Truyện

Truyện (194)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Vui quá, tôi đã chích ngừa covid !

Vui quá, tôi đã chích ngừa covid!

ღღღ

Về đến nhà thay quần áo xong, chị Bông ôm cánh tay rên rỉ:

– Ðau quá! Chích ngừa Covid đau quá…

Anh Bông đứng gần đó lẩm bẩm:

– Nhà giàu đứt tay bằng ăn mày đổ ruột! Tôi cũng chích vaccine Pfizer lần 2 như bà cách đây vài ngày mà có kêu ca gì đâu.

– Anh khác em khác! Hai đứa mình luôn là hai con đường nghịch chiều, đến nỗi cả hai cùng lúc ghi danh chích ngừa mà cái hẹn vẫn kẻ trước người sau. Anh không một lời hỏi thăm an ủi thì thôi còn nói móc mỉa.

– Tôi nói đúng chứ không móc mỉa. Mấy hôm bão tuyết Texas vừa rồi trời thì lạnh căm căm, tuyết thì đầy sân mà bà xót xa cây hoa sứ vẫn để quên ở patio, bà sai tôi ra lấy vào nhà kẻo hoa sứ chết mất. Còn tôi thì sao, bộ mình đồng da sắt chắc? Trong khi bà ngồi trong nhà máy sưởi ấm đầy đủ lại khoác thêm mấy cái áo len áo gió, bà thong thả vén màn nhìn ra cửa sổ than thở trách trời oán đất và tuyên bố giờ này ai mà mời em đi đại tiệc cho tiền thưởng một triệu đô em cũng không thèm.

Chị Bông gạt đi, sụt sùi:

– Thôi, anh rót cho em ly nước ấm lên và lấy giùm em cái chăn cái gối mang ra sofa để em nằm nghỉ ngơi xem ti vi luôn thể. Ngày mai có thể em không còn sức mà nấu cơm, anh ra tiệm order cơm bún phở gì tùy ý nha.

– Bà làm như đang bị trận ốm long trời lở đất vì đại dịch ấy. Chưa đến ngày đi chích lần 2 mà bà đã… đau trước cả mấy ngày rồi.

– Thì các bạn trên diễn đàn đã chích lần 2, ai cũng than mệt mỏi đau nhức, em phải lo chứ.

– Bà đau vì “tâm trạng” chứ thịt da có đau là bao! Tôi còn lạ gì cái tính bi quan phóng đại của bà. Nhưng tôi cũng sẽ mang chăn gối ra ngay cho bà đây.

Anh Bông mang chăn gối ra nói tiếp:

– Từ tháng Giêng nghe tin thành phố Arlington chích ngừa Covid ngay tại Stadium Arlington theo thứ tự ưu tiên trong đó có người cao niên 65 tuổi trở lên, bà hào hứng lắm vì địa điểm cách nhà mình chỉ 10 phút, bà “sai” tôi ra hỏi cách ghi danh, còn bà nhất định không chịu đi vì sợ mang tiếng là người… “cao niên”.

Chị Bông lại gạt đi như thói quen mỗi khi thấy chồng có lý:

– Thôi, anh đừng nói nữa. Em biết rồi “cao niên” cũng có lợi, nhất là cái vụ chích ngừa Covid này, chích trước yên tâm trước.

Chiều hôm nay, 24 tháng Hai chị Bông đi chích ngừa Covid lần 2. Texas vừa trải qua cơn bão tuyết kinh hoàng kéo dài cả tuần, có nơi mất điện, có nơi mất nước, thời tiết lạnh thấu xương, đông đá, tuyết trắng cả đất trời. Khí hậu mới vừa ấm lại từ 20 tháng Hai. May mà cái hẹn của chị Bông không bị cancel như bao cái hẹn khác rơi ngay vào cao điểm tuyết nhiều lạnh nhiều.

Chị Bông nhớ lại lúc nãy đi chích ngừa, từ hai cô ngồi bàn tiếp nhận đến nhân viên, y tá ra đón đưa vào phòng, ai cũng vui vẻ nhiệt tình cứ làm như sau cú chích Covid này họ sẽ thu được của chị Bông món tiền công béo bở lắm. Chích xong ra khỏi cửa phòng, một nhân viên thân mến dán lên ngực áo chị Bông cái label ghi: “Texas Health Covid-19 Vaccine. I did it to Protect you. I got the shot”. Cô ta còn giơ ngón tay cái lên chúc mừng chị Bông như là một “người hùng”.

