với một mối tình mà bỏ bê mẹ và các em. Thôi thì đành chia tay, để Toàn được yên tâm học hành và để cha mẹ chàng được vui vẻ sắp xếp cuộc đời của con họ. Tôi ngậm ngùi cắt đứt mối tình học trò, phải nói những lời phũ phàng chát đắng với Toàn để rồi lại khóc vùi một mình trong những đêm không ngủ.

Không biết Toàn nghĩ gì về tôi lúc đó, nhưng tôi chấp nhận xa chàng để được trọn vẹn cả hai phía, cho gia đình tôi cũng như gia đình chàng. Một thời gian sau tôi nghe tin Toàn bỏ học, gia nhập quân đội dù gia đình chàng dư sức lo cho chàng ăn học đến nơi đến chốn. Tôi không hề trách anh, vì cả hai đứa cùng là nạn nhân của một xã hội hẹp hòi ích kỷ, nhưng từ lúc ấy, tôi không còn cái mơ mộng để tin rằng tình yêu sẽ mang đến niềm vui cho cuộc đời, lòng bỗng dửng dưng như giọt mưa buồn tênh rớt xuống hiên nhà rồi trôi đi biền biệt.

Không biết may hay rủi, vào những ngày cuối tháng tư năm ấy, tôi vội vã rời xa quê hương theo diện nhân viên sở Mỹ, trong một chuyến bay cuối cùng đến đảo Guam. Mẹ tôi nhất định ở lại vì nấm mộ của chồng trong nghĩa trang quân đội, một thân nơi đất khách quê người, tôi phải tìm nơi nương tựa. Chồng tôi là một cựu chiến binh Hoa Kỳ từng tham chiến ở Việt Nam, nay làm việc trong cơ quan thiện nguyện. Người đàn ông có màu mắt mênh mông như biển khơi, đã chia xẻ với tôi suốt những tháng năm tôi lạc loài nơi xứ lạ, để tôi nguôi ngoai những đau buồn trong quá khứ.

 

Đêm hội ngộ tiếp theo với màn văn nghệ “cây nhà lá vườn” thật vui mà cũng thật cảm động, tôi có cảm tưởng mình đang dự một đêm liên hoan trong sân trường những mùa hè năm xưa. Trên sân khấu, những người bạn đồng môn muôn năm cũ đang thi thố tài năng của mình, không màu mè kiểu cách.

Tôi ngỡ ngàng thấy Toàn đã đứng trên sân khấu tự bao giờ. Vẫn một cung cách giản dị và vững chãi, Toàn đang nói mấy lời ngắn ngủi về bài thơ của chàng ba mươi năm trước, bài thơ mà chàng đã đọc cho tôi nghe khi hai đứa đứng trú mưa dưới mái hiên một căn phố cũ. Có một cái gì làm tay chân tôi tê dại, nghe được cả tiếng đập của con tim đang thổn thức trong lồng ngực. . . 

" Trời vào mưa rồi em

 Mưa sáng, mưa chiều, mưa ngày, mưa đêm

Tiếng mưa nức nở, đau nhức về khuya

Như lời thì thầm anh yêu em . . ."

 

Trái tim tôi như muốn òa vỡ khi nhớ lại bài thơ tình ba mươi năm trước Toàn đang đọc trong đêm Hội Ngộ. Làm sao tôi có thể nào quên, từng lời thơ như xoáy vào tim khiến tôi nhớ lại buổi chiều năm ấy, hai đứa che chung một tấm áo mưa, đi dưới trời mưa bay bay khi gió từ bến sông thổi vào lồng lộng. Hai đứa nép vào nhau, nghe ấm áp nồng nàn trong từng hơi thở, từng nhịp đập của trái tim rộn rã, từng tiếng cười khúc khích mặc cho gió mưa lạnh lẽo. . .

Toàn vẫn say sưa với những âm thanh vang vọng từ ngày trẻ tuổi, như chàng đang lướt nhẹ trong trái tim tôi phím tơ chùng năm cũ cho một cung đàn dở dang, tiếng ngân như những vết đau dù đã hàn gắn với thời gian, sao đêm nay tôi nghe như dư âm tiếng thổn thức của lần chia xa năm ấy. Trên sân khấu, giọng chàng mượt mà trong mấy vần lục bát, nghe như một điều gửi gấm từ trái tim, với một nỗi đau chất ngất. . .

"Đôi khi nhìn mãi lên trời

Tìm trong mây ảo bóng người năm xưa

Nghe vườn rung lá thu mưa

Lao xao trong nắng lời xưa thầm thì

Kể từ gió cuốn mây đi

Đời xa, xa mãi mong gì thấy nhau..."

( thơ NN)

Bài thơ còn dài với giọng ngâm trầm ấm năm nào, như những giọt mưa rơi ướt sũng xuống đôi mắt tôi. Tai tôi như ù đi, mỗi một lời thơ như một giọt nước mắt chảy ngược vào tim khiến tôi ngồi chết lặng. Có phải chàng đang đi tìm kiếm lại cố nhân với chút hy vọng mong manh nào đó, mặc dù tôi đang ngồi trong góc tối này với những giọt nước mắt. Chắc không ai nhìn thấy tôi khóc. Bây giờ thì tôi đã hiểu, trong lòng chàng cũng như trong lòng tôi, cái tình yêu ấm áp và đau đớn thuở ban đầu ấy vẫn không bao giờ tan biến, dù giờ đây cuộc đời hai đứa đã là hai nhánh sông ngậm ngùi trôi theo những bến bờ xa lạ. Xung quanh tôi giờ đây im lặng quá, đâu đây nghe như có tiếng thở dài để xót thương cho một cuộc tình không trọn. . .

Các bạn đồng môn đang trao nhau những cuốn giai phẩm mùa hè Toronto, ai nấy hối hả và chăm chú lật từng trang, nhìn từng tấm ảnh cũ và mới, họ đang cố tìm một vài nhân ảnh đã mịt mờ trong quá khứ. Cầm cuốn Giai Phẩm với trang bìa là hình ảnh cô nữ sinh kiều mị trước sân trường, những bướm hoa ngày cũ, dãy hành lang vàng đục, từng ô cửa và tiếng phấn rít trên bảng đen như hiện về trong trí nhớ, Tôi thấy tôi ngày xưa, tôi thấy Toàn ngày xưa, tôi thấy những giọt mưa rớt xuống sân cỏ non giăng giăng nhạt nhòa trong mắt tôi một màn lệ mỏng.

