Truyện

Truyện (222)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Nỗi Buồn Chiêm Dân- Yên Sơn

Nỗi Buồn Chiêm Dân

Yên Sơn

Việc làm với Mike, người chủ đầu tiên đời tỵ nạn, không như hắn tính – $2.00/giờ, ngày 8 tiếng, sẽ giàu sụ hơn thời đi mây về gió – mà là ngày làm ngày không ngay từ tuần lễ đầu tiên. 

Nhớ lại chiều thứ Sáu hôm đó, khi cầm cái ngân phiếu $28.00 (sau khi khấu trừ mấy loại thuế khóa) về cho hai thằng em coi mà lòng hắn luống bùi ngùi. Hắn tự hỏi “như thế này thì làm cách nào để tự lập!” Hai đứa em buồn rầu hỏi anh với số tiền đó có đủ nuôi sống tạm thời được ba anh em không? Hắn phải mỉm cười trấn an là thế nào cũng sẽ làm được nhiều giờ hơn! 

Hắn cố ép bà già nhận tấm check nói là để phụ tiền chợ với một chút tự hào là đã có thể chia sẻ gánh nặng với bà dù rất nhỏ nhoi. Hắn chỉ xin lại $5, đêm hôm đó ngồi nắn nót viết mấy chữ rất ưu ái gửi cho thằng bạn chí thân còn nằm dài người trong trại Fort Chaffee. 
Trong những ngày làm ít nghỉ nhiều, thằng John, con trai của bà, giúp đưa hai đứa em hắn đi ghi tên học tiếng Anh, và mang về cho hắn cuốn sách học thi bằng lái xe. Hắn trố mắt hỏi:

– Bao giờ tụi tao mới có đủ tiền mua xe mà biểu học?
– Trước sau gì ai cũng phải có xe, ở Mỹ không có xe kể như không có chân. Hơn nữa, tao đâu thể đưa tụi mày đi hoài được và rồi tụi mày khi có việc làm bình thường sẽ dọn ở riêng, nhất là tụi mày cần bằng lái xe để mở trương mục ngân hàng và đổi check!
– Tao còn giữ bằng lái xe hơi ở Việt Nam, liệu có đổi qua bằng Mỹ được không?
– Theo tao biết là không, nhưng để tao đưa mày lên nha lộ vận hỏi thăm!

Và rồi việc không trông đã tới! Mike cho biết hết việc! Nó tử tế hứa là khi nào có việc mới sẽ lại nhờ hắn tiếp tay! Hắn đón nhận tin không vui với tấm lòng dửng dưng! Thế là bà già lại chạy đi hỏi người trong họ đạo sau các buổi lễ Chủ Nhật. 

Một lần hắn cắc cớ hỏi mấy đứa em sau buổi lễ:
– Hai đứa cầu nguyện gì trong những buổi lễ?
Thằng anh thực thà nói:
– Mình con nhà đạo Phật mà cầu cái gì ở nhà Thờ hả anh?
Thằng em láu táu:
– Cầu cho chúng con chóng có việc làm, amen! Còn anh?
Hắn phì cười tiếp lời:
– Chúa ở cùng anh chị em và ở cùng tụi mình! Anh cầu Chúa giúp tụi mình về nước!
– Tụi em nhớ Ba Mẹ anh chị em quá, không biết gia đình bây giờ tản lạc ở đâu, không biết anh lớn có bị chúng bắt bớ hành hạ không nữa!

Nụ cười chưa kịp nở trọn vẹn trên môi thì sự đau thương đã lấp tràn lên tâm hồn của ba gã con trai tỵ nạn! Trạng thái tình cảm của ba anh em hắn rất thường thay đổi trong vòng mấy mươi giây đồng hồ mỗi lần tìm được niềm vui bất chợt. Một chiếc lá rơi cô đơn, một cơn gió thoảng vô tình, một tiếng ve sầu bất chợt, hoặc những tiếng dế giữa đêm thâu đều nhắc nhớ những kỷ niệm thân thương ở quê nhà! Chỉ mới mấy tháng trôi qua mà đã như miên viễn trong khi con đường đi tới của anh em hắn thì mịt mờ như sương khuya trên lối mòn bản Thượng!

Vài tuần sau, với sự cần mẫn đi lễ cuối tuần và do sự liên hệ của bà già, hắn được gửi gấm đi làm ở nhà thương Santa Rosa dưới phố. Làm housekeeping! 

Hắn được người ta chỉ vẽ cho những chuyến bus đi về giữa nhà ở và phố xá. Hắn được dạy lau dọn các phòng vệ sinh và chạy máy đánh bóng sàn nhà. Cái máy mắc dịch to quá cỡ! Lúc đầu cố điều khiển chiếc máy làm hắn nhớ ray rứt cái cảm giác ngày đầu tiên ngồi vào ghế bên phải trên chiếc vận tải cơ C.123 ở Lockbourne Ohio năm nào! Hắn dàu dàu nét mặt khiến thằng giám thị quan ngại hỏi hắn có vấn đề gì không, hắn chỉ đáp gọn lỏn “nhớ nhà”! 

Làm ở nhà thương kẻ ra người vô tấp nập! Trong đám người mỗi ngày, hắn thấy đủ các sắc dân. Hắn “kỵ” dân Á Đông lắm vì Tàu, Nhật, Đại Hàn cũng na ná giống Việt Nam. Hắn rất mặc cảm gặp người Việt, vì chỉ mới đây thôi từ một phi công ngang trời mà bây giờ đã ra phận cu ly!

Mỗi lần thấy bóng dáng Á Đông là hắn cảm thấy mặt hắn nóng bừng, hắn vội vàng bước xéo chỗ khác! Mỗi lần như thế hắn lắc đầu tự nhủ “ai cũng thế mà, đời có lúc nọ lúc kia – ở nước Mỹ, theo sách nói, việc gì cũng đáng trọng, chỉ khác nhau ở tư cách con người”

Hắn tự hứa nhiều lần là phải chấp nhận sự thay đổi này dù bỉ thử tới đâu, vì còn có chọn lựa nào khác! Nhưng sao trong lòng hắn không thể gột rửa được! 

Cuối cùng, hắn đành xin nghỉ sở! Hắn sợ bà già buồn nên mỗi ngày đáp xe bus lông bông ngoài phố, hỏi han đủ chỗ… Hắn quyết định tìm cách ghi danh học college song song với tìm việc làm. Họ nói cho hắn biết là hắn có thể xin được grant, học không tốn tiền, có thể xin trợ cấp welfare… Hắn đâu có hiểu welfare là cái giống gì, nghe người ta nói hoàn cảnh anh em hắn sẽ được giúp đỡ là mừng hết biết rồi! Hắn đem “tin mừng” về trình lại cho bà già và John nghe, John nổi lôi đình phán rằng: “Ngày nào tụi mày còn ở đây thì đừng bao giờ nhắc đến hai chữ welfare. Welfare chỉ để dành cho những người lười biếng, tàn tật, tụi mày đều mạnh khỏe, có học, không việc gì phải nghĩ tới chuyện nô lệ đó!”

Hắn bấn xúc xích, xin lỗi lia chia mà thực ra không biết lỗi ở chỗ nào dù trong thâm tâm nghĩ rằng “có lẽ welfare chỉ để dành cho tụi da đen” và người không đi làm được. Mà ngẫm nghĩ cho cùng John nói cũng có lý!

Niềm vui tắt ngúm như ngọn đèn khô dầu, nhưng chí đã quyết, ít nhất cũng tìm cách cho các em vào truờng đại học học đại. Hôm sau, hắn trở lại trường, kéo theo hai đứa em, trình bày hoàn cảnh của anh em hắn với ước muốn được đi học trở lại. Họ giúp lo thủ tục giấy tờ cho ba anh em ghi danh vào học khóa mùa Thu.

Xong việc trường học, hắn lại tiếp tục lang thang tìm việc bằng xe bus và lô ca chưn khắp phố! Ai giúp ý kiến gì cũng lắng nghe, biểu điền đơn ở đâu cũng điền, cơ quan nào cũng tới. 

Một hôm đang thơ thẩn trước thành Alamo, hắn bỗng thấy một gia đình Á Đông bốn người, bên này đường trông như bạn hắn. Hắn mừng như bắt được vàng, vội băng qua đường bất chấp xe cộ, chạy tới tay bắt mặt mừng. Thằng bạn… quá ngỡ ngàng, trố mắt ngó hắn và xổ một tràng tiếng Anh, giọng ngoại quốc:
– You must be mistaken!
Hắn dội lại ngó kỹ, bồi hồi:
– Are you not Vietnamese”
– No! Me Chinese!

Trời ạ! Hắn bẽn lẽn, thẹn thùng, quê một cục giữa buổi trưa mùa hè San Antonio! Không thể độn thổ được, hắn lủng lẻng cười vớt vát!
– You look like my friend, xó-ri!

Những ngày không đi làm, hắn cảm thấy không khí trong nhà có vẻ ngột ngạt! Ông hàng xóm tốt bụng bên cạnh, cựu giáo sư Anh ngữ trong quân đội nay đã về hưu, thương tình lôi hai đứa em hắn đi làm lặt vặt ngày vài ba tiếng để kiếm thêm tiền. Việc học hành cũng vì thế mà chả đâu vào đâu. Biết vậy nhưng ưu tiên vẫn phải là tự lo cho cuộc sống mới càng sớm càng tốt. Tụi hắn thấy thương bà già quá và cũng tội nghiệp cho thân phận của mình, muốn cố gắng nhiều hơn nữa nhưng không biết làm sao hơn.

Một hôm, bà già và John kêu anh em họp lại để thông báo “tin mừng”! Bà cho biết vì tình cảnh gia đình bà không thể giúp nổi cho ba anh em, bà rất tiếc bà đã phải liên lạc với cơ quan từ thiện USCC và họ đã tìm được người bảo trợ mới. Bà bảo cả ba anh em sẽ được một ông chủ nông trại bão lãnh. Ở đó họ hứa sẽ dạy cho hắn lái máy… cày (vâng “cày” chứ không phải “bay”); hai đứa em sẽ được dạy cuốc đất trồng khoai. Họ sẽ cấp nhà ở riêng, sẽ cho mượn một chiếc xe hơi cũ để làm phương tiện. Cuối tuần bà sẽ đưa anh em về nhà mới! Bà giảng giải là cơ hội cho ba anh em cùng đi làm một chỗ rất khó kiếm ở phố, họ lại không đòi hỏi phải nói tiếng Anh; bà khuyên anh em cố gắng làm lụng một thời gian để đời sống được ổn định rồi tính cách khác. 

Không nói ra, nhưng qua bao ngày tù túng, cả ba anh em cảm thấy như sắp được giải thoát khỏi cảnh đời bất định. Dường như cả ba anh em đều không nghĩ tới những việc tụi hắn sắp phải làm. Ở với nhau mấy tháng dài, nghĩ đến ngày chia tay lòng hắn rất bùi ngùi. Hắn tỏ lòng biết ơn sâu xa đối với bà già và John đã cưu mang anh em hắn. Hắn nói hắn rất thông cảm tình cảnh của bà và cầu nguyện Chúa luôn ban ơn phước để bà sống lâu và mạnh khỏe. 