Khi ra về chị Bông chỉ biết “trả công” họ bằng nụ cười mãn nguyện và lời cám ơn “vô giá” từ đáy lòng chị mà thôi.

Giờ đây “người hùng” đang nằm đau một mình. Cuộn người trong chăn vẫn cảm thấy điểm chích nơi cánh tay trái căng cứng thêm, những khớp xương đau thêm, những cơ bắp đang rã rời thêm.

– Anh ơi, anh đâu rồi?

– Bà thều thào gì thế? Tôi đang đọc báo.

– Anh còn ngồi mà đọc báo được à? Anh thật là vô cảm!

Tiếng anh Bông vẫn từ trong phòng vọng ra:

– Bà cần gì thì cứ bảo.

Chị Bông nỉ non:

– Em đang đau râm ran khắp người, choáng váng toàn diện đây. Ðêm nay chắc là em sẽ mất ngủ, vậy sáng mai anh đừng khua động gì để yên cho em ngủ nha. Anh lo canh chừng kẻ nào vô duyên gọi phone đến nhà này quảng cáo tùm lum thì cúp phone luôn nha, không cần lịch sự lắng nghe hết câu làm gì.

– Bà chưa đi ngủ mà đã lo sẽ mất ngủ, đã dặn dò. Tôi đang đọc báo mạng có tin này kể là bà… hết đau, sẽ ngủ ngon liền.

Chị Bông vẫn bi lụy:

– Chẳng thuốc tiên nào cứu em được đâu!

Anh Bông đến bên chị Bông và kể:

– Tôi vừa đọc báo mạng Việt Nam, ngày hôm nay 24 tháng Hai là ngày bà đi chích Covid liều 2 thì bên Việt Nam người ta mới vừa nhận 2 lô thuốc đầu tiên gồm117,600 liều. Và mất khoảng 2 tuần lễ sau khi ngành y tế xem xét phê chuẩn mới mang thuốc ra sử dụng cho những diện ưu tiên tuyến đầu. Có nghĩa là đám dân đen cỡ như bà nếu ở Việt Nam thì đừng hòng trông chờ gì mình được chích ngừa ngay đợt này.

Chị Bông nghe xong, thốt lên:

– Lại kẻ quyền thế, kẻ có tiền bạc sẽ được ưu tiên. Mà dân Việt Nam ăn bánh vẽ quen rồi, như vụ chính phủ nói sẽ hỗ trợ cho dân tiền vụ Covid đấy. Trong khi ở Mỹ mình lãnh check 1,200 rồi mà dân Việt Nam còn đang… nằm mơ gói cứu trợ.

Anh Bông nói thêm:

– Khi Mỹ vừa công bố 2 loại thuốc chích ngừa Pfizer và Moderna lập tức được cả thế giới chú ý. Dân Mỹ là những người được thừa hưởng ngay thành quả ấy, trong khi dân các nước khác trong đó có Việt Nam lại chỉ thấy trong mơ.

– Ừ nhỉ, khi Nga, Trung cộng công bố tìm ra vaccine Covid, em đọc xong và… quên luôn tên thuốc; còn tên các vaccine của Mỹ thì em nhớ hoài Pfizer nè, Moderna nè, Johnson& Johnson nè…

– Ngay lúc này trên thế giới có bao nhiêu người đang chờ mong được chích ngừa Covid, muốn được đau tay, đau mình mẩy như bà còn chưa đến lượt, bà đỏng đảnh vừa vừa thôi. À, bà còn nhớ ông Du không?

Chị Bông nhanh nhảu:

– Ông bạn già mất nết của anh chứ gì! Vợ chết, bán nhà cửa ôm tiền về Việt Nam cộng thêm tiền lương hưu hàng tháng, ông mua nhà đẹp, thuê người giúp việc, sống phong lưu “vui hưởng tuổi già” với cô bồ trẻ tuổi hàng con cháu.

– Hết vui hưởng rồi bà ơi! Ông Du đang tìm cách mua vé máy bay về Mỹ để… chích ngừa Covid kìa. Ở Việt Nam liều thuốc Astrazeneca cũng chưa đến lượt ông chứ đừng nói đến thuốc Mỹ như Pfizer hay Moderna dù ông có nhiều tiền sẵn sàng móc ra chi trả. Mỗi ngày tuổi càng thêm già bệnh hoạn càng đến gần thì có khi chạy về Mỹ cũng không kịp.