Không, tôi không muốn gặp chàng đêm nay, dù chàng đã đến đây, đã khơi lại trong trái tim đau những ngất ngây ngày cũ, những đắng cay của một mối tình học trò đằm đẵm những kỷ niệm xót xa. Kỷ niệm vẫn chỉ là kỷ niệm, khi những nhánh sông đã rẽ ra trăm ngàn hướng đời khác biệt, để mỗi lúc nhớ đến nhau, lòng chỉ vẫn rưng rưng với những hình bóng cũ. Nếu có lúc nào đó, sông bốc lên thành mây, thì tôi mơ được là mưa trên mái trường xưa, một lần nữa xôn xao trên mái tóc xanh tuổi học trò.

Tôi bỏ ra về trước khi đêm hội ngộ bế mạc, không một lần gặp lại người tình năm xưa. Đêm Toronto mát lạnh dù đang giữa mùa hè, suốt đêm tôi chập chờn không ngủ, gần sáng lại thiếp đi với một giấc mơ lạ lùng, nghe như có tiếng mưa rơi rào rào trên tấm áo mưa ngày nào. Mở cửa bước ra ngoài hành lang của khách sạn, tôi mới biết đêm qua trời mưa, những vũng nước mưa còn ướt sũng trên mặt đường, gió từ Ngũ Đại Hồ lồng lộng thổi đem cái lạnh hắt hiu vào lòng người, như cái lạnh của cơn mưa chiều năm xưa.

Thu xếp hành lý ra phi trường cho kịp chuyến bay lúc mười giờ, tự nhiên tôi lại khóc, những giọt nước mắt cứ ứa ra trên viền mi, nào ai biết, nào ai hay. Giã từ Toronto, giã từ bạn bè gần xa, giã từ hình ảnh người yêu thuở học trò một đêm hội ngộ, từ đây cho mãi đến nghìn sau, tôi vẫn là nhánh sông ngậm ngùi, để nuối tiếc hoài hoài những tháng ngày tuổi mộng.

 

 NGUYÊN NHUNG

------

Ngọc Lan st

 

Xem thêm...