Buổi chiều trôi chậm chạp với màu nắng lụa vàng, hắn thẫn thờ nhớ xót xa về một nơi chốn đã bỏ lại, về một người tưởng rồi sẽ cho hắn những đứa con bụ bẫm, xinh đẹp khi chiến tranh lắng dịu. Không biết sau cuộc đổi đời nàng đã ra sao, ở đâu, làm gì với dáng dấp tiểu thơ đài các đó”! Hắn nhớ cha mẹ anh chị em bao nhiêu, nhớ nàng bấy nhiêu. Đã nhiều đêm hắn bàng hoàng thức giấc sau những cơn mê sảng thống khổ… 

Hắn đi ra võ đường dạy bữa cuối để từ giã mọi người. Guidry nói rất tiếc không đủ sức để giữ ba anh em hắn được. Hắn nói với mọi người là dù chỉ dạy và tập ở đây một thời gian ngắn nhưng hắn rất buồn khi phải quyết định rời xa; bỏ dạy võ là điều bất đắc dĩ nhưng mong rằng khi có cơ hội sẽ trở lại. Cả trường tiễn chân hắn cùng với những đôi mắt to đen láy buồn đìu hiu, cầm tay quyến luyến. Guidry trả tiền công cho hắn còn cho thêm $20 gọi là chút quà hạnh ngộ dù hắn cố tình không nhận.

Hắn đã học biết người Mỹ rất giàu lòng nhân đạo dù trong sâu kín của tâm hồn hắn vẫn trách oán đồng minh trở mặt quay lưng. Trong thâm tâm hắn nghĩ có lẽ đây là một sách lược chung của chính phủ Mỹ nhằm xoa dịu phần nào những tang tóc mà họ dự phần trách nhiệm; dường như họ cố tình đền bù những lỗi lầm của họ đã gây ra! Suốt chặng đường tỵ nạn đến nay hắn toàn gặp những con người tốt bụng, ai cũng tỏ vẻ thân thiện và sẵn lòng giúp đỡ! 

Thêm trường hợp của một người tốt bụng nữa. Thay vì John và bà già đưa anh em hắn đi về miền đất hứa Pearsall, cách San Antonio gần 60 dặm đường; nhưng ông hàng xóm Johnson đã giành phần đưa anh em hắn đi. 

Sáng thứ Bảy khởi hành sau khi chào từ biệt tất cả những hàng xóm của bà già. Mặc dù hắn tỏ ý không chịu nhưng ông Johnson cũng nhất định ghé chợ mua cho một bộ nồi niêu xoong chảo và những thứ cần thiết. Hắn nhân cơ hội cố tình tìm “nước mắm” vì mấy tháng rồi vẫn không chạm mặt! Hắn nói tếu với với ông Johnson là tụi hắn nhớ “nước mắm” hơn nhớ người yêu; nước mắm là thứ đồ dùng thiết thực nhất trong đời sống hàng ngày của những con người Việt Nam bơ vơ trên đất lạ. 

Ông Johnson dồn hết ba mớ đồ lỉnh kỉnh và ba anh em hắn trên một chiếc xe Ford đời một ngàn chín trăm… hồi đó – Ông nói nó chạy tốt lắm đấy – vậy mà vẫn rộng chán vì “gia sản” của anh em hắn có gì đâu ngoài mớ áo quần khiêm nhượng! 

Xe phóng tàng tàng trên xa lộ vắng vậy mà cũng phải mất hơn một giờ đồng hồ mới đến nơi cần đến. Gió buổi chiều lồng lộng giúp làm giảm bớt sức nóng thiêu đốt của vùng nông trại, hương đồng cỏ nội nghe sao quen thuộc! Ánh nắng chiều chênh chếch trên khu nông trại rộng thênh thang. Xa xa, vài ngôi nhà rất thưa thớt không thấy bóng dáng con người! Những đám bụi ngập trời do những chiếc máy cày rải rác thải vào khoảng mênh mông cho hắn thấy tất cả nỗi cô đơn mà hắn có thể cảm nhận được! 

Hình minh họa

Nhà ở của anh em hắn là chiếc mobile home cũ kỹ, nằm giữa đồng không mông quạnh! Hắn cảm nhận ngay đây không phải là nơi ăn chốn ở của quê hương thứ hai dù hắn cố tình tìm kiếm! Nhìn hai đứa em, thấy chúng buồn đìu hiu khiến lòng hắn chùng xuống. Hắn muốn nói câu gì an ủi hai đứa nhưng cổ hắn tắt nghẹn, chỉ đập nhẹ tay trên vai hai đứa. 

Hắn biết hai chú nhỏ nhớ nhà lắm, nhớ xót xa những buổi cơm mẹ nấu trong khung cảnh đầm ấm gia đình nhưng không dám thốt ra lời nói từ khi bước chân lên tàu giữa bom bay đạn lạc! Đã có nhiều đêm hắn giật mình thức giấc giữa canh thâu vì tiếng khóc thút thít trong mơ của chú em nhỏ nhất!

Người sponsor là một người Mỹ trắng khoảng độ 50 tuổi cũng vừa chạy xe tới. Ông ta bắt tay chào mừng từng người rồi dắt vào nhà. Cái trailer trông bên ngoài có phần khiêm nhượng, nhưng bên trong được dọn dẹp gọn gàng, sạch sẽ; bộ sa lông và các giường ngủ đã cũ nhưng được trưng bày trang nhã, có đầy đủ những thứ cần thiết cho cuộc đời độc thân của anh em hắn. Có lẽ họ mới sửa sang lại trước khi đem anh em hắn về.

Nhà có hai phòng ngủ, hai phòng vệ sinh, nhà bếp và phòng khách nhỏ nhắn. Ông Johnson giúp anh em hắn dọn đồ đạc cho gọn gàng, nói chuyện với chủ nhân rồi quyến luyến chào từ giã. Ông đưa số điện thoại bảo anh em hắn có cần gì gọi cho ông ấy biết. Anh em hắn bùi ngùi tiễn ông ra xe, đứng trông theo cho đến khi bóng chiều phủ trùm xuống con đường ngoằn ngoèo đơn lẻ cùng với đám bụi xám xịt mịt mờ sau xe. Mặt trời cũng khuất dần sau rừng cây xa xa, để lại những tia nắng vàng yếu ớt soi rọi vào những linh hồn lạc lõng bơ vơ! Hắn chợt cảm khái phát sinh mấy dòng thơ:

Mình bơ vơ đất lạ
Truân chuyên đời tha hương
Mây về khuất bóng tà dương
Chiều nghe canh cánh nỗi buồn Chiêm dân!

Phải, hắn đang nghĩ đến những đau thương của dân Chiêm Thành mất nước khi xưa!

Ông chủ cũng chào từ giã, nói để cho anh em hắn nghỉ ngơi, sau khi sơ lược cho anh em hắn biết cuộc đời sắp tới và chỉ đường đi đến khu chợ gần nhất khoảng mươi phút lái xe. Hắn chợt nghĩ ở Mỹ dường như ở đâu cũng có người tử tế! 

Cuộc đời sắp tới là cày sâu cuốc bẩm, được trả thù lao $1.90/giờ, không trả phụ trội dù ngày làm trung bình 10-12 tiếng mùa hè và 8-10 tiếng mùa đông. Anh em hắn không phải trả tiền thuê nhà kể cả các tiện nghi, được cấp cho chiếc xe pickup cũ để lái đi nông trại. Tính ra một ngày ba anh em có thể làm gần $50, tốt hơn nhiều so với tình trạng sống những tháng ngày qua.

Theo lời khuyên của bà già, cả ba anh em dự định đi làm một thời gian, cố để dành tiền cho việc học tương lai… Đáng lẽ nên vui mừng nhưng sao lòng dạ đầy u uất và buồn nao nao! Hai đứa em nằm dài trên ghế salon phòng khách rồi ngủ vùi sau những chuỗi thở dài não nuột, chắc là đang buồn ghê gớm lắm! Hắn buồn quá và cũng muốn thử chạy chiếc xe do con ông chủ đem lại khi nãy, chạy một vòng nông trại mà không biết chạy đâu. Chỗ nào có đường là cứ xông tới. Đường sá vắng hoe, lâu lâu mới thấy vài chú Mễ vừa đi vừa nhậu vừa xỉn. Lòng hắn mênh mang buồn trên những con đường vắng.

Khi quay về trailer, thấy nhà cửa sáng rực, dường như trong nhà có đèn nào là hai chú em bật lên tất. Hai đứa đang lui cui trong bếp và mùi cơm khê tràn ngập khắp phòng! Dù sao hai chú cũng đã quen sau bao lần khê sống mấy tháng qua. Thời buổi đó đâu có nồi cơm điện, phải dùng xoong. 

Hắn nói: “Bộ hai đứa không nhớ lời mẹ dạy à, đổ gạo vào, vo xong, cho nước ngang lằn chỉ ngón trỏ rồi đặt lên bếp, khi cơm sôi phải quấy đều kẻo khê, vậy mà sao cháy khét?” Hai đứa cùng nói không biết anh đâu nên quanh quẩn đi tìm quên luôn nồi cơm đang nấu! May mà không cháy nhà! Thế là ba anh em lấy đồ hộp khui ăn với bánh mì lát. 

Dù bụng đói cồn cào, dù vừa ăn vừa thay nhau kể lại những món mẹ nấu nhưng cả ba đều nuốt không trôi vì quạnh vắng quá! Hắn nói đùa cho hai chú em vui: “Rất tiếc mẹ không biết chúng ta sẽ chạy tuốt qua Mỹ nên chưa kịp dạy nấu đồ ăn Mỹ”! Thay vì cười, cả ba cùng đỏ mắt! 

Mấy tháng qua, hắn dạy hai chú em nấu gà bảy món, toàn những món hắn chế biến không học theo sách vở nào hết gồm món gà kho ketchup với hành tây; cánh gà luộc chấm xì dầu… thịt bò thì mua loại cắt mỏng về chiên beefsteak, cắt miếng nhỏ làm bò lúc lắc đổ lên đĩa rau xa-lách dòn; còn thịt heo thì kho muối, xì dầu và ớt, nướng lò… xoay qua xoay lại cũng chỉ có từng ấy món vì cả ba anh em thuở Saigon vẫn cơm hàng cháo chợ từ khi từ giã mẹ để tiếp cận với đời! Giả dụ nếu có ai hỏi ăn hoài từng ấy sao không ngán” Hắn sẽ hỏi lại là có còn chọn lựa nào khác hay không!

Sáng sớm ngày thứ Hai, thằng Jack, con trai ông chủ tới kéo ra đồng. Sau khi dùng xe đưa anh em hắn quan sát một vòng nông trại gần tiếng đồng hồ với những cánh đồng dưa hấu, dưa tây, hoa mầu đủ loại bạt ngàn, Jack bỏ anh em hắn với đám Mễ đang cắm cúi bê những quả dưa hấu khổng lồ. Trong đời hắn chưa từng thấy dưa hấu to lớn như ở đây bao giờ. Quả nào quả nấy to như con bê non! Có quá nhiều quả dưa phải dùng hai người lực lưỡng mới đem nó ra gần đường xe truck đi lượm! Vừa nắng, vừa công việc quá nặng nhọc, hai chú học trò đừ đẫn bỏ cả cơm chiều! Thêm một ngày nữa thì cả hai ngả bệnh nóng sốt. Uống thuốc cảm có đỡ hơn đôi chút nhưng không thể đi làm ngày hôm sau được! Hắn dặn hai chú em ở nhà tự lo ăn và uống thuốc, còn hắn chạy xe ra đồng! 