Chị Bông tán thành:

– Ðừng nói là có tiền ở Việt Nam mua gì cũng được nhé.

– Bà đang là một trong số nhiều người sống trên đất Mỹ được hưởng bao lợi ích từ đất nước này. Nhân thế còn bao nỗi buồn khổ oán hờn, bao chết chóc bệnh hoạn đớn đau thì cái đau vì chích ngừa chỉ là hạt bụi nhỏ xíu xíu mà bà làm cho to chuyện thật là vô duyên. Thay vì nằm trùm mền rên rỉ, bà phải sung sướng reo lên: “Vui quá, tôi đã chích ngừa Covid rồi”, nhé!

Chồng nói quá đúng, chị Bông không gạt đi nữa mà tung hê chăn gối ngồi nhỏm ngay dậy:

– Ừ, bây giờ em la to lên đây, em reo hò lên đây: “Vui quá, tôi đã được chích ngừa Covid rồi”.

– Có thế chứ! Bà sẽ cảm thấy cái tay chích đau không là gì cả.

Chị Bông e lệ thú nhận:

– Em thừa biết chích liều 2 chỉ đau một hai ngày là hết, em cũng thừa biết bao người đang nôn nóng chờ đợi. Nhưng cái tính em cứ hay … sầu bi thế đấy và nếu không được chích chắc em sẽ… sầu bi hơn.

Chị Bông gấp chăn gối lại:

– Em vừa nhớ ra khi chích xong cô y tá đã dặn dò em phải hoạt động cánh tay chích để mau hết đau đó anh. Vậy ngày mai anh khỏi phải order thức ăn nha, anh muốn ăn gì? Nói đi, em nấu…

 

Nguyễn Thị Thanh Dương

-------------

Hình Internet

Ngọc Lan st

Xem thêm...

Truyện Ngắn: Yến

Truyện ngắn: Yến

Thế là được ba năm theo nghề, An bây giờ đã là một thợ leo giỏi có tiếng của công ty. Ngày mới vào nghề, ai cũng cười An, chê nó không thể leo được. Anh Bàn, người giới thiệu dẫn dắt nó vào nghề nhiều lúc cũng gắt:

 - Mầy nhát hít, làm sao làm được đây?

 Chú Bội an ủi

 - Từ từ sẽ dạn thôi, khi xưa chú mới vào nghề cũng vậy! 

 Mấy tháng đầu người ta cho nó theo làm phụ những việc vặt vãnh, tập leo dưới thấp, nhớ lần đầu leo lên giàn. An run cầm cập, những cây tre trông nhỏ bé và mong manh quá, sóng dưới chân vỗ ì oạp, vách đá chỗ thì nham nhở, chỗ thì trơn trượt, từ trên giàn nhìn xuống muốn chóng mặt. Nhưng vào nghề rồi thì phải chịu, mỗi ngày leo cao hơn chút nữa, có không ít lần An muốn bỏ cuộc, nhìn vách đá thấy ớn lạnh sống lưng, gió rít rần rật, sóng biển ầm ầm vậy mà mồ hôi mặt chảy xuống môi mằn mặn. An cũng chẳng còn tâm trí nào để phân  biệt cái mặn do hơi nước biển đọng laị hay do mồ hôi. Tập riết rồi quen, ngày An gỡ được ba mươi tổ yến đầu tiên, Anh mừng lắm, coi như đã thạo nghề. Nhóm thợ đi chung vỗ vai An chúc mừng:” chú em khá lắm”.

 Thời gian vẫn vô tình trôi qua, con nước cứ đầy rồi vơi, hết muà gió chướng thì xuân laị về. Đàn yến bắt đầu làm tổ để chuẩn bị đẻ trứng. Những người thợ laị dong thuyền ra hang lầy tổ yến về cho công ty. Yến bay rợp trời, trông nhỏ xíu vậy nhưng sức dẻo dai khó có ai bì kịp, mỗi ngày nó bay cả trăm dặm để kiếm thức ăn. Sự kiên nhẫn của yến cũng không ai sánh bằng, không từ ngữ nào mô tả trọn vẹn. Yến khạc nước dãi từ trong thân của mình để trét thành tổ, An và những người thợ leo gỡ lấy tổ của nó.