Truyện Ngắn: TRĂNG LẠNH

TRĂNG LẠNH

~~~~<❤️>~~~~

Chiều nào cũng vậy, sau khi dùng cơm tại phòng Romeo and Juliet, Kiều-Lam thích đợi ánh hoàng hôn về để lên phòng Windjammer Café nơi tầng 9 của du thuyền Legend of the Seas nghe anh chàng người Gia-Nã-Đại độc tấu Tây-Ban-Cầm; dù du thuyền có đến ba khu vực khác nữa để các nghệ sĩ luân phiên trình diễn mỗi đêm.

Tối nay trong phòng Windjammer Café này chỉ còn lác đác vài người và Kiều-Lam; vì đa số du khách đã đi bờ  – danh từ của Hải-Quân, có nghĩa là rời tàu, rời đơn vị để đi phố – từ sau khi du thuyền cặp bến. Vậy mà anh chàng Canadian cũng vẫn không để ý, chỉ say sưa đàn, thỉnh thoảng lại tự tạo những biến âm rất lạ, dễ cuốn hút người hiểu nhạc. 

Vì ít người, thừa bàn, Kiều-Lam chọn chiếc bàn nơi góc, gần chỗ người nhạc công tài hoa đang ngồi, để nhìn mái tóc dài màu cát vàng của anh lóng lánh dưới ánh đèn spotlights. Anh vẫn ngồi trên bục gỗ cao. Đầu anh nghiêng nghiêng, mắt nhìn vào phím đàn nơi bàn tay trái và mái tóc anh lay động nhẹ theo từng chuỗi âm thanh. Thỉnh thoảng đôi kính mắt của anh lóe lên vì ánh đèn phản chiếu lúc anh ngẫng lên để hất nhẹ mái tóc ra phía sau. Đôi khi vai anh cũng lắc nhè nhẹ theo những cung đàn vui. Khi dạo những đoản khúc buồn, đầu anh hơi cúi xuống để ánh đèn nhạt nhòa từ trên trần cao tạo nên những nét khắc khổ, rã rời trên khuôn mặt hơi dài của anh. Nếu màu tóc của anh đậm hơn một tý, Kiều-Lam nghĩ, nàng sẽ nhầm anh với John Lennon, một thiên tài về âm nhạc của The Beatles. 

Nhân lúc anh bồi bàn đến mời dùng thức uống, Kiều-Lam nhờ anh yêu cầu anh chàng Canadian độc tấu nhạc khúc La Cumparsita(1). Kiều-Lam lắng nghe, tưởng như tiếng đàn quyện với hồn nàng. Và trong thoáng chốc, nàng cảm thấy hồn nàng vượt cao, cao hơn hẳn mọi phủ phàng và tệ bạc mà đời đã vùi dập nàng bấy lâu nay. Kiều-Lam vui và lòng thanh thản như ngày bé thơ, thường lắng nghe người anh họ – Phạm Đình Phê – đệm đàn tập cho nàng hát. Bây giờ nàng không hát được cho nên nàng chỉ gật gật nhè nhẹ theo điệu Tango rộn rã. 

Khi bản Tango sắp dứt, Kiều-Lam nhìn anh chàng Canadian. Lúc anh ngẫng lên, vô tình hướng về phía nàng, nàng khẽ cúi đầu, mỉm cười và đưa bàn tay hơi cao hơn bình hoa Pansy trên bàn một tý, rồi vẫy nhẹ để tỏ dấu cảm ơn. Anh cũng mỉm cười, nhắp nháy mắt tỏ dấu nhận hiểu.  

Sau đó anh chuyển sang điệu Moderato với tình khúc Second Piano Concerto (2). Từ bản nhạc này anh tiếp luôn bản khác một cách liên tục và tài tình cho đến nổi phải đến vài phân đoạn Kiều-Lam mới nhận ra được đó là đoản khúc Melody In F (3). Anh cứ tiếp tục đàn những tình khúc quen cho nên Kiều-Lam vừa ngân nga theo rất nhỏ, chỉ đủ một mình nàng nghe, vừa lơ đểnh nhìn ngọn núi Mt. Juneau sừng sững ngang tầm mắt. 

 

 Mt. Juneau Alaska

Trong thoáng chốc, dáng vẻ hùng vỹ của Mt. Juneau và những ngọn núi xa xa chìm vào màn đêm; chỉ còn những vùng tuyết ẩn hiện lờ mờ trên đỉnh núi cao, từ xa trông như những áng mây không di động. Dưới xa, sát chân núi Mt. Juneau là nhà hàng và cửa hàng bán quà kỷ niệm. 

Du khách nhàn tản bước dọc theo những cửa hàng bán quà kỷ niệm. Kiều-Lam nghĩ, nếu không có ánh đèn từ các cửa hàng và của những trụ đèn đường soi rõ con đường nhựa duy nhất và bãi đậu xe nhỏ nhắn chia cách khu phố và du thuyền thì nàng khó có thể phân biệt được bên nào là biển và bên nào là núi Mt. Juneau.

Từ sau khi rời tảng băng Hubbard Glacier cho đến bây giờ, Kiều-Lam không thể nhớ được du thuyền đã len lõi qua bao nhiêu chân núi. Nhưng không hiểu tại sao nơi chân núi này, với khu phố hẹp mang tên Juneau, nàng lại cảm thấy bồi hồi như nàng vừa đánh mất hoặc là vừa tìm lại được cái gì rất thân thương, rất gần gủi. 

Trong khi Kiều-Lam chưa phân tích được tâm trạng của mình thì nàng chợt nhận ra tiếng Tây-Ban-Cầm của anh chàng Canadian lại chuyển sang một điệu Tango. Nghe quen lắm, nhưng nàng không nhớ được tựa đề của bản nhạc. Mãi đến lúc anh ngẫng lên, mái tóc vàng lay động hơi dồn dập và nét mặt của anh phảng phất niềm vui như nét mặt của một người vừa trở về sau một chuyến viễn du, Kiều-Lam mới nhớ ra đó là nhạc khúc La Paloma (4).

Nhạc khúc này, khu phố hẹp và mặt nước lóng lánh ánh đèn dưới xa như gợi lại trong hồn Kiều-Lam một vùng biển xưa; nơi đó nàng đã để lại những ngày thơ ấu êm đềm, những mối tình một chiều, một mối tình câm – mà sau này vô tình nàng mới hiểu được – và chỉ mang theo được một cuộc tình nhiều đắng cay!

Những ngày thơ ấu nơi vùng biển xưa đó, cuối tuần, nhóm bạn cùng lứa thường rủ Kiều-Lam đạp xe đạp xuống một khu phố hẹp sát chân núi, bên kia con dốc nhỏ, cuối con đường sát bờ biển để ngắm những chú cá âm thầm bơi lội trong tủ kính của Hải Học Viện. Nhiều khi các bạn và nàng đạp xe xuống khu phố đó không phải để ngắm cá trong Hải Học Viện mà chỉ để đi “cà-rơ” dưới mấy cây bàng cằn cỗi dọc theo con đường nhựa duy nhất chia cách dãy phố buồn hiu và những ghềnh đá chơ vơ của một vùng biển nghèo, tên là Cầu-Đá.