Có lẽ thằng chủ sợ hắn cũng sẽ ngả bệnh nên bảo thằng con dạy cho hắn lái máy cày và phụ di chuyển hệ thống tưới nước. Hắn học cái gì cũng mau mắn nên thằng Jack rất bằng lòng và bắt đầu tâm tình với hắn. Hắn có dịp nói về chuyện “ngày xưa” của hắn một cách say sưa quên cả mệt nhọc. 

Buổi trưa hắn chạy về ăn cơm và thăm các em, thấy hai chú nhỏ có vẻ nặng hơn, nghĩ tới được mẹ săn sóc mỗi khi tụi hắn bệnh, hắn lại nghẹn ngào thương cảm muốn rơi nước mắt! Hắn chạy ra đồng nói với thằng Jack. Jack về theo hắn, đưa hai chú nhỏ đi bác sĩ.

Sau hai ngày thì hai chú học trò mới khỏi bệnh trong khi mỗi ngày hắn vẫn phải đi làm! Trong lúc bệnh, hai chú nhỏ than chắc là không chịu nổi với cái nắng thiêu đốt của vùng nông trại! Hắn khuyên hai chú nhỏ cố gắng chịu khổ cực một thời gian ngắn, cố gắng làm để dành tiền rồi mới tính cách khác được, chứ bây giờ tứ cố vô thân, không tiền bạc, không phương tiện, không thân nhân… biết đi đâu về đâu!

Cuối tuần hắn chất ba anh em lên xe chạy lông bông và hát “phố núi cao”… dù không phải phố núi nhưng không dám chạy quá xa nên dăm mười phút lại chạy về chốn cũ… buổi chiều buổi sáng buổi trưa lòng cứ bâng khuâng! 

Hai đứa em xin học lái xe. Ở giữa đồng ruộng bao la nên không sợ đụng ai, tha hồ chúng nó chạy. Chiếc xe cũng làm cho nỗi buồn lắng xuống đôi chút!

Chưa đầy một tháng sau thì anh em hắn đành giã từ ông chủ nông trại sau khi tìm được việc làm mới cho cả ba anh em. Nhà, xe đành trả lại và cám ơn tấm lòng bảo trợ của ông. Anh em hắn, theo lời chỉ dẫn của anh chàng Mễ sở thất nghiệp, thuê được một căn nhà kho nhỏ bé của một cư dân về hưu hợp với túi tiền đang có./-

 

Yên Sơn

--------

Hình internet

Post by Kim Quy

Xem thêm...

Diễm Xưa - Yên Sơn

Diễm Xưa

Yên Sơn

Buổi chiều Saigon trời cao nắng nhẹ, đó đây vài cụm mây trắng bay lững lờ. Cả thành phố đắm mình trong màu nắng vàng hanh. Màu nắng làm vàng thêm những chồng cam tươi như những dãy núi nhỏ xa xa đang bày biện trong các gian hàng trái cây ở chợ Bến Thành. Con đường Lê Thánh Tôn đông nghẹt những xe với người. Đúng với câu thơ của cụ Nguyễn Du “dập dìu tài tử gìai nhân”. Không biết mình có được liệt vào hàng tài tử trong cái ý nghĩa của cụ hay chăng trong buổi chiều Thu nắng nhạt hôm ấy.

Tôi vừa mới lãnh lương hôm nay dự định đến hiệu gìày Gia để tậu một đôi giày mới, vì mấy đôi giày hiện có của tôi đã gửi gấm hơn nửa phần đời ở các sàn nhảy trong các câu lạc bộ Huỳnh Hữu Bạc và Mây Bốn Phương Trời…ơi trong căn cứ Không Quân Tân Sơn Nhất!

Mải mê suy nghĩ nên đã đi quá hiệu gìày. Tôi vội vàng “left clear”, nghiêng cánh trái làm chữ U để tấp vào lề trái. Có lẽ tôi quên mất là tôi đang lái chiếc xe Lambretta hai bánh đi giữa giòng xe cộ của một con đường hẹp. Tôi nghe tiếng thắng gấp đàng sau cùng với một tiếng thét hãi hùng của một người con gái. Vừa tấp được vào lề thì tôi đã phải vội vàng xuống xe vì trước mặt tôi là một chiếc Honda Dame mang hai người con gái cũng vừa dừng lại, mà nàng đang ngồi đàng sau đã nhảy xuống xe và đang hớt hãi vụng về hai tay quấn ngang mình một cách hổ thẹn đến trào nước mắt. Nửa vạt áo dài màu xanh da trời đang nằm gọn gàng trong căm bánh xe sau. Tôi vội vã cởi chiếc áo jacket đi bay phủ lên vai nàng.

– Ông làm gì mà chạy xe ẩu tả vậy, chút xíu nữa thì chết người ta còn gì. Bắt đền ông đấy.
Nàng tài xế “Bắc Kỳ” sần sộ, xỉa xói tôi như thế. Tôi vờ ngạc nhiên lẫn ngây thơ… vô số tội:
– Tại tôi?
– Không nhẽ tại tôi à? Còn vờ vịt nữa. Nếu không nhanh tay thì đã đụng vào xe ông rồi!
– Xin cô đừng to tiếng mà, người ta đang nhìn cô kìa. Cho tôi xin lỗi vậy!
– Xin lỗi, xin lỗi là xong à? Ông bắt đền áo cho NA đi.

Tôi quay qua người con gái có tên NA. Qua cơn khiếp đảm và hổ thẹn, gương mặt nàng đã hồng hào trở lại dù đôi mắt vẫn còn long lanh ngấn lệ.
– Cô NA cho tôi xin lỗi nhé. Tôi thật bất cẩn. Tôi…tôi phải làm gì cho cô bây gìờ?
– Ông không phải làm gì cả. Nàng từ tốn trả lời. Tôi chỉ phải mượn ông chiếc áo nầy về nhà. Có điều làm sao tôi có thể trả lại cho ông?

Nàng cắn nhẹ chiếc môi son hồng xinh xắn, suy nghĩ đắn đo:
– Hay là trưa mai phiền ông đến nhà tôi lấy vậy. Tôi cho ông địa chỉ nhé?
– Mai tôi phải đi làm, nhưng không cần gấp đâu cô ạ!
– Thì chiều cũng đuợc nhưng ông đừng đến muộn quá sợ bất tiện.

Nàng ghi vội tên và địa chỉ trên một miếng giấy nhỏ rồi trao cho tôi.
– Ông biết cư xá Lữ Gia chứ?
– Vâng tôi có biết, nằm trên đuờng Nguyễn Văn Thoại. Tôi tên Nguyên và xin lỗi đây là…

Tôi huớng mắt về phía cô tài xế. Mắt cô bé tròn xoe nhìn tôi chăm chăm một cách căm tức.
– Đây là VP, bạn thân của tôi.
– Hân hạnh đuợc biết hai cô. Một lần nữa cho tôi xin lỗi. Tôi rất hối tiếc đã làm lỡ một buổi chiều đẹp trời của hai vị.

Tôi cúi xuống gỡ vạt áo ra khỏi bánh xe và chờ tới khi hai người mất hút trong dòng xe cộ tôi mới trở lại xe trong tay còn cầm vạt áo màu xanh da trời.

Trần Vũ Thị NA. Cái tên dài thật hay, thật đẹp. Tên không khác chi người. Nàng có vẻ cao hơn nguời đàn bà Việt Nam bình thuờng. Dáng nguời mảnh mai, duyên dáng, đẹp dịu dàng. Tôi đứng bâng khuâng truớc tiệm giày. Có lẽ tháng này cũng không sắm đuợc đôi giày. Lương của “quan nhị phẩm tàu bay” cũng chỉ vỏn vẹn một tháng tiền cơm, tháng tiền nhà, tiền nhậu khiêm nhượng với bạn bè một bữa, còn một ít lây lất “một sáng bánh mì, một sáng xôi”; ngoại trừ có gia đình tiếp tế, mà gia đình Ba Mẹ tôi thì vất vả với tôi đã nhiều. Sau khi toan tính tôi quyết định gia hạn… đôi giày thêm một tháng nữa và lên xe xuống phố Chà Và…

Trần Vũ Thị NA. Cái tên, dáng nguời như mọc rễ trong trí nhớ tôi. Tôi bâng khuâng cả buổi chiều rồi đem vào gìấc ngủ. Tôi nằm mơ thấy nàng như nàng tiên cánh trắng và tôi đang dìu nàng trong những buớc tango tuyệt vời, nhẹ nhàng, lơ lững theo những cụm mây trắng cuối trời thênh thang…

Sau phi vụ chưa bao giờ dài hơn hôm nay – Saigon-Đà Nẵng-Huế-Nha Trang-Saigon – tôi về tới nhà trọ lúc 5 gìờ chiều. Mặc dù mệt phờ râu tôi cũng phải vội vã đi tắm, xong lựa một bộ quần áo thẳng nếp nhất rồi hối hả ra đi không quên mang theo gói quà mà tôi đã mua chiều hôm qua.

Nhà nàng tuy không ở mặt đuờng nhưng cũng không khó tìm cho lắm. Sau một lúc quanh quẩn tôi đã đứng truớc cổng nhà nàng, 62/4 cư xá Lữ Gia. Tôi đưa tay bấm chuông và chờ đợi một cách hồi hộp. Chẳng bao lâu nàng xuất hiện gọn gàng, tuơi mát trong chiếc áo đầm màu xanh nhạt với nụ cuời tuơi đẹp vô cùng quyến rũ. Tôi gật đầu chào:


– Chào cô NA, trông cô vô cùng xinh đẹp.
– Cám ơn lời khen của anh. Tôi ngỡ anh không đến đuợc.
– Tôi không có lý do để không đến hôm nay. Tôi thật lòng không muốn trễ hẹn với cô, tôi phân trần, thế mà cũng không thể sớm hơn.
– Nghe anh nói tôi lấy làm áy náy! Vừa nói vừa mở khóa cổng.

Nàng truớc tôi sau cùng buớc vào phòng khách.
– Mời anh ngồi chơi, để NA đi ly nuớc. Anh uống bia nhé?
– Không dám phiền NA, cô cho uống gì tôi cũng vui lòng.

Cách trần thiết của căn phòng thật lịch lãm không dấu vẻ sang trọng. Bình hoa, chậu kiểng, bức tranh, khuông hình… mỗi thứ như ở một nơi thích hợp như những chỗ đó chỉ dành riêng cho loại đó mà thôi. Tôi bỗng dừng mắt tại một khung hình bán thân của nàng; cũng chiếc áo dài màu xanh da trời nhưng trên cổ áo có mang huy hiệu một con rồng nhỏ. Tôi nhủ thầm:
– À thì ra là thế. Hèn gì không cao ráo, xinh đẹp, không thích màu xanh da trời !