Nó laị kiên nhẫn vắt kiệt nước trong thân để làm tổ lần thứ hai, rồi cũng bị con người cướp đi. Lần thứ ba thì nước trong người nó không còn đủ, nó phải khạc cả máu để làm tổ, những cái tổ lần thứ ba này có những sợi màu đỏ của máu nên gọi là huyết yến. Con người ta qúy lắm, giá mắc kinh khủng, Người ta cho huyết yến là cực kỳ bổ dưỡng và sung sức. An và những người thợ lấy tổ yến đem về cho công ty, người ta sơ chế rồi đóng hộp để bán cho giới nhà giàu và phần nhiều là để xuất khẩu. Tổ yến là một trong những món ngon bổ dưỡng hàng đầu, là món mà những người nhiều tiền ưu tiên chọn, bọn họ dùng yến bồi bổ thân để hưởng thụ lạc thú cuộc đời. Nếu ngày xưa chỉ có vua và hoàng gia mới được dùng, bây giờ thì giới quan gia, đaị gia nhiều tiền lắm của xài thoải mái.

 Tổ yến đầu tiên mà An gỡ khỏi vách đá là yến loại hai, trong tổ còn có hai con chim non đang há mỏ chờ mẹ mớn mồi. An lúng túng không biết đặt hai con chim non kia vào đâu để gỡ tổ. An đeo mình trên giàn tre, bám sát vách đá, bên dưới sóng biển vỗ ào ạt, vực sâu thăm thẳm, trên đầu bầy yến bay loạn xạ. Yến thấy những người thợ leo lên vách đá cướp tổ của nó, chúng nó bay lượn quanh những người thợ, kêu rít rít liên hồi, cái âm thanh nhỏ nhưng cộng hưởng của cả chục ngàn con và hồi hưởng của vách đá làm cho âm ấy như mũi dùi xoáy vào tai. Cái âm thanh của sự tuyệt vọng, sự cầu cứu mà những con yến bé nhỏ hiền lành đành chịu bất lực, chỉ còn biết cất tiếng kêu bi thương.

Trong khoảng khắc cực kỳ ngắn, An nhớ lời những người thợ lành nghề truyền dạy:” Cứ vứt trứng và chim non để lấy tổ”, với trứng chin thì An vứt mà không có bất cứ vấn vương gì, nhưng đây là hai con chim non, nó đang chờ mẹ nó mớn mồi, nó hiền lành và vô tội, nỡ nào ném xuống biển? Lòng An thấy bất nhẫn không đành, An đu mình lòn qua mấy cây sào tre tìm đến những cái tổ khác, càng leo cao, lòng hang càng hẹp và tối dần, mức độ nguy hiểm cũng tăng theo độ cheo leo, được cái lên cao thì tổ yến mới nhiều, những ngóc ngách nguy hiểm thì tổ yến dày đặc, những cái tổ trắng trắng xinh xinh như bàn tay, như miếng bánh hỏi. An với tay tới một tổ yến trước mặt, laị đụng phải chim non, rướn thêm tí thì thấy rõ hai con chim con còn chưa mở mắt, nằm gọn cái tổ xinh xinh. Anh rụt tay laị, cứ như thế suốt cả buổi, tổ nào cũng có chim non. Đến buổi nghỉ để ăn, An đếm số tổ lấy được quá ít. Anh Bàn la lối:

 - Làm ăn như vậy thì tiêu tùng! Có nhiêu đó sao đủ sở hụi chi tiêu trong ngaỳ, còn nói chi đến vợ và con ở nhà trông đợi!

 Anh Bàn vào nghề đã lâu, anh thấu hiểu vì sao An chỉ lấy được nhiêu đó. Anh cũng đã trải qua những giây phút ban đầu khi gỡ tổ yến gặp chim non, cũng ngần ngại, cũng dằn vặt không nỡ ném, rồi một lần nhắm mắt tặc lưỡi ném, cứ thế làm tới nên cảm giác chai sạn dần, lâu riết chẳng còn xúc cảm nữa, cứ gặp là ném thôi, giờ thì anh cũng như những người thợ khác, cứ ném chúng như ném hòn sỏi xuống biển. Anh tâm sự:

 - Cũng vì cơm áo gạo tiền nên phải làm thế thôi, mình không cố ý haị nó, nhưng không làm thì vợ con sống sao đây?”