Một chiều nọ, tại Cầu-Đá, trong lúc cùng nhóm bạn lựa mua cái kẹp tóc bằng đồi mồi nơi cửa hàng bán quà kỷ niệm, Kiều-Lam nghe một giọng nam rất êm ái: 

-Cô ơi, cô! Xin lỗi, cô làm ơn cho tôi hỏi thăm. 

Cả nhóm vội ngẩng lên, vì không biết ông ấy hỏi đứa nào. Kiều-Lam nhận ra đây là một thanh niên cao, đeo kính cận, dáng vẻ rất chững chạc. Thanh niên nhìn Kiều-Lam, tiếp: 

-Có phải cô là người có tấm ảnh chưng trong tủ kính nơi hiệu ảnh Mai-Ngôn hay không?

Kiều-Lam thoáng bối rối, chưa biết nên nhận hay nên chối; nếu nhận thì hơi mắc cỡ mà chối thì khó quá; vì không quen nói dối. Các bạn đều biết tính Kiều-Lam nhút nhát, bây giờ thấy rõ nàng đang lúng túng cho nên vài đứa đáp hộ: 

-Dạ, nó đó. Nó đó. Nó là... “thủ phạm” đó!

Nói xong nhóm bạn tựa vai nhau, cười một cách thích thú. Thanh niên cũng cười. Kiều-Lam chưa kịp làm mặt giận với các bạn thì bà chủ cửa hàng bán quà kỷ niệm từ ngoài bước vào. Thấy thanh niên đang cười vui với mấy cô học sinh, bà vồn vả: 

-Trời, Vũ! Sao con không mời các cô ấy vào trong nhà mà chuyện trò? Ở ngoài khách khứa ồn ào lắm, con.

Các cô nhìn nhau, không biết thối thoát bằng cách nào. Thanh niên cũng nhìn các cô rồi cười chứ chưa biết phải đáp lời Mẹ như thế nào. Xoay sang các cô, bà tiếp, giọng rất hãnh diện: 

 -Con thứ hai của tôi đấy. Anh ấy học ở Saigon, thỉng thoảng về thăm Mẹ vài hôm rồi lại trở vào Saigon học. Anh ấy hiền, ít nói mà lại chăm học lắm nên chẳng quen biết nhiều; quen được với các cô là quý lắm đó.

Bà quay sang Vũ, tiếp: 

-Con mời các cô ấy vào trong xơi nước đi, con!

Vũ mời nhóm bạn của Kiều-Lam và nàng vào phòng khách, ngay sau bức rèm cửa được làm bằng giấy của những tấm vé số kiến thiết vo tròn và xâu thành chuỗi. Kiều-Lam không hiểu vô tình hay cố ý, Vũ ngồi cạnh nàng. 

 

Sau khi mọi người tự giới thiệu, Kiều-Lam mới biết Vũ đang theo học Y Khoa, năm thứ tư. Các bạn “láu cá” của nàng hỏi Vũ về sự khác biệt giữa đại học Saigon, Huế và Dalat; về những phân khoa nào thích hợp cho con gái; về một Saigon mà các cô luôn luôn ước mơ sẽ có ngày được đặt chân tới. Vũ giải đáp rất tường tận và từ tốn. Thấy Kiều-Lam không nói gì, Vũ hỏi: 

-Còn Kiều-Lam? Sao không nói gì hết vậy? 

Vũ hỏi hơi bất ngờ khiến nàng mất bình tĩnh. Để che giấu sự mất bình tĩnh và sự nhút nhát của mình, Kiều-Lam chỉ guitar trong bọc vải, treo trên tường và hỏi một câu rất lạc đề: 

-Ai chơi guitar vậy, anh? 

Vũ cười rất hiền hòa: 

-Tôi, nhưng còn non lắm!

Chỉ vậy, rồi Kiều-Lam lại ngồi im để các bạn trổ tài ngoại giao. Một lúc sau Vũ lại nói với Kiều-Lam: 

-Từ khi gặp Kiều-Lam tôi mới biết tôi không phải là người ít nói như bà cụ của tôi thường bảo. 

Trong khi Kiều-Lam chỉ cười một cách e thẹn thì nhóm bạn nhao nhao lên phá: 

-Nó để dành hơi để hát đó. 

Vũ cười, nhìn Kiều-Lam. Nàng nhìn xuống đôi guốc Dakao màu trắng, tay vân vê quai nón màu hồng nhạt. 

Khi tiễn các cô ra chỗ dựng xe đạp, Vũ nói nhỏ với Kiều-Lam trong khi nàng đang loay hoay mở khóa xe: 

-Ước gì tôi được nghe Kiều-Lam hát, dù chỉ một câu thôi.

Kiều-Lam chỉ biết cười và lý nhí cảm ơn.

Trên đường về, nhóm bạn gái chia tay nhau trước Grand Hotel. Kiều-Lam đạp xe chầm chậm dọc con đường sát bờ biển để nhìn những cụm thông im lìm/để thấy lá bàng bay bay/để nghe tiếng sóng thì thầm hoà với tiếng guitar độc tấu phát ra từ những máy khuyếch đại âm thanh do đài phát thanh gắn trên mỗi cây bàng. Máy khuyếch đại âm thanh này thường bị rè nên đã làm giảm đi rất nhiều giá trị nghệ thuật; nhưng không hề gì. Đối với Kiều-Lam, lúc đó, giá trị nghệ thuật không cần thiết; nàng chỉ muốn, cùng một lúc, được nhìn lá bàng bay, được nghe tiếng sóng rì rào để tiếng Tây-Ban-Cầm-không-đối-thủ của Phạm Đình Phê trong những nhạc khúc ngoại quốc, dẫn dắt hồn nàng đến những bến bờ xa xăm mà khối óc đầy mơ mộng của nàng cứ nghĩ trong đời có lẽ không bao giờ nàng có thể đến được. Không ngờ, sau khi đến được những bến bờ mà ngày xưa nàng từng mơ ước thì Kiều-Lam mới ý thức được rằng chỉ có một nơi không thể nào nàng tìm lại được, đó là bến xưa!

Vì muốn tìm lại bến xưa, Kiều-Lam đã trở về chốn cũ, nhưng không còn gì; có còn chăng là một eo biển vắng với những gốc cây bàng sần sùi cố bám rễ vào con đường nhựa lỡ lói trước một dãy phố lụp xụp, tiêu điều! 

 

Juneau Alaska

Juneau ơi! Kiều-Lam tự nhủ, nếu Juneau có được vài cây bàng, nếu ngọn núi mà Juneau tựa lưng vào hơi nhỏ hơn một tý và nét kiến trúc của Juneau bớt diêm dúa đi thì nàng sẽ quyến luyến Juneau biết dường nào; vì Jeneau mang được nhiều nét thân thương của một bến xưa mà hồn nàng luôn luôn trân quý!

Dòng ý tưởng của nàng vừa đến đây, Kiều-Lam chợt nghe một giai điệu rất thiết tha/rất dạt dào và rồi tiếng hát hơi khàn và đục của anh chàng Canadian: 