Nhìn sang bên cạnh là một khung hình khác chụp một đôi uyên ương. Người đàn ông trong bộ đồ lớn đẹp trai và vô cùng oai vệ, bên cạnh người đàn bà đẹp hao hao gìống NA – cũng áo xanh, cũng huy hiệu con rồng.

– Anh suy nghĩ gì mà mỉm cười một mình thế. Trông cử chỉ dường như anh vừa khám phá ra điều gì ngộ nghĩnh lắm?
– Không, không! Tôi mỉm cười vụng về

Nàng đặt hai ly nước cam vắt trên bàn, một về phía tôi.
– NA làm nước cam vắt để anh uống cho khỏe thay vì uống bia. Có lẽ anh vừa đi bay về?
– Sao cô biết? Tôi vô cùng ngạc nhiên
– Vì áo jacket của anh có tên anh và cánh bay! Hơn nữa trông anh có vẻ mệt mỏi.
– Cô thông minh thật. Quả nhiên đúng vậy, tôi có hơi mệt vì đuờng bay hơi dài. Nhưng nhịn cơm, bỏ nghỉ để đi đòi nợ, để gặp NA và nhìn cô mỉm cười thì tôi nghĩ mình đã làm một chọn lựa đúng.
– Ngôn ngữ của các ngài Không Quân quả nhiên đáng ngại, đúng là danh bất hư truyền.
– Có lẽ NA đã từng nghe nhiều ngài Không Quân nói?
– Không, NA nghe chị NM nói vậy. Hơn nữa, Không Quân các anh hào hoa bay bướm ghê lắm, bạn bè NA ai cũng bảo vậy cả.
– Được NA tán tụng tôi hãnh diện được thơm lây, chứ tôi chưa đuợc liệt vào hàng ngũ đó!
– À, tôi có mang cho NA món quà mọn mong đền bù một phần lầm lỡ của mình.
– Anh bày vẽ quá, mong anh quên đi vì đó là số xui của NA mà.
– Vâng, nhưng đây chỉ là món quà hạnh ngộ

Nàng không nói gì thêm, đưa tay mân mê gói quà rồi mỉm cười:
– Trước khi mở hộp, NA xin đoán thử bên trong.
– Cô đoán được tôi phục tài cô lắm.

Nàng cầm hộp nghiêng tai lắc lắc, xong nhẹ nhàng đặt xuống mặt bàn, nụ cười vẫn gắn liền trên đôi môi tươi thắm.
– Đây là xấp vải áo dài, màu xanh da trời.

Tôi đứng dậy chắp tay nghiêng mình:
– Bội phục, bội phục! Cô làm như có thiên lý nhãn không bằng.
– Dễ mà anh. Lý do thật đơn gìản. Này nhé, anh làm rách áo người ta, lại còn giữ mẫu áo. Một gói quà cho lần đầu tiên gặp gỡ, nếu không phải vải áo đã rách thì còn gì khác? Có ai lại liều lĩnh tặng quà cho người khác phái khi mình chưa hiểu một tý gì về họ?! Thật ra NA đã đoán già nửa trước khi lắc chiếc hộp.
– Lối suy luận của NA vô cùng vững chải. Người ta đồn rằng các cô “hotess de l’air” thông minh có thừa, duyên dáng, lịch lãm ghê lắm. Tiếng đồn không ngoa.
– Anh quá khen làm NA thẹn, thông minh làm gì bằng anh được, chỉ thoáng nhìn bức hình trên tường anh đã biết tụi này là hotess de l’air.
– NA có lẽ đang nghỉ dưỡng sức phải không? Còn chị Trần Vũ Thị Ngọc Minh đâu? chắc là đi bay chưa về?

– Vâng, NA đang nghĩ dưỡng sức đến thứ hai tuần tới; còn chị Ngọc Minh không phải đi bay mà là đang đi hỏi dò tin tức của chồng. Anh làm tỉnh trưởng Quảng Đức bị mất liên lạc hơn tuần nay.
– Nghe nói tỉnh Quảng Đức đã được giải tỏa hôm nay, chắc ngày mai sẽ có tin vui về anh ấy.
– Vâng, chiều nay tụi này nghe radio hồi 4 giờ chiều xong chị ấy vội vã ra đi.
– Mời anh dùng nước. Nàng nâng ly mời. Sau khi chiêu một ngụm nước nàng đặt ly xuống bàn:

– Anh Nguyên dường như là phi công vận tải.

Tôi há hốc mồm ngạc nhiên. Nhìn lại một lượt trên người xem có gì đ tố cáo với nàng điều đó.
– Tài xem tướng của cô quả như thần. Bao giờ cô mở cửa hàng tôi tình nguyện viết một bài giới thiệu, quảng cáo không công. Bằng vào đâu cô đoán vậy, tôi thắc mắc?
– Nếu xem tướng NA phải đoán anh là phi công phản lực, vì anh có vẻ ngang tàng, liều lĩnh. Còn sở dĩ NA nói anh là phi công vận tải vì anh đã không bảo “đường bay dài” khi nãy là gì?
– À thì ra thế. Tuy nhiên, cô thông minh quá làm tôi sợ. Tôi nghĩ ai đuợc diễm phúc làm người yêu, làm chồng tương lai của NA là kể như… đáng buồn.
– Sao lại đáng buồn anh?
– Thì cái gì cô cũng đoán biết, làm sao dấu đuợc cô điều gì, nhất là những chàng hào hoa, bay bướm chắc là phải chịu trận.
– Có lẽ tranh luận với anh là một việc không nên làm. NA xin nhuờng anh một bước.
– Nếu tôi đuợc hân hạnh hầu chuyện với NA dù cả ngày này qua ngày khác tôi cũng rất vui lòng, nhưng hôm nay chắc đã muộn, có lẽ tôi phải từ biệt cô.

– Vâng, NA cũng rất thích được hầu chuyện với anh. Ngày mai anh phải đi bay không? Chiến trường độ này sôi bỏng quá anh nhỉ? Quê hương mình không biết đến bao giờ mới được thanh bình! Và dân tộc mình bao giờ mới có được một ngày yên vui!?

– Tôi rất cảm động để biết NA có lòng yêu quê hương, dân tộc một cách thiết tha như vậy. Bao giờ thanh bình? Có lẽ những người thấp cổ bé miệng như chúng mình không có quyền đặt câu hỏi. Lứa tuổi của chúng ta được sinh ra trong chiến tranh chắc rồi cũng sẽ tàn tạ trong chiến tranh. Cuộc chiến tương tàn Nam Bắc không còn do quyết định của dân mình, nước mình; huống gì mình đang đối đầu với lũ cộng sản khát máu, điêu ngoa, xảo quyệt mà đàng sau chúng lại có cả Tàu lẫn Nga phù trợ; còn bên mình thì Mỹ muốn bỏ rơi, chưa kể nội thù, lũ Việt gian Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, đang tìm cách bán đứng miền Nam cho bọn Cộng sản vô thần miền Bắc.
– Anh có vẻ bi quan quá.

– Không, tôi không bi quan đâu, đó là sự thật. Tôi chỉ biết ngày nào còn sống thì ngày đó tôi còn đem máu xương này, hình hài này bảo vệ từng tấc đất cho tự do, cho công bằng. Đó cũng là lý do chính đáng nhất để kéo tôi ra khỏi ghế nhà trường, nơi mà ba mẹ tôi đã đặt nhiều kỳ vọng sẽ uốn nắn tôi trở thành một bác sĩ tương lai.

– Anh đi Không Quân năm nào?
– Năm 1968 khi tôi đang học năm thứ ba y khoa.
– Kể ra cũng uổng anh nhỉ. Nhưng bù vào đó anh đã được tự do chọn lựa và đã trở thành một phi công oai hùng!

– Là phi công vận tải thì đâu có gì gọi là oai hùng! Hoài bão tôi là được bay F-5, để có cơ hội giáng xuống đầu giặc Cọng những đòn chí tử và đập tan tham vọng xâm lăng của chúng, nhưng xui xẻo cho tôi ở vào tài khóa vận tải. Thế mới ngán ngẩm sự đời! Nhưng thôi, mình có vẻ lạc đề rồi đấy. Ngày mai tôi được nghỉ vì tôi đã bay ba ngày liên tiếp. Nếu cô không có vấn đề gì, tôi mong được mời cô cùng xuống phố dùng cơm trưa cho vui.

– Cám ơn anh đã dành cho NA quá nhiều cảm tình, nhưng NA không dám hứa chắc, tốt hơn hết xin anh điện thoại cho Ngọc Anh khoảng 9 giờ sáng để xác định.
– Chắc chắn tôi sẽ thức để canh chừng đồng hồ, và hy vọng cô sẽ nhận lời!

Nàng mang trả tôi chiếc áo lạnh cùng với mẫu giấy nhỏ có ghi số điện thoại nhà nàng. Tôi cất vào trong ví cẩn thận và từ giã nàng một cách luyến tiếc.
– Chúc NA ngủ ngon, nhiều mộng đẹp và mong được gặp cô ngày mai.
– Cám ơn anh, NA cũng mong vậy.
– NA cho tôi gửi lời… cám ơn Vũ Phương.

Nàng như hiểu được ngụ ý của tôi nên mỉm cười.
– Đừng vội cám ơn. Hôm qua về đến đây mà Vũ Phương còn tức giận anh lắm đó.
Tôi nghiêng mình chào nàng và bước ra khỏi cổng. Đi được mấy bước tôi quay đầu nhìn lại, nàng vẫn còn đứng nơi cổng đưa tay vẫy chào.

Đèn điện đường đã bật sáng, một thứ ánh sáng vàng ủng. Đã quá giờ tan sở mà xe cộ vẫn còn tấp nập. Lòng tôi như có một niềm vui rộn rã dấy lên cùng một mơ ước hư ảo. Trần Vũ Thị NA, người đẹp duyên dáng khả ái, lại thông minh lịch duyệt hơn người. Có được một người yêu như vậy quả là điều hãnh diện cho nam giới…

(Trích trong tập thơ: Cho Quê Hương – Tôi – Và Tình Yêu
Xuất bản 1998)

Yên Sơn

------

Hình minh họa-internet

Post by Kim Quy

Xem thêm...

VẾT CHÂN KỶ NIỆM- ĐIỆP MỸ LINH

VẾT CHÂN KỶ NIỆM

Truyện Ngắn của Điệp Mỹ Linh

Cuộc di cư vào Nam năm 1954

Ba chữ Ga Hải Phòng vừa khuất, Đông khép mắt, muốn giữ lại trong lòng hình ảnh của Hải Phòng. Bất ngờ, tiếng violon nỉ non từ Iphone của Hà – vợ của Đông – rồi tổng hợp âm thanh của piano và nhiều nhạc cụ nhẹ cùng hòa vào, tạo nên dòng nhạc thiết tha, mượt mà như từng lượn sóng rạc rào ve vuốt giải cát vàng. Chỉ một thoáng thôi, giọng soprano vút cao: 

“Lìa xa thành đô yêu dấu, 

một sớm khi heo may về… 

Nhìn em mờ trong mây khói, 

bước đi nhưng chưa nỡ rời…” (1). 