“Feelings, 

Nothing more than feelings, 

Trying to forget my feelings of love...” (5) 

 Đây là tình khúc Kiều-Lam đã yêu cầu anh chàng Canadian độc tấu ngay đêm đầu tiên khi du thuyền vừa rời hải cảng Seward. 

Đêm đó chàng Canadian chỉ đàn. Đêm nay anh vừa đàn vừa hát. Lời ca quyện với tiếng đàn khiến hồn Kiều-Lam chơi vơi trong dòng kỷ niệm ngập ngụa ưu phiền.

Tự dưng Kiều-Lam thảng thốt nhận ra trạng thái tình cảm này dường như cũng đã đến với nàng, nhưng không nhớ vào thời điểm nào. Phải một lúc khá lâu Kiều-Lam mới nhớ được, đó là một buổi chiều chủ nhật, khi nàng đang treo máy sưởi trong nhà ươm lan. Lúc treo xong cái máy sưởi cuối cùng, trong khi nàng đang nhìn khoảng cách từ máy sưởi đến giò Dendrobium gần nhất để lượng định ảnh hưởng của hơi nóng từ máy sưởi đến giò lan thì chợt nghe tiếng hát trong suốt, ngọt ngào văng vẳng trong không gian im vắng: 

“...Đêm nghe tiếng thở dài. 

Đêm nghe những ngậm ngùi...” 

Kiều-Lam đứng lặng, nhìn ra khoảng sân rộng với cõi lòng rưng rức như cõi lòng của người vợ trẻ, ngày xưa, thường lên sân thượng, nhìn về phương trời xa mong chờ bóng dáng một người...Tiếng hát của cô gái vẫn êm ái mượt mà nhưng hồn Kiều-Lam lại giao động từng hồi. Sau này vô tình Kiều-Lam mới biết người hát tình khúc đó là ca sĩ Diễm-Liên, nhưng Kiều-Lam không nhớ tựa đề của bản nhạc. 

Kiều-Lam không nhớ chiều hôm đó nàng có đủ can đảm nghe Diễm-Liên hát hết ca khúc ấy hay là nàng phải đóng cửa vườn lan để khỏi bị tiếng hát khơi lại nỗi đau xưa. Nhưng bây giờ, trong trạng thái tình cảm này, nàng muốn nghe lại tiếng hát ấy để tìm lại chút dư vị đắng cay mà nàng không hiểu nghị lực nào đã giúp nàng chịu đựng được suốt mấy mươi năm dài! 

Trở về phòng, trong khi tìm cassette, earphones và những cuộn băng có Diễm-Liên hát, Kiều-Lam thầm nghĩ đến các con, dâu và rể của nàng – những người đã, không những tặng nàng vé du lịch mỗi năm mà còn sắp sẵn vào va-li những gì nàng cần và những gì nàng thích.

 

Vừa rời thang máy Kiều-Lam vừa nghĩ, trời lành lạnh, đi lang thang trên vùng đất mang nhiều nét thân thương của một vùng biển xưa và lắng nghe giọng ca tha thiết của Diễm-Liên sẽ là niềm thú vị vô biên. Bằng lòng với niềm vui nhỏ nhoi đó, nàng gắn earphones vào tai, mở nút “on” nơi cassette rồi cho cassette và hai tay vào túi áo lạnh. 

Chưa kịp đặt chân lên tấm thảm đỏ dẫn ra cầu thang, Kiều-Lam nghe ai nói gì đó rồi một cánh tay lực lưỡng, màu nâu sậm, chận nàng lại. Kiều-Lam vội lấy earphones ra, nhìn người đã chận nàng: 

- Xin lỗi, ông nói gì?

Anh chàng Mỹ đen cười vui, chỉ vào cái máy kiểm soát, pha trò: 

- Có lẽ bà đang thưởng thức một đoạn nhạc tuyệt vời cho nên bà quên cho thẻ an ninh của bà vào máy trước khi bà rời du thuyền.

Không bận tâm về tính đảng trí của mình, Kiều-Lam lý nhí lời xin lỗi rồi làm theo lời nhân viên kiểm soát an ninh. 

Xoay người ra cầu thang, bước ngược chiều với những du khách trở về, Kiều-Lam nghe loáng thoáng lời chúc của anh chàng kiểm soát an ninh: “Hãy có một buổi tối tuyệt đẹp” mà không biết anh chúc nàng và những người rời du thuyền hay anh chúc những người vừa đi bờ về.

Trong khi du khách đi dần về hướng phố thì Kiều-Lam đi dọc theo cầu tàu, nơi du thuyền đang cặp, để được thảnh thơi một mình, lắng hồn vào tiếng hát, lời ca. 

 Kiều-Lam đến bên chiếc cầu gỗ dẫn xuống bến tàu; nơi đó vài chiếc du thuyền nhỏ và mấy chiếc canoes đang nhấp nhô như đợi thủy triều dâng. Kiều-Lam nhìn lại hướng chiếc Legend of the Seas và thấy cả vùng ánh sáng rực rỡ trên du thuyền phản chiếu trên mặt nước xanh thẫm. Tự dưng nàng cảm thấy nặng nơi lồng ngực và như có điều gì rưng rức trong hồn nàng! Phải một lúc sau Kiều-Lam mới nhận biết được rằng chính vùng ánh sáng trên du thuyền phản chiếu lung linh trên mặt nước đã gợi nơi hồn nàng nỗi cô đơn vô tận của những đêm lang thang một mình trên bến Bạch-Đằng. 

Những đêm đó, ánh đèn từ câu-lạc-bộ-nổi của Hải-Quân, từ những chiến hạm đang cập trước Bộ Tư Lệnh Hải-Quân và từ nhà hàng Mỹ-Cảnh, cũng phản chiếu lung linh trong dòng nước lặng lờ. Trong khi từng cặp, từng cặp sánh bước bên nhau trên bến Bạch-Đằng thì Kiều-Lam lang thang một mình để gậm nhắm nỗi đau riêng! 

Bây giờ, nỗi đau đã rơi vào trạng thái bảo hòa, nhưng tiếng hát thiết tha và giọng ngân êm ái của Diễm-Liên vẫn gợi lại trong lòng Kiều-Lam nhiều nỗi xót xa: 

 

“...Đêm từng đêm thức trắng 

Nhớ thương cuộc tình 

Chìm trong hoang vắng. 

Ôi! Tình yêu bay xa 

Vẫn chưa phai nhòa ...” (6) 

 Kiều-Lam không còn gì để nuối tiếc về một cuộc tình đầy giông bão ấy nữa; nhưng không hiểu tại sao khi nghe đoạn nhạc này nàng cũng vẫn không nén được tiếng thở dài!

Kiều-Lam ngồi lên phiến đá nhỏ cạnh chiếc cầu gỗ. Trong trạng thái vô thức, nàng đưa tay mơn man khóm fireweeds màu hồng nhạt mọc quanh phiến đá. Kiều-Lam hơi ngạc nhiên, tại sao nàng có thể nhận ra màu hồng nhạt của fireweeds khi mà nàng đã đi xa du thuyền, xa khu phố và mấy ngọn đèn đường. Nhìn quanh, nàng cũng ngạc nhiên khi thấy được, xa xa, vùng nước xanh mà lúc sáng chiếc du thuyền nhỏ đưa du khách đi tìm xem cá voi/hải cẩu và gấu. Khi nhìn lên bầu trời trong vắt Kiều-Lam mới nhận ra là trăng đã lên.

 

Nhìn ánh trăng tự dưng Kiều-Lam nhớ đến ánh trăng của đêm họp mặt tại nhà Vũ. Tối hôm đó, ánh trăng soi rõ khoảng sân rộng có cây ngọc lan và mấy cây mai tứ quý trong chậu kiễn. Vũ hái mấy đóa ngọc lan và trao tận tay nhóm bạn của Kiều-Lam. Khi Vũ đến cạnh, Kiều-Lam cũng xòe bàn tay sẵn sàng đón nhận đóa ngọc lan, nhưng Vũ không để đóa hoa vào lòng bàn tay của nàng mà Vũ lại gắn lên cái kẹp trên mái tóc của nàng. Nhóm bạn hay phá phách của kiều-Lam “ồ” lên cùng một lúc. Vũ chỉ tủm tỉm cười. Kiều-Lam mắc cở quá, chỉ biết ngồi im, cúi mặt, cười. 

Đến phần văn nghệ, nhóm bạn của Vũ đàn và hát rất sôi nổi khiến nhóm bạn của Kiều-Lam buộc nàng phải “đối phó” để khỏi bị...quê! Sau khi Kiều-Lam miễn cưỡng nhận lời, mọi người bảo Vũ thiên vị khi tặng hoa, bây giờ “phạt” Vũ, buộc Vũ phải đàn cho Kiều-Lam hát. Vũ ôm đàn, nhìn nàng, cười cười, chờ đợi. Kiều-Lam nói nhỏ: 

-Dạ, anh dạo cho Do Majeur, slow.

 Kiều-Lam hát tình khúc Trăng-Lạnh của Điệp-Linh: 

“Trăng lã lướt, 

Biết bao thu mùa ru lá rụng. 

Chiếc lá vàng 

Rơi trong tối mênh mang. 

Cùng thời gian 

Lắng trong tiếng thu tàn. 

Nhớ lại chăng đêm nào chiếc lá rơi. 

Người ơi! Nhẹ bước. 

Lạnh lùng thân chiếc lá 

Vàng khô rơi không tiếng vang...” 

Khi nghe Vũ đệm cho nàng hát Kiều-Lam mới biết Vũ là người rất thành thật khi xác nhận chàng không có ngón đàn Tây-Ban-Cầm điêu luyện. Và sau đó Kiều-Lam cũng hiểu Vũ rất thành thật khi chàng đột ngột và vụng về tỏ tình với nàng. Kiều-Lam chỉ cúi đầu, câm lặng. 

Mấy mươi năm qua Kiều-Lam vẫn không hiểu nguyên nhân nào nàng câm lặng. Mấy mươi năm qua Kiều-Lam cũng vẫn không thể hiểu được tại sao nàng không yêu Vũ! Và cũng mấy mươi năm qua, không biết bao nhiêu lần Kiều-Lam đã niệm và đã nghe niệm “Gate Gate Paragate, Parasamgate. Bodhi Svaha...” (Hãy qua, hãy qua bên bờ bên kia...) nhưng nàng cũng không hiểu tại sao nàng vẫn mãi hoài ngụp lặn trong vũng sầu! Dù chìm ngập trong vũng sầu, Kiều-Lam cũng không hiểu tại sao chưa bao giờ nàng hối tiếc là nàng đã câm lặng và đã không yêu Vũ – mà nàng chỉ hối tiếc là nàng đã gửi thiệp thành hôn của nàng đến cho Vũ! 

Bây giờ, cả vùng không gian miền Bắc bán cầu này nhuốm lạnh trong ánh trăng mơ thì trong hồn Kiều-Lam niềm hối tiếc về hành động ngây ngô, thiếu suy nghĩ của nàng ngày xưa cũng ngập tràn! Kiều-Lam thở dài ngẫng nhìn những phiến băng trên đỉnh Mt. Juneau lấp lánh ánh trăng. 

Ánh trăng soi rõ những phiến đá dị hình chia cách những khe núi thâm u. Ánh trăng soi rõ những vạt sương mong manh ẩn hiện trong rừng thông bạt ngàn. Ánh trăng soi rõ những tòa buildings nơi vùng thị tứ của Juneau, ở phía xa. Ánh trăng soi rõ mặt nước xanh thẫm của Gastineau Channel. Ánh trăng soi rõ từng lượn sóng nhấp nhô quanh mấy chiếc Canoes và du thuyền nhỏ. Ánh trăng soi rõ bóng Kiều-Lam trải nghiêng trên khóm cỏ fireweeds đẫm sương. Ánh trăng cũng soi rõ niềm cô đơn trong hồn Kiều-Lam.

Kiều-Lam thoáng rùng mình, không hiểu vì lạnh hay là vì sợ hãi niềm cô đơn. Khi nàng đứng lên, muốn trở lại du thuyền để bớt lẻ loi thì giọng ca sướt mướt của Diễm-Liên đang nức nỡ ở đoạn: 

“...Lặng lẽ đi tìm dấu em đêm dài, 

Nhịp nào gõ hồn tôi, 

Cơn mưa dạt dào, vỗ về. 

Nhiều khi, tôi tìm trong ký ức muộn phiền 

Bóng hình ai đã tan vào cõi huyền không...” (7) 

Kiều-Lam lại thở dài, nhìn bóng nàng soải dài trên nền xi-măng lạnh lẻo như nhìn vào quá khứ xa xăm để tìm xem tim nàng đã lỗi nhịp ở phân đoạn nào! 

Kiều-Lam bước đi, chiếc bóng câm lặng của nàng cũng bước theo; từ đó Kiều-Lam hiểu rằng dù tim nàng phải chịu thương tổn đến ngần nào đi nữa thì nàng cũng không thể tách rời cuộc đời còn lại của nàng ra khỏi một dĩ vãng nặng chĩu ưu phiền! 

Kiều-Lam nhìn lên triền núi Mt. Juneau. Trong vùng không gian tĩnh mịch, nàng tưởng như tiếng hát mượt mà, óng chuốt của Diễm-Liên vang xa và trở nên long lanh như những hạc sương bịn rịn trên cành thông dịu dàng…

 

ĐIỆP-MỸ-LINH

-------

 

*.- Mượn tựa nhạc phẩm Trăng-Lạnh của Ba tôi – Cụ Điệp-Linh.

1.- Của G.H. Matos Rodriguez.

2.- Của S. Rachmaninoff

3.- Của A. Rubinstein.

4.- Của Sebastian Yradier.

5.- Feelings của Morris Albert

6.- Kỷ Niệm Buồn, cassette không ghi tên tác giả.

7.- Vần Tóc Rối của Mai-Anh-Việt.

 

* Hình ảnh Internet tiểu bang Alaska 

-----

❤️Cám ơn tác giả chị Điệp Mỹ Linh đã gửi đến GNST câu chuyện hay. 

Xem thêm...

" AI CHÁO SƯỜN BÁNH DẦY ĐÂY" _ Hoài Nam Phi