 

Đông chợt cảm thấy bồi hồi, xót xa như ai vừa khơi dậy từ tâm thức u hoài của chàng hình ảnh chàng đang bịn rịn chia tay với Yến, khi chàng theo gia đình xuống tàu “há mồm”, di cư vào Nam, năm 1954. 

Năm 1954, trong khi sắp hàng chờ xuống tàu, nghe tiếng gọi “Anh Đông!” Đông quay sang. Nhận ra Yến, Đông vội rời hàng chạy nhanh đến: 

-Yến! Em làm gì ở đây? 

Yến chỉ quẹt nước mắt. Đông cầm tay Yến, tiếp: 

-Yến đi với gia đình anh, nhé! 

Yến lắc đầu. Vừa khi đó, Đông nghe tiếng Bố gọi “Đông!” Đông vội thả tay Yến ra. Yến khóc lớn: 

-Anh Đông! Ở lại với em, đừng đi!

Đông chưa kịp tỏ thái độ thì Bố đến, nắm tay, kéo Đông trở lại với gia đình! 

Sau này, nhiều khi nhớ lại mối tình thơ và hình ảnh Yến trong buổi chia xa năm xưa, Đông thường tự hỏi không biết cuộc đời của Yến bây giờ ra sao? Nàng có trở thành “nữ hộ lý” hoặc “cán bộ gái” trong đoàn quân xâm chiếm miền Nam hay không? Những khi chiến hạm công tác dài hạn, đêm đến, từ đài chỉ huy nhìn về phương Bắc, Đông nhận biết lòng chàng gợn lên nhiều nỗi luyến thương! Sau phiên trực, trên cầu thang trở về phòng ngủ sĩ quan, đôi khi nghe tiếng hát – từ radio của nhân viên trực – văng vẳng trong không gian tràn ngập ánh trăng: 

“…Rồi đây dù lạc ngàn nơi, 

ta hướng về chốn xa vời… 

Nghẹn ngào thương nhớ ‘em’, Hà Nội ơi!...” (2) 

 

Đông đứng lặng trên cầu thang, vì niềm thương nhớ dạt dào đang dâng tràn! Nhìn vào bờ, thấy ánh đèn rực rỡ, lung linh, Đông chỉ ước mơ được nắm tay một thiếu nữ, bước chầm chậm trong vùng không gian huyền diệu đó. 

Ước mơ như thế, nhưng khi Dương Vận Hạm – LST Landing Ship Tank – Nha Trang, HQ 505, cập hải cảng Đà Nẵng vào chiều cuối năm, Đông lại lưỡng lự, không biết chàng nên “đi bờ” (3) hay không; bởi vì Đông không có một thiếu nữ nào để nắm tay! Vừa khi đó, Hoàng – sĩ quan trên HQ 505 – rủ Đông “đi bờ”.

 

Lang thang trong thành phố nhộn nhịp, khi đi ngang nhà thờ, nghe tiếng organ và tiếng hát vọng ra, Đông bảo: 

 

-Trời lành lạnh, nghe Thánh ca “moa” chịu không được! “Moa” muốn vào xin lễ

 

-Thì vào, có gì đâu, Hạm Phó!

 

Vào đến cửa bên hông nhà thờ, Đông và Hoàng đều lấy “nón kết” kẹp vào tay trái, đưa tay phải làm dấu thánh giá.

 

Thấy hai “chàng” Hải Quân mặc quân phục tiểu lễ trắng, áo dạ màu xanh đậm, làm dấu thánh giá, nhiều người đứng hàng đầu xích sát vào nhau, ra hiệu mời Đông và Hoàng đứng vào. Đông và Hoàng vừa đứng vào, bản thánh ca do cả hội trường đồng ca cũng vừa dứt. Mọi người ngồi xuống.

 

Nam nữ học sinh từ phía sau bước ra, sắp hàng dưới bục giảng của Đức Cha. Một nữ sinh bước ra, đứng phía sau ca đoàn nhưng trên một bục gỗ cao. Đông nghĩ có lẽ cô này là giọng nữ chính.

 

Tiếng organ vang lên trầm trầm, uyển chuyển rồi chậm dần để ca đoàn “bắt” vào: 

 

“Bài thánh ca còn đó nhớ không em?

Noel năm nào chúng mình có nhau.

Long lanh sao trời đẹp thêm môi mắt.

Áo trắng em bay như cánh thiên thần...” (4).

 

Cô gái đứng phía sau ca đoàn thường ngẩng mặt lên mỗi khi cô hát những chữ ở âm vực cao. Nhìn sóng mũi cao, ánh mắt rực sáng và khuôn mặt diễm kiều của cô gái, Đông xúc động bồi hồi và tưởng như vẻ đẹp thánh thiện của cô gái chờn vờn trong ánh nến lung linh.

Hình minh họa

Vẻ đẹp thánh thiện của cô gái, tiếng organ ngân dài và tiếng ca trong vắt của các nam nữ sinh làm cho tâm hồn của Đông bềnh bồng, tưởng như thoát khỏi thế giới loạn lạc, đảo điên trên mảnh đất đầy máu và nước mắt này! Đông quên nỗi cô đơn vô tận trên những chuyến hải hành dài hạn! Đông quên tiếng B40/B41 của Việt cộng, từ những khúc quanh ngặt, xé không gian, rơi quanh đoàn chiến đỉnh! Đông quên gương mặt non choẹt của tù binh Việt cộng – khoảng 14, 15 tuổi – nhìn chàng như sợ hãi, như van lơn! Đông quên luôn khuôn mặt thơ ngây và buổi chia xa với Yến tại bến cảng Hải Phòng. Nhưng Đông lại không thể quên được pháo thủ Phi! 

 

Khi đoàn chiến đỉnh bị phục kích tại Gia Rai, Đông vẫn đứng thẳng, gần mũi chiếc Command, tay trái cầm ống liên hợp để chỉ huy. Bất ngờ Đông bị trúng đạn, ngã xuống. Phi vội vàng rời pháo tháp, chạy đến bên Đông. Đông chưa kịp phản ứng thì một trái B40 xẹt ngang. Phi gục xuống! 

 

Khi nào hình ảnh Phi hiện về Đông cũng cảm thấy mủi lòng. Đông kín đáo làm dấu thánh giá, thầm cầu nguyện cho linh hồn Phi. Hoàng khẻ nói:

-Khuôn mặt của “cô bé đứng một mình” phảng phất nét đẹp quý phái của Grace Kelly, phải không, Hạm Phó? Đông gật đầu. Nhìn “cô bé”, Đông chợt nhận biết tình cảm của chàng giao động rộn ràng chẳng khác chi tình cảm chàng dành cho Yến năm xưa.

 

Bài hợp ca chấm dứt. “Cô bé” bước thẳng đến người đàn ông cao tuổi ngồi cạnh Hoàng và Đông, cúi đầu: 

 

-Dạ, con xin chào Bác.

 

-Cháu hát hay lắm!

 

-Dạ, con cảm ơn Bác. Thưa Bác, con xin phép Bác, con đến ngồi với Ba Má con.

 

Nhìn dáng đi thướt tha của “cô bé”, Đông tưởng như đôi chân của chàng muốn bước theo; nhưng chợt nhớ cương vị của chàng, Đông đành ngồi yên. Hoàng quay sang cụ ông, khẻ hỏi: 

 

-Thưa bác, cô cháu của bác học trường nào ạ? 

 

Cụ ông kề vào tai Hoàng, đáp:

 

-Cháu nó học trường Phan Chu Trinh.

 

Tối hôm đó, sau khi trở về chiến hạm, Đông ôm trong lòng hình bóng “cô bé” và tự hứa sẽ cố tìm nàng sau khi chàng đi phép thường niên.

 

Trong khi Đông đi phép, khi chiến hạm vào bến sau chuyến công tác, Hoàng xin phép “đi bờ”. 

 

Hoàng ngồi nơi quán nước đối diện trường Phan Chu Trinh. 

 

Lúc học sinh tan học, Hoàng đi tới đi lui trước trường, với mục đích tìm “cô bé”. Bất ngờ, Hoàng thấy một thanh niên lái Vespa chầm chậm từ trong trường ra cổng. Nhận ra người bạn xưa, Hoàng gọi: 

 

-Trịnh! Trịnh ơi! 

 

Trịnh dừng Vespa, ngạc nhiên: 

 

-Ủa, Hoàng, mi làm chi đây? 

 

-Tau tìm một người mà tau không biết tên. Còn mi?

 

-Tau dạy ở đây. Mi tìm người mà không biết tên! Chán mi quá! Chắc ‘mết’ con bé nào rồi, phải không? Tả hình dáng, mặt mày của “cô nàng” cho tau nghe, may ra tau sẽ giúp mi.

 

-Mi vào quán uống nước, nói chuyện.

 

-Không được! Tau phải kiếm tý chi ăn tạm rồi trở lại trường ngay; vì tụi hắn đang tập chung kết cho buổi văn nghệ cuối năm. 

 

Hoàng đáp rất thật lòng:

 

-Tau sẽ mời mày ăn trưa. Còn về “cô bé”, tau chỉ thấy và nghe cô ấy hát có một lần tại nhà thờ thôi. Cô ấy đẹp như lai và giọng soprano của cô nàng không thua gì Thái Thanh!

 

-Rứa thì tau biết rồi. Cô nàng là học trò của tau, đệ Nhị C, tên Uyên. Uyên là “thỏi nam châm” của Đà Nẵng đó. Mi là Hải Quân, lang thang hoài mần răng…

 

-Mi đừng lo, cứ giới thiệu cho tau, mọi việc khác để tau lo!

 

Trong bữa ăn trưa vội vàng tại một nhà hàng gần trường, Trịnh căn dặn:

 

-Người ta con nhà gia giáo, nề nếp, mi đừng “ẩu tả”, tội nghiệp con người ta, nha!

 

-Mi biết tính tau “ba gai”, xem đời như…củ khoai; rứa mà không hiểu tại răng từ hôm thấy “cô bé” đến chừ tau nghĩ rằng tau không thể sống mà thiếu cô nàng!

 

-Vừa thôi! Răng giống cải lương rứa, mi?

 

-Tau nói thật mà!

 

-Được rồi, ăn xong tau chở mi tới trường. Mi quan sát tụi hắn tập dượt, có nhận xét chi thì cho tau hay.

 

 

Ngồi cạnh Trịnh, quan sát nhạc cảnh Hòn Vọng Phu, Hoàng nghiêng sang, nói với Trịnh:

 

-Mi chọn Uyên vào vai ni là “hết sẩy”! Giọng hát của nàng sẽ làm khán giả xúc động nhiều.

 

Sau màn nhạc cảnh, trong khi Uyên cùng nhóm học sinh rời “sân khấu giả”, Hoàng nhìn nàng không rời. Không hiểu vì trực giác bén nhạy hay là vì bộ quân phục Hải Quân của Hoàng, Uyên quay nhanh lại, nhìn Hoàng. Bốn mắt giao nhau!

 

Cử chỉ của Hoàng và Uyên không thể nào thoát được ánh mắt của Trịnh. Trịnh cảm thấy se lòng! Vừa khi đó, một nam sinh đến cho Trịnh biết chỉ còn mục hợp ca Con Đường Vui nữa thì buổi tổng dượt sẽ chấm dứt. Trịnh gật đầu, quay sang Hoàng:

 

-Hoàng! Chỉ còn một mục nữa thôi. Mi muốn đi ăn với tau rồi tối mai trở lại xem văn nghệ hay không?

 

-Không được! Tau phải trở lại tàu. Tàu sẽ rời bến tối ni.

 

-Khi mô mi trở lại?

 

-Chưa biết, vì tau nhận được lệnh đổi đi Giang Đoàn rồi.

 

-Giang Đoàn là mấy đơn vị chuyên “wuýnh” nhau, phải không?

 

-Ừ!

 

-Mi muốn hát một bài để chinh phục cảm tình của Uyên không?

 

-Mi “đi guốc trong bụng tau”! Cảm ơn mi.

 

Trịnh đến micro:

 

-Tôi thành thật cảm ơn các em đã chịu khó tập dượt. Tôi nghĩ rằng đêm văn nghệ mừng Xuân năm nay sẽ thành công mỹ mãn. Nhân đây, tôi muốn giới thiệu với các em người bạn thân của tôi, trung úy Hoàng. Vì lý do đặc biệt, Hoàng không thể tham dự văn nghệ tối mai. Hoàng có một kỹ thuật trình diễn rất khác lạ. Tôi yêu cầu Hoàng hát tặng chúng ta một bài trước khi các em rời trường để chuẩn bị cho tối mai. 

 

Tiếng vỗ tay vang lên. Hoàng tươi cười, choàng guitar qua cổ, đến sau micro. Muốn nhân cơ hội này gián tiếp tỏ tình với Uyên, Hoàng nói:

 

-Xin cảm ơn “thầy” Trịnh, người bạn thân thiết nhất của tôi và cảm ơn các bạn. Tôi xin hát tình khúc bất tuyệt của Elvis Presley: It’s Now or Never.

 

Mọi người lại vỗ tay. Hoàng dạo Cha Cha Cha rồi “bắt” vào: 

 

“It's now or never, come hold me tight. 

Kiss me my darling, be mine tonight. 

Tomorrow will be too late, it's now or never. 

My love won't wait…”

 

Thấy Hoàng vừa đàn vừa hát vừa lắc vai vừa gật đầu và đôi chân như đang khiêu vũ,  nhóm học sinh tròn mắt nhìn nhau. Thấy Uyên nhìn Hoàng không rời và môi nàng như mỉm cười, Trịnh cúi mặt, thở dài!... 

 

 

Suốt ngày đi thăm nhiều nơi quanh Vũng Áng, Đông không thấy nụ cười nào trên môi người dân. Nhưng khi Đông và Hà bước vào nhà hàng trong khách sạn – nơi vợ chồng Đông ngụ lại sau khi rời Hải Phòng – thì lại nghe tiếng nói cười rộn ràng! 

 

Đông và Hà được đưa đến chiếc bàn nhỏ vừa khi một nhóm khách mặc quân phục màu “cứt ngựa” bước vào và cười nói oang oang. Đông cứ trầm ngâm, cố nén vẻ khó chịu vì sự tương phản quá lộ liễu giữa vấn nạn của người dân và từng tràn cười hô hố của nhóm thực khách mặc quân phục. 

 

Nhóm đàn ông ngồi vào chiếc bàn lớn. Bà chủ khách sạn từ đâu bước vào. Nhận ra nhóm khách quen, bà chủ vội bước về chiếc bàn có nhiều người mặc quân phục để chào hỏi. Theo cách thăm hỏi, Đông hiểu rằng những người này là khách thường xuyên. Bà chủ, nhờ kỹ thuật thẩm mỹ, trông trẻ hơn tuổi thật rất nhiều. Một người mặc quân phục hỏi bà:

 

-Chị Yến! Càng ngày trông chị càng đẹp, càng trẻ ra, lại ăn mặc như mấy “em chân dài”. Chị đi thi hoa hậu phu nhân, đi!

 

-Úi giời! Các anh mà thấy tôi lúc trẻ, các anh đi không đành đâu!

 

Một tên lả lơi:

 

-Bây giờ tôi cũng đi không đành, nói gì thấy chị lúc chị còn trẻ.

 

-Không, thật đấy! Lúc trẻ tôi đẹp lắm cơ. Vì Bố Mẹ tôi không chịu trốn vào Nam cho nên tôi mới cơ cực, phải tham gia đánh Mỹ “kíu” nước; nếu Bố Mẹ tôi di cư thì tôi đã là phu nhân của một “thuyền trưởng” Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) rồi đấy.

 

-Ôi giời! Lại có chuyện tình đẹp thế cơ?

 

-Không bịa đâu! Thằng láng giềng của tôi mê tôi lắm, muốn tôi theo gia đình hắn vào Nam nhưng tôi không dám bỏ Bố Mẹ. Sau này nghe tin hắn mang “quân hàm” trung tá và là “thuyền trưởng” chiếc tàu “há mồm” đấy.

 

Đông giật mình, nhìn Yến, nhưng không thể thấy được dấu vết nào của cô láng giềng hiền dịu năm xưa! Một tên khác chuyển đề tài:

 

-Chị Yến! Ai làm gì phía sau mà nghe ồn ào thế?

 

-Ô, mấy thằng đui, mù, cụt, què í mà!

 

-Chúng nó làm gì sau “nhà nghỉ” của chị?

 

-Cứ lâu lâu có vài người “nước ngoài” về, gọi chúng đến, thuê sân sau của tôi và cho chúng ăn một bữa để giàn cảnh quay phim, quay video đem về bên ấy khoe là đi làm từ thiện! Nghe nói mấy nhóm ấy bảo chúng làm hồ sơ có hình, giấy chứng thương, giấy giải ngũ, v. v…rồi gửi sang bên đó để họ cứu xét xem hồ sơ thật hay giả rồi mới gửi tiền về cho. Làm hồ sơ, chụp hình, tiền cước phí, v. v…cái gì cũng tốn tiền nhiều quá nhưng gửi đi rồi, chờ mãi chả thấy xu teng nào gửi về!

 

Khu kinh tế Vũng Áng VN

Mặt Đông nóng bừng. Đông bậm môi, cố giằn cơn giận. Hà nắm tay Đông:

 

-Anh! Mình đang ở Việt Nam!

 

Vừa khi đó, một người đàn ông mù mắt cõng một người đàn ông mất cả hai chân, bước vào. Mọi người quay sang nhìn. Đông đứng bật dậy, bước nhanh đến bên người đàn ông mù, vừa đưa tay đỡ người cụt hai chân vừa nói:

 

-Anh thả anh này ra. Tôi giúp hai anh. Hai anh cần gì? Cần đi đâu?

 

-Thằng này có mắt, tôi có chân, giúp nhau đến đây; vì được biết có người trợ giúp Thương Binh V.N.C.H. tại đây.

 

Yến bước nhanh đến, lớn tiếng trong khi Đông “ẳm” gọn anh Thương Binh trên tay:

 

-Lại cũng… trò khỉ nữa! Cổng sau mở để cho vào tại sao không vào, lại đi cửa chính? Mấy người có biết khách của chúng tôi toàn là những người có quyền cao chức trọng hay không, hả?

 

Đông nhìn Yến, cố lấy giọng trầm tĩnh:

 

-Không có lý do gì chị phải nặng lời với hai anh này. Chị chỉ tôi ngõ sau, tôi sẽ đưa hai anh này đi ngõ sau.

 

-Ra cửa, rẽ phải, cổng màu xanh đấy.

 

Đông chẳng thèm lịch sự cảm ơn người phụ nữ – mà chàng nghĩ rằng đó là “người xưa” của chàng – chỉ quay sang người bị mù, bảo:

 

-Anh vịn vai tôi, đi theo tôi.

 

Hà vội bước đến:

 

-Để em giúp anh ấy đi theo anh.

 

Thấy vợ chồng Đông như sắp bỏ đi, Yến quay sang, tru tréo:

 

-Này! Này! Thức ăn gọi rồi, bỏ đi cũng phải trả tiền. Biết chưa?

 

Đông bảo Hà:

 

-Em bảo họ cho room service. Anh trở lại đón em ngay.

 

Khi Đông trở lại, Hà bảo:

 

-Họ bảo không có room service.

 

-Tốt!

 

Đông bảo người hầu bàn:

 

-Em cho thức ăn của chúng tôi vào hộp để đem đi.

 

Sau khi trả tiền, cầm thức ăn bước ra cửa, Đông thầm nghĩ, ngôn ngữ và tư cách của “Yến bây giờ” đốt cháy hình bóng của “Yến ngày xưa”, bên bến cảng Hải Phòng!

 

Qua khỏi cổng màu xanh, Đông và Hà chợt nghe tiếng hát não nùng: 

 

“…Con có hay chăng cha về. 

Lời ca hồn nhiên líu lo ngoài kia. 

Chinh chiến đã qua một thì. 

Tuổi thơ nở trên biết bao ê chề…”(5) 

 

Thấy nhiều Thương Binh ngồi dọc chiếc bàn dài, Hà không hiểu gì cả. Đông bảo: 

 

-Mình sẽ cùng ngồi ăn với họ.

Thấy Đông trở lại, Châu – anh Thương Binh cụt chân mà lúc nãy Đông đã bế từ phòng khách đến đây – vui mừng:

-Mời anh chị ngồi đây.

Để thức ăn lên bàn, gật đầu chào mọi người xong, Đông và Hà ngồi cạnh Châu. Trong khi nhà bếp dọn thức ăn, Châu nói với Đông:

-Anh biết không, tụi em cơ cực lắm, vậy mà vẫn có người “phe mình” lợi dụng tụi em cho mục đích không tốt của họ!

Chợt nhớ câu Yến nói lúc nãy, Đông hỏi:

-Tôi có nghe như thế, nhưng không biết có đúng là “phe mình” không?

-Nghe họ nói chuyện, tụi em biết. Tụi em bị cộng sản Việt Nam (csVN) hất ra khỏi xã hội cho nên tụi em thương nhau lắm, vui buồn gì cũng chia xẻ với nhau. Anh cứ hỏi tất cả mấy “đứa” này xem có “đứa” nào không từng là nạn nhân của trò Việt kiều về kêu gọi, cho ăn một bữa, quay phim, video, bảo làm hồ sơ gửi qua bển, khi họ nhận được, họ sẽ gửi tiền về cho. Tốn tiền chụp hình, làm copy, gửi bưu điện, v.v… Chờ dài cổ chẳng “đứa” nào nhận được đồng xu nào cả. Bị mấy lần như vậy, tụi em “tởn”, ai mời, cho ăn tụi em cũng chẳng thèm tới…

-Thế sao hôm nay…?

-Hôm nay là trường hợp đặc biệt; vì đây là lần đầu tiên tụi em sẽ được gặp người ơn mà suốt mấy năm qua người ơn này âm thầm gửi về cho tụi em, mỗi “đứa” $100.00 U.S. đô la. 