" AI CHÁO SƯỜN BÁNH DẦY ĐÂY"!

 ** Hoài Nam Phi  **

Cháo sườn quẩy


Rét! Cái rét đầu mùa, đầu tháng 10 khiến người ta nhớ về thời xa vắng ấy.

Ngày ấy của những năm 60 của thế kỷ trước, trong lúc nằm co trong chiếc chăn dạ xám đen nặng chình chịch của lính Pháp in dòng chữ 1938, thằng bé nhổm đầu, rồi chồm dậy khi nghe tiếng rao quen thuộc của bà Tuyết Dương nhà ở phố trong:
- Ai cháo sườn bánh dầy đây!
- Ai cháo sườn bánh dầy nào?

Nghe tiếng rao lanh lảnh và deo dẻo của bà Tuyết, nó vội vàng tung chăn nhẩy ào xuống đất, mở chiếc cửa ra vào bằng tre nứa chạy ra ơi ới gọi:
- Bán cho cháu một bát bà Tuyết ơi!

Bà Tuyết hạ gánh cháo bên thềm, một tay ẩy cái mẹt đựng bánh dầy phủ đầy đỗ được xoe nhỏ tơi vàng ươm trên đậy một vỉ buồm đan bằng cói để lộ ra một cái nồi miệng tròn xoe, cổ đứng như cổ áo dài tân thời mà cô Việt Hồng hay mặc, tay kia vớ lấy cái bát chiết yêu, rồi ngoáy nồi cháo và múc lên cho nó một bát cháo đầy bốc khói.

Thấy mắt nó hau háu nhìn mẹt bánh dầy, lại thấy nó nuốt nước bọt ừng ực, bà với tay lấy hai chiếc, dùng cái kéo cắt ra, để lên bát cháo, bà lại dúm một nắm đậu xanh tơi vàng rắc lên bát của nó. Đủ lệ bộ, nó lấy chiếc cù dìa xúc quanh miệng bát rồi cho vào mồm nhai, nuốt ngon lành.

3 hàng cháo sườn vỉa hè đắt khách ở Hà Nội
Thấy nó mua cháo, mấy thằng trẻ con cùng phố như Việt bà Hai Trường, Hoè Quỳnh Mai, Hỷ Đồng bà Kim Chung cũng bắt mẹ cho tiền mua bằng được mỗi thằng bát cháo sườn và hai chiếc bánh dầy rắc đầy đỗ như nó. Cái vị ngọt, đậm của cháo, cái sự mềm dẻo của bánh dầy, vị thơm bùi bùi của đỗ, khiến không đứa nào dám ăn nhanh, mà cứ từ từ, nhẩn nha khoét vòng quanh chiếc bát cháo sườn, rồi đút tỏm vào mồm mà chén như một ông cụ non gãy hết răng vậy. Thằng nọ nhìn thằng kia ăn rồi " Mem mẻm mèm mem, có đứa chết thèm, ra đây tao cho một miếng", chúng chí choé, mặc cho sắp đến giờ đi học.

Bán cho mấy thằng ranh ăn xong để chúng đi học, bà Tuyết khoắng nhanh mấy chiếc bát trong cái chậu rửa bát đặt dưới cái mẹt đựng bát và cùi dìa, rồi lại đặt chiếc đòn gánh tre trên vai chân tập tễnh bươn bải lên đầu phố để bán cho những người khách quen đang đợi bà.

                 *******

Không ai biết nhà bà Tuyết bán cháo sườn từ bao giờ, chỉ biết sau năm 1954 nhà bà đi tản cư về ở phố trong trước cửa nhà ông Giáo Chi và nhà Cậu giáo Hoạt, và chỉ làm độc một nghề: bán cháo sườn, kèm bánh dầy, đúng như tiếng rao của bà mỗi sáng: " Ai cháo sườn, bánh dầy đây", ấy vậy mà gánh cháo của bà khiến cả phố nhớ, thèm được ăn mỗi sáng, nó cũng nuôi sống cả nhà bà hàng chục năm ròng.

Sau chống Pháp, dân tản cư về phố Tam Cờ đông lắm, phần đông là nhà nghèo, phố chỉ có vài nhà " Có máu mặt", đó là mấy nhà buôn, còn lại rặt là nhà làm thợ. Phố chia làm hai, phố trong và phố ngoài. Nhà bà Tuyết ở phố trong, phần lớn là người dưới Xốm, và bà con làng Gốm từ dưới xuôi lên, còn là người Hưng Yên mà bà con quen gọi là người Hương Yên, rồi vài gia đình người tỉnh khác, cùng sống ở phố này, họ làm đủ nghề để sống.

Bà Tuyết, gọi cho chính xác là bà Tuyết Dương, có lẽ ông chồng tên là Dương làm cháo sườn để bán. Cháo của bà khác hẳn những người bán cháo khác chuyên nấu bằng gạo tẻ, trộn một dúm gạo nếp cho nó sánh.

Bà nấu cháo bằng thứ gạo mà dân Mô Cao trồng trên ruộng nhà ông Cả Kỳ cho mướn, chứ không mua gạo nhà bà Chi Chằng chở bằng thuyền từ dưới xuôi lên bán cho cả phố. Được cái thứ gạo mới gặt, xay bằng cối xay lúa do nhà ông Phó Cối ở phố Cầu Lườn đóng, xong giã bằng cối gỗ nghiến hay gỗ nhãn nặng chình chịch, do hai người đạp cho trắng nhưng vẫn còn cám nên gạo rất thơm. Gạo này nấu cơm xong, cơm chỉ cần muối vừng, thậm chí tý nước mắm người thường cũng đánh trôi vài bát, chứ đừng nói đến nấu cháo sườn.
tong-hop-10-cach-nau-chao-ngon-ai-cung-co-the-nau-duoc-8

Bà Tuyết cầu kỳ với nồi cháo của mình lắm. Gạo phải đãi bằng nước giếng trong, cái giếng có từ thời Pháp ở trước cửa nhà ông Tài Đa, cạnh nhà bà Nhung làm đậu phụ, bà Nhung cũng xay đậu tương và nấu đậu bằng nước giếng này. Nước nấu cháo, bà dùng bằng nước sông Lô ở trước đền Hạ, chỗ thuyền rồng rước mẫu Đền Hạ hay đỗ, mà hai thằng con trai bà là thằng Lập và Tài sau giờ đi học xong ra sông gánh về, rồi mới được đi đánh đáo, chơi quay.

Gần tối, bà lấy gạo ngâm vào nước sông Lô, để gạo ngấm nước rồi tải đều ra mấy cái rá lớn cho ráo nước. Trong khi chờ gạo, bà lấy xương ống, xương bay, xương sống rửa sạch cho vào luộc qua cho hết cái bọt bẩn và tanh rồi mới  ninh lấy nước.

Xong phần việc đó đến việc băm thịt.
Con dao của bà phải do ông Giang thợ rèn đánh, sắc lẻm, băm nhát nào ra nhát ấy. Còn cái thớt phải bằng lõi cây gỗ nghiến, mặt phải lồi lên,băm không có mùn, thớt phải do chính ông Đức bừa người Sơn Tây cắt, đẽo, bào mới được, chứ người khác làm bán ối, bà chẳng mua.