-Ở ngoại quốc làm ăn rất cực nhọc mà ai làm được những việc như thế thật là quý. Nhưng làm thế nào người đó biết các anh mà liên lạc?

-Dạ, lúc đầu, người đó được một tờ báo chuyên lo yểm trợ Thương Binh V.N.C.H. giao một hồ sơ để giúp trực tiếp. “Thằng” này cho “thằng” bạn cùng cảnh ngộ với nó địa chỉ của người đó thì “thằng” bạn của nó cũng được người đó cho tiền. Cứ vậy, bây giờ Thương Binh V.N.C.H. cả huyện đều được quà mà không “đứa” nào biết mặt người đó cả. 

-Thế hôm nay ai trả phí tổn này?

-Hôm nay là ngày đầu tiên người đó trở về thăm Quê Hương.

-Thế anh gặp người đó chưa?

-Chưa, tý nữa. Nghe nói ông đang đem nước ngọt đến cho từng người là chồng của bà đó.

Nghe Châu nói đến đây, Hà nói nhỏ với Đông:

-Em về phòng, tý em trở lại.

Đông “okay” rồi nhìn người đang phân phát nước ngọt và thấy khuôn mặt quen quen. Vừa khi đó, người phát nước ngọt ngẩng lên, nhíu mày nhìn Đông rồi vừa reo “Commandant” vừa vội vàng đến bên Đông:  

 -Commandant làm gì đây?

-Hoàng! Ngày xưa “toi” “ba gai” lắm mà sao bây giờ “toi” làm được những việc như thế này?

-Việc như thế này là việc như thế nào, Commandant?

-Giúp anh em Thương Binh.

-Ô, không! Đó là bà xã của Hoàng âm thầm làm chứ Hoàng không biết. Ngày nay đi thăm Vũng Áng, thấy thiên hạ khổ quá, bà ấy khóc rồi mua bánh mì thịt cho trẻ em. Cách đây mấy tiếng đồng hồ, bà ấy nhờ Hoàng đi thuê microguitar để anh em Thương Binh ca hát cho vui. Hoàng cật vấn hoài bà ấy mới “bật mí” chuyện Thương Binh.

Hoàng vừa dứt câu, Đông thấy một thiếu phụ từ khách sạn bước ra. Hoàng vừa gọi vừa đưa tay ngoắt:

-Uyên, lại đây!

Thấy người phụ nữ bước về phía Hoàng, Đông nghi ngờ, quay nhìn Hoàng bằng ánh mắt khó hiểu. Hoàng cười thật tươi, giới thiệu:

-Đây là vị cựu Hạm Phó của anh; đây là Uyên, bà xã của Hoàng.

Nhìn nụ cười của Hoàng rồi thấy cung cách Uyên cúi đầu chào, Đông biết chàng không thể nào nhầm phụ nữ này với “cô bé trong nhà thờ”! Đông thở dài, chưa kịp thăm hỏi Uyên thì Hoàng xin lỗi, đến giờ chàng phải giúp Uyên phân phát quà cho Thương Binh trước khi họ ăn tối và “hát cho nhau nghe”. Đông thấy Uyên và Hoàng trao mỗi Thương Binh một phong bì. 

Từ khách sạn bước ra, Hà ngồi cạnh Đông và trao cho chàng một xấp bì thư:

-Đây, em đếm đủ cả rồi. Tý nữa anh phát cho mỗi ông Thương Binh một bì thư, nhá!

-Em làm cái gì anh chả hiểu?

-Lúc nãy nghe anh Châu nói về việc làm âm thầm của bà nào đó em cảm thấy áy náy là từ trước đến giờ em không biết gì về Thương Binh V.N.C.H. Bây giờ mình có tý quà, anh tặng mấy ông ấy hộ em.

Đông chợt hiểu. Từ nãy giờ Ngân Hà vào văn phòng khách sạn xin bì thư, cho tiền vào từng bì thư. Đông nắm tay vợ:

-Em quả thật là người vợ tuyệt vời! Em tặng mỗi người bao nhiêu?

-Dạ, $100.00 Mỹ kim.

-Anh sẽ đi với em. Nhưng công khó của em, em nên trao tận tay từng người.

Khi trao bì thư cho mỗi Thương Binh, giọng Hà xúc động:

-Chúng tôi biết ơn các anh nhiều lắm!

Tặng quà xong, Hoàng và Uyên đến ngồi cạnh vợ chồng Đông, cùng vui vẻ ăn uống với Thương Binh. Ăn xong, Đông cáo từ để về phòng, nghỉ – dù Hoàng hết lời năn nỉ Đông ở lại.

 

Cùng Hà buớc lên bậc cấp để về phòng, Đông chợt cảm thấy có lỗi với Hà; vì hình ảnh và tiếng hát cao vút của “cô bé trong nhà thờ” năm xưa đang bừng sống trong lòng chàng. Đông bồng bột thương Hà, vội nắm tay Hà, thủ thỉ:

-Anh cảm ơn em. Mấy mươi năm qua em đã tận tụy và hết lòng với anh.

-Ơ, cái gì thế?

-Lòng tốt của em đã giúp anh đỡ bị “quê” với Hoàng.

-Có thế mà cũng…bày đặt!

Đông mở cửa, kéo Hà sát vào chàng:

-Em thay đồ. Anh ra lan can nhìn biển một chốc.

-Lại mơ mộng nữa rồi! Anh thì thôi!

Đông tựa vào lan can, tự hỏi: Từ lúc nào và làm thế nào Hoàng có thể chinh phục được “cô bé trong nhà thờ”? Không thể tìm được câu trả lời, Đông nhìn vùng trời mờ sương. Chính lúc đó, Đông tưởng như có thể thấy được Dương Vận Hạm Nha Trang, HQ 505, đang hải hành nơi cuối trời! Đông thở dài, cảm nhận được từng vết chân kỷ niệm đang dẫm nát tim chàng! 



ĐIỆP MỸ LINH

----------

1 và 2.- Giấc Mơ Hồi Hương của Vũ Thành.

3.- Có nghĩa là rời chiến hạm/chiến đỉnh/đơn vị để đi phố.

4.- Bài Thánh Ca Buồn của Nguyễn Vũ.

5.- Ngày về của Phạm Duy.

------------

* Cám ơn tác giả gửi bài đến GNST

Post by Kim Quy

-Hình minh họa-internet

Xem thêm...

Những Mùa Giáng Sinh Trên Đất Mỹ

Những Mùa Giáng Sinh Trên Đất Mỹ

Giáng Sinh năm 1990 là mùa Giáng Sinh đầu tiên tôi đón trên đất Mỹ này. Tất cả đều vừa lạ lùng mà cũng vừa quen thuộc. Dĩ nhiên lạ lẫm vì đây là lần đầu tiên được chứng kiến sự tấp nập của các khu thương mại sầm uất. Những khu nhà giăng đèn nhấp nháy từ trên nóc xuống đến sân vườn. Đồng thời cũng quen thuộc vì cũng những bản nhạc Giáng Sinh réo rắt như Jingle Bells vang lên như những năm xưa tôi đón Noel ở Sài Gòn, hoặc những bản thánh ca êm đềm làm trùng lòng người như Silent Night.

Tôi đón Noel đầu ở Mỹ trong hoàn cảnh có thể nói là khá khó khăn. Mới qua Mỹ được hơn tám tháng. Vừa học vừa làm. Học ở community college thì vì thời gian sống ở Virginia chưa đủ nên phải trả tiền học phí out of state do đó tiền Pell Grant của chính phủ chỉ đủ bao cho phân nửa. Công việc ở hãng đóng hộp thịt cua cách nhà tôi không xa tuy không nặng nhọc nhưng có phần ướt át lạnh lẽo, nhất là vào những buổi chiều đứng rửa các thùng cua ngay bên bờ sông sau giờ làm để kiếm thêm chút tiền over time. 

Thông thường trên người tôi chỉ mặc một chiếc T shirt ngắn tay bên trong mặc thêm một áo thun lót và đeo chiếc tạp dề bên ngoài khi làm việc. Vì tính chất  công việc ướt át và nặng mùi tanh của cua nên những hôm trời lạnh tôi chỉ mặc thêm một chiếc áo mưa cũ. Gia tài của tôi khi đó chỉ có một chiếc áo len cũ được cho khi mới qua và chiếc áo khoác mỏng mua từ Việt Nam trước khi đi xuất cảnh mà lúc mua cứ ngỡ sẽ ấm lắm; nhưng khi qua đến Mỹ mới thấy chẳng thấm vào đâu. Hai chiếc áo này được tôi để dành mặc đi học.

Năm đầu tôi lấy tất cả các lớp vào buổi sáng sớm để tan trường về còn kịp đón xe bus về để vào hãng làm. Hãng cua này nhỏ mà phần lớn công nhân là Mỹ đen hay những người mới chân ướt chân ráo qua Mỹ như tôi bao gồm đủ các sắc dân: Việt Nam, Pakistan, Afghanistan, Cambodia, v.v... Ngược lại supervisor, manager hay những cô thư ký trên văn phòng đều là Mỹ trắng. Người chủ hãng cho phép tôi được vào làm bất cứ lúc nào sau giờ học. Vì phải đi xe bus lòng vòng thành phố nên tôi luôn tranh thủ vừa ăn trưa bằng hai miếng sandwich kẹp ham vừa làm bài ngay trên xe để khi về đến nhà là chỉ cần thay quần áo lấy xe đạp vọt ra hãng làm ngay. 

Hàng ngày giờ tan ca không cố định vào lúc nào mà tùy thuộc vào số lượng cua mua vào trong ngày nhiều hay ít. Thông thường khoảng hơn 4 giờ chiều là bắt đầu tắt máy. Để ráng kiếm thêm giờ tôi luôn xung phong ở lại dọn dẹp và xịt nước rửa các thùng cua sau khi phòng máy đã đóng cửa. Đây là công việc nhẹ nhàng nhưng ít ai muốn làm vì ướt át và nhất là lạnh lẽo vào mùa đông khi phải đứng ngoài trời ngay bờ sông để làm việc.

Và đây cũng là lý do tôi không bị ai cạnh tranh vì thường chỉ có người Việt Nam mình mới ham làm thêm giờ nhưng dạo đó trong số người Việt Nam làm cùng, không ai dám đứng ngoài trời mà xịt nước như tôi giữa thời tiết giá lạnh của mùa Đông Virginia. Trời mùa Đông tối nhanh nên hôm nào cũng thế, khi rửa xong hết các thùng cua và đạp xe về nhà thì đường phố đã lên đèn .Vào một buổi tối đạp xe trên đường về như thế tôi lần đầu biết đến cảm giác chảy máu cam. Từ nhỏ đến lớn khi còn ở Việt Nam tôi không bao giờ bị chảy máu cam. Thế là kể từ đó tôi biết được trời lạnh quá cũng là một nguyên nhân khiến người ta chảy máu mũi.

Ngày làm việc cuối cùng trước khi nghỉ Noel, đồng thời hãng cũng đóng cửa tạm thời một thời gian do trời lạnh không còn nhiều cua, tôi được dự một buổi ăn trưa do hãng đãi. Món ăn chủ yếu mua từ nhà hàng bán thức ăn nhanh KFC (Kentucky Fried Chicken) nhưng đối với tôi lúc đó cũng đã là một bữa tiệc thịnh soạn. Buổi chiều hôm đó được về sớm tôi bèn nảy ý định đạp xe đến trường để xem kết quả điểm khóa đó của mình ra sao. Vì là semester học đầu tiên trên đất Mỹ nên tôi cứ đinh ninh trường sẽ niêm yết tên học sinh cùng điểm của năm học.

Thường ngày đi xe bus đến trường mất gần một tiếng nhưng tính theo khoảng cách tôi áng chừng chắc chỉ cỡ 15~20 km là cùng. Vì ngày xưa tôi đã từng đạp xe không biết bao nhiêu lần qua lại giữa Sài Gòn và Thủ Đức khi còn làm thợ cơ khí trên đó nên tôi nghĩ mình sẽ đạp được đến trường một cách dễ dàng. Nghĩ thì nghĩ thế nhưng đến khi thực hiện mới thấy thấm thía câu "Lực bất tòng tâm". Đạp được qua vài block đường thì hai bàn tay nắm ghi đông xe và hai vành tai đã lạnh cóng nhưng trong người thì đổ mồ hôi ròng ròng có lẽ vì hồi hộp mỗi khi đạp băng qua đường nhiều hơn là do mệt. Chạy được chừng hơn 15 phút tôi quyết định bỏ cuộc quay về nhà.

Năm đó cũng là lần đầu tiên tôi được nhận các món quà Giáng Sinh. Không kể các món quà trao đổi nhau giữa các thành viên trong gia đình trong bữa tiệc reveillon do mẹ tôi chủ trì còn phải kể đến chiếc áo khoác mỏng gửi từ tiểu bang Kansas của chị người bạn gái khi đó còn ở Việt Nam. Cũng là lần đầu tiên tôi đi mua một hộp thiệp Noel, rẻ hơn mua thiệp riêng rẽ, để gửi cho bao nhiêu người quen trên đất Mỹ. Rồi mùa Giáng Sinh đầu tiên đó cũng qua đi để tôi quay trở về vật lộn mới mớ chữ nghĩa trên giảng đường đại học cùng những thùng nhựa đựng càng cua đầy ắp mà tôi phải đổ vào máy mỗi ngày sau giờ học. Cuộc sống cứ thế trôi để rồi khi khí trời lại trở lạnh và các khu thương xá cũng như những khu dân cư được trang trí bằng những dây đèn màu cùng các bản nhạc thánh ca được vang lên từ đâu đó thì cũng là lúc tôi lại đón một mùa Giáng Sinh nữa trên đất Mỹ. 

 


 

Những mùa lễ Giáng Sinh trong không khí lành lạnh đôi khi có tuyết bay lất phất của Virginia không làm cho tôi quên đi những mùa Giáng Sinh xưa ở quê nhà. Những mùa Giáng Sinh giữa lúc tiếng bom đạn vẫn còn quanh quẩn đâu đó không xa Sài Gòn bao nhiêu. Ký ức về những mùa Giáng Sinh khi tôi còn nhỏ gắn liền với các bài tập thủ công cắt giấy làm thành hình cây thông gắn bông gòn để thay cho tuyết, dùng vỏ trứng gà gắn bông gòn và bút màu vẽ để làm mặt ông già Noel. Những bài thủ công được đem về nhà làm này đều có bàn tay của ba hay anh tôi phụ giúp bởi hoa tay là thứ mà tôi không hề có.

Trong ký ức tôi lúc này còn có cả những bài hát được cô giáo người Pháp dạy, “Mon beau sapin roi des forets ...”.  Giáng sinh của những năm đầu thập niên 70 đôi khi còn là những lúc nhìn bạn bè hàng xóm diện quần áo đẹp đi lễ nhà thờ rồi quay trở về nhà để dự tiệc reveillon mà bỗng nhiên ao ước mình có đạo thử một lần cho biết mùi vị bữa tiệc nửa đêm như thế nào. Liệu nó có giống bữa tiệc giao thừa hay không? Giáng sinh của những năm cuối thập niên 70 chỉ là những buổi tối đạp xe nhìn thiên hạ đổ ra đường. Là dịp để cho thanh niên quậy phá công khai khiến nhiều người e ngại khi phải ra đường. 

Giáng Sinh năm cuối cùng của thập niên 80 đánh dấu mùa lễ đầu tiên của tôi làm kiếp người tha hương. Buổi tối đi theo một cô nhỏ ở cùng building dự thánh lễ cử hành tại nhà thờ trong trại tị nạn Bataan để cho biết với thiên hạ lại làm tôi liên tưởng đến những buổi lễ tại các nhà thờ ở Sài Gòn cùng những người bạn có đạo vào các Giáng Sinh vài năm trước đó. Xong buổi lễ tôi tiếp tục tham dự party dành cho những người assistant teacher trong trại tị nạn đến khuya mới về đến nhà. Trên bàn là tô cháo thịt mừng Noel của chị ở cùng nhà để dành cho. Tô cháo ngon, hấp dẫn mà bụng vẫn chưa no nhưng không dám ăn vì chứng kiến một vài con gián nhỏ bò quanh miệng tô. Thôi đành đậy lại cất đi để sáng mai đun lại mới dám ăn.

Những mùa Giáng Sinh đầu trên đất Mỹ tuy có khó khăn chật vật, tương lai còn chưa định hình phía trước nhưng vẫn hạnh phúc vì ngoài việc được hít thở không khí tự do tôi còn được sống quây quần cùng với ba mẹ, anh chị trong căn apartment nhỏ nhưng ấm cúng. Cũng ăn tiệc mừng Chúa ra đời như người có đạo, chỉ có khác là không cần phải chờ đến nửa đêm, không cần phải đến nhà thờ dự lễ. Mùa Giáng Sinh năm 1995 là mùa Giáng Sinh đầu tiên trên đất Mỹ tôi được giã từ sách vở để chính thức có công việc full time thích hợp với chương trình học của mình. Từ đây tôi không còn phải bận rộn trải qua thời gian trước ngày lễ với sách vở hay vật lộn với công việc tay chân mà lúc đó không còn là những thùng cua mà là những mớ chén bát phải rửa dưới bếp của một nhà hàng Tàu. Rồi đến mùa Giáng Sinh năm 1998 chúng tôi bắt đầu phải làm quen với việc vắng bóng hình ảnh của ba tôi. 

Giáng Sinh đầu tiên của thiên niên kỷ mới cũng đánh dấu bước ngoặt lớn chấm dứt cuộc đời độc thân của tôi. Để rồi những mùa Giáng Sinh sau, hai vợ chồng tôi bỗng dưng trở nên bận rộn hơn khi có thêm trách nhiệm thay mặt ông già Noel để phân phát quà. Những mùa Giáng Sinh của các năm đầu của thế kỷ 21 còn đánh dấu bởi những cú điện thoại của vợ gọi vào hãng thông báo rằng con bé ở nhà khi thấy ngoài trời sẩm tối đã tự xỏ giày ra ngồi chờ trước bậc cầu thang để bố về chở đi lòng vòng phố phường xem đèn. Rồi không biết bắt đầu từ lúc nào các con tôi không còn tin rằng việc ông già Noel phát quà cho trẻ nhỏ là chuyện có thật trên cõi đời này. Chỉ có quà của ông bà, bố mẹ, cô chú bác, anh chị em trong nhà mà thôi. Mỗi một mùa Giáng Sinh đến là một lần thấy các con tôi khôn lớn hơn và không còn cần mình nhiều như xưa nữa. Hai ngày trước Giáng Sinh năm 2018, ba bố con tôi có được một kỷ niệm vui đáng nhớ.

Hôm đó tôi chở con gái lớn đến nhà bạn cho cháu tham dự buổi party. Nhà bạn cháu cũng ở cùng một thành phố này nhưng lại là khu hẻo lánh tôi chưa đến bao giờ. Đến tối khi ghé đón cháu thì tôi đã quẹo hơi sớm nên lái vào drive way của căn nhà bên cạnh. Căn nhà này không có drive way đổ bê tông hay trải nhựa hoặc rải đá sỏi mà chỉ là nền đất. Chẳng may cho tôi là trước đó mấy ngày mưa liên tục nên nền đất trở nên mềm nhão. Khi phát giác ra là mình ghé lộn nhà, tôi đã cho xe lùi lại nhưng bánh xe đã bị lún sình quay vòng tròn và chiếc xe bị sa lầy không tiến hay lui được nữa. Người chủ nhà đi ra xem cũng không giúp được gì. Cũng may tôi là thành viên của AAA nên có thể gọi để họ đến kéo xe mình ra. Và năm đó là Noel duy nhất tôi đã gửi thiệp cho một người hoàn toàn xa lạ chính là người chủ căn nhà mà chiếc xe của tôi đã sa lầy và làm nát sân cỏ của ông ta.

 

Thời gian trước mùa lễ Giáng Sinh năm 2021 này cũng để lại cho tôi một kỷ niệm khó quên. Vì tình hình Covid vẫn còn hoành hành nên buổi lễ phát giải Viết Về Nước Mỹ năm nay đã được tổ chức vào tháng 12 thay vì vào mùa Hè như mọi năm. Nhờ vậy tôi được dự buổi lễ trong không khí Giáng Sinh ấm cúng với cây thông Noel làm nền trang trí. Và ở phần ngược lại, tôi sẽ được đón ngày lễ Giáng Sinh với chút dư âm còn sót lại của buổi lễ phát thưởng, nơi tôi được gặp mặt những người cầm bút chuyên nghiệp lẫn viết lách tài tử như tôi cũng như những cây đại thụ trong làng văn nghệ mà trước đây chỉ biết đến qua hình ảnh, báo chí như nhà văn Doãn Quốc Sỹ, thi sĩ Trần Dạ Từ, nhà văn Nhã Ca, hay ca sĩ Khánh Ly. Cái không khí ấm cúng thân mật của buổi lễ ngày hôm đó như một nét chấm phá mở đầu cho bức họa mùa Giáng Sinh năm 2021 của tôi một cách hoàn hảo.

Và tôi biết rằng trong tương lai khi mùa Giáng Sinh đến, chắc chắn tôi sẽ lại ngồi hồi tưởng đến mùa Giáng Sinh năm nay khi đang ngồi đây viết lên những dòng chữ này.

Viết vào mùa Giáng Sinh 2021

 

Thảo Lan

* Thảo Lan
Tác giả tên thật Nguyễn Hoàng Việt sinh tại Sài Gòn. Định cư tại Mỹ năm 1990 qua chương trình ODP (bảo lãnh). Tốt nghiệp Kỹ Sư Cơ Khí tại tiểu bang Virginia năm 1995. Hiện cư ngụ tại miền Đông Nam tiểu bang Virginia. Tham dự Viết Về Nước Mỹ từ cuối năm 2016, Thảo Lan đã nhận giải đặc biệt Viết Về Nước Mỹ năm thứ 19 và 21.( Việt Báo)

-----------

Kim Quy st

Hình internet

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Xem thêm...
Theo dõi RSS này