Thịt mà bà mua phải là thịt vai của nhà bà Ba Tụng, hay của nhà bà Thông, bà Thoi chứ không phải cái thịt bạc nhạc rẻ tiền, bà bảo thứ thịt này băm ra nấu cháo, dù thịt nhừ nhưng vẫn dai để cho người ta nhá. Lúc nhai, thịt không tan mà nhuyễn ngọt lừ, thấm ngay từ đầu môi, chót lưỡi.

Trần Xuân SoạnẢnh: @daydreammeer

Trước khi đi ngủ, hai thằng con trai bà thay nhau giã hết chỗ gạo đã ngâm, bao giờ bà thấy bột mịn, đem giây bằng cái giây mắt nhỏ li ti mới coi là được. Xong việc hai thằng đi ngủ. Ông ủ bếp ninh xương bảo đảm nồi xương cứ lăn tăn sôi cho đến gần sáng, bà mới yên tâm ngả chiếc lưng hơi còng của bà xuống chiếc giường tre mang từ nơi sơ tán vế.

Khoảng bốn giờ sáng bà dậy hoà đám bột vào nước lã, lọc hết nước ninh xương không để vụn xương, bọt Nước xương dính vào, đổ thịt băm vào rồi cơi lửa cho bén hơn hồi tối. Bà lấy cái muôi múc muối trong cái bồ, rồi đem
tra muối vừa mồm rồi ninh tiếp. Để cho đủ lửa, nước sôi đều đều, bà bắt đầu đổ nước bột vào quấy. Đây là công đoạn quyết định sự thành bại của nồi cháo. Nếu ngơi tay quấy, cháo bén đáy nồi, cháo Khê chỉ đổ đi. Nhưng quấy cháo bằng cái cữ ở tay, rồi quấy đều đều liên tục mà không ngơi nghỉ, để nồi cháo có lớp cháy mỏng ở đáy nồi, bán hết cháo múc lên cháy vàng ươm, cháo vẫn không bị Khê, mùi gạo mới của làng Mô Cao bốc thơm phức, ấy là cái tài điêu luyện của bà, chứng tỏ bà thành công. Đây là điều cực khó làm nồi cháo của bà hơn hẳn những hàng khác không chỉ thơm, còn ngọt của nước xương, đậm nơi đầu lưỡi, beo béo mà không ngấy, ấm cả chân răng mà còn có một lớp cháy mềm dẻo ăn vào bùi bùi như vỏ chiếc bánh mỳ nhà ông Chắn mới ra lò vậy, khiến ối người thích nhấm nháp.

Và bà Tuyết đã quấy cháo như thế ngày này qua ngày khác, năm này qua  năm khác, mà không bà bán cháo nào làm được như bà, khiến bà trở thành nổi tiếng trong các ghánh hàng ăn ở phố chợ Tam Cờ.

Quấy xong nồi cháo, bà bắc nồi cháo
vào cái thúng trong có quây bằng chiếc bao tải gai chuyên dùng để ủ nồi, đạy nắp nồi cháo xong, bà lại đạy lên nồi cháo cái vỉ buồm đan bằng cói để nồi cháo lúc nào cũng nóng, bà mới quay sang xếp bánh dầy lên mẹt.

Top 5 quán cháo sườn ngon nhất Hà Nội

Bánh dầy mà nhà bà Tuyết làm cũng bằng gạo nếp làng Mô Cao. Nghệ thuật giã bánh là một bí mật mà ông chồng bà nắm giữ. Bánh dầy giã xong nó không dính chặt lấy tay như của các nhà khác mà nó mềm, dẻo nhưng không dai, nó dẹt, mang hình bầu dục, chứ không tròn như bánh dầy của mấy nhà bán bánh dầy chả. Ở giữa chiếc bánh được ông tạo dấu vết đặc trưng riêng biệt bằng cách dùng ngón tay cái ấn cho lõm xuống bên trong có nhân đỗ bên ngoài cũng được phủ lớp đậu xanh lên trên khiến các bánh dầy dù xếp nghiêng bên nhau mà không dính chặt lấy nhau, khiến ai trông thấy cũng thèm, đã ăn cháo, phải mua hai cái ăn kèm mới đủ vị. Đỗ của ông rắc trên bánh dầy cũng được ông làm khác người, nó được ngâm nước giếng, nấu nước sông pha chút muối, khi đỗ chín tới, để nguội, cho vào giã tơi, rồi lấy tay xoe đều cho chúng bám vào nhau. Mùi gạo nếp của làng Mô Cao, mùi đỗ xanh của làng Giao quyện vào nhau thơm phức, khiến người nào thấy gánh cháo sườn của bà Tuyết mà không ăn thì lấy làm tiếc lắm.

Đúng 6 giờ sáng bà Tuyết gánh gánh cháo sườn ra khỏi nhà. Trăm sáng như cả trăm, bà đi dọc phố trong xuống bến ô tô, rồi ra phố ngoài, đến đầu nhà Đoan bà ngoặt vào qua cửa nhà ông giáo Nhuận, nhà ông Cả Kỳ, bà Chi Chằng, ông Cả Cò là 9 giờ sáng. Gánh cháo sườn hết bay, nhẹ tênh, khiến một chân tật nguyền làm bà gánh gánh cháo đi tập tễnh bớt hẳn cơn đau nhức.

Chính lúc đó, hai thằng phố ngoài xuất hiện, chúng mua nốt chỗ cháy nồi dẻo, thơm mà lắm thịt đọng lại đáy nồi của bà, chúng cuốn tròn lại kiểu chiếc bánh cuốn rồi chia nhau ăn như ăn bánh mỳ, trông ngon lành, khiến thằng khác trông thấy chảy cả nước bọt.

Cách nấu cháo sườn đơn giản mà vô cùng thơm ngon, bổ dưỡng



Chiếc đòn gánh tre chín rạn hai vai bà Tuyết.

Con đường bà đi qua trong hàng chục năm dòng, cùng với bóng hình người đàn bà nghèo, tập tễnh, lưng còng, và nồi cháo thơm, ngọt, đậm chất xương cứ in đậm trong lòng dân phố Tam Cờ.

Người dân phố Tam Cờ, nhất là lũ trẻ tiếc không được ăn bát cháo thơm, ngọt chất xương, vừa mồm mọi người, nhất là những thằng đam mê ăn cháy cháo sườn của bà Tuyết Dương từ ngày máy bay Mỹ ném bom bệnh viện và Lò gạch chịu lửa quanh thị xã. Nhưng 60 năm sau, hương vị cháo sườn của bà Tuyết ở Tam Cờ Tuyên Quang, vẫn đậm sâu trong tâm khảm mỗi người, khiến cháo sườn Thanh Xuân Bắc của Hà Nội nơi tôi ở hôm nay thua xa không hàng cháo nào sánh được với cháo của bà Tuyết Dương ở phố Tam Cờ thị xã Tuyên Quang của tôi cả, khiến tôi ngơ ngẩn cả người.

AI CHÁO SƯỜN BÁNH DÀY NÀO?


  Hoài Nam Phi

 

Nam Mai sưu tầm

 

Tổng hợp 10 cách nấu Cháo ngon sánh mịn, bổ dưỡng cực đơn giản

Xem thêm...
Theo dõi RSS này