 Chú Bội rít một hơi thuốc lá rồi ném tàn thuốc xuống biển, chú laị hớp một chút nước mắm nhĩ để giữ ấm thân. Chú là người có thâm niên lâu nhất nhóm thợ, nhiều anh  em được chú dạy cho cách dựng giàn tre, cách leo và cả cách đối phó với những con rắn biển khi gỡ tổ yến gặp phải. Chú Bội khô đét, đen nhẻm, cái khô rắn rỏi của dân biển, cái thân thể ấy được trui rèn qua nước mặn, gió biển và sự leo trèo bao nhiêu năm nay. Chú bảo An:

 - Trước khi ra hang đã cúng tổ rồi, mình làm nghề này thì phải vậy thôi, mình không cố ý hại chúng nhưng mình và người nhà cần phải sống!

 An ngồi lặng lẽ không nói lời nào, nó co ro mắt nhìn đăm đăm ra biển. Nó vốn không nghề nghiệp gì, lông bông riết vừa chán đời vừa không có tiền chi tiêu. Anh Bàn là anh họ của nó, xin cho nó vào công ty để đi lấy tổ yến, từ ngày vào nghề, vừa có tiền cho vợ con vừa bớt phải nhậu triền miên. An thấy vui hẳn lên, cái vui chưa được bao lâu thì nó phải đối mặt với sự nghiệt ngã của nghề này. Bản tâm nó còn trong sáng và hiền thiện, nó không nỡ quăng chim non xuống biển. Ngày trước khi chưa vào nghề, trong những cuộc nhậu nó vẫn thường nghe người ta kháo nhau về cái chuyện lấy tổ yến quăng chim non.

Bạn nhậu nhiều người cho là ác, thất đức, nào ngờ bây giờ nó laị ở vào hoàn cảnh oái ăm này. An suy nghĩ mông lung về những tổ yến với chim non; về những người thợ làm chung như anh Bàn, chú Bội; rồi còn vợ con nó đang ở nhà trông ngóng… Không biết định mệnh thế nào mà người vợ yêu thương của nó laị mang tên của loài chim nhỏ bé hiền lành kia. Nó đang tham gia phá tổ của loài chim mang tên vợ nó, vợ An không đẹp nhưng được cái hiền và thủy chung, laị chu đáo trong ngoài, những ngày An chưa có việc làm, vợ nó vẫn bươn chải lo ba bữa cơm cho cả nhà, nhiều lần nó nhậu say về quậy phá nhà cửa  nhưng vợ nó vẫn nhẫn naị chịu đựng.

Thế rồi đứa con ra đời, túng thiếu laị càng thêm ngặt hơn, từ ngày vào công ty đi lấy tổ yến, nó có tiền để vợ con chi tiêu, lòng nó vui và trở nên nhẹ nhõm làm sao. Lúc mới vào làm, lương bổng chẳng bao nhiêu, vì người ta trả lương theo sản phẩm, dần dà thạo việc nên lương cũng tăng lên, tuy chẳng thể gọi là dư dả nhưng tạm đủ trang trải cho vợ con, ngoài ra cũng có dư chút đỉnh để dành phòng khi đau yếu, những tưởng suôn sẻ xuôi chèo mát mái. Bây giờ An đối diện với việc ném chin non xuống biển, lòng An thật bất an, không ném chim non thì không có sản phẩm, bỏ việc này thì biết làm gì bây giờ? rồi vợ con và cuộc sống ra sao? cả trăm mối ngổn ngang. Giờ lên giàn laị đến, anh Bàn vỗ vai An:

 - Đành vậy thôi, bằng không thì vợ con sẽ ra sao? Chim cũng chỉ là loài vật, người ăn súc sinh chim muông là chuyện thường tình! 

 An không ừ hữ chi, uể oải đứng dậy đi theo anh Bàn, thật tình An chẳng thấy mình có đồng ý hay không đồng ý lời anh Bàn vừa nói. An biết việc người ăn súc sinh là thường, nhưng ném chim non xuống biển laị là việc khác. Leo lên giàn mà lòng An trống trải lạ thường, tâm tư dường như lúc này ở đâu đâu, xa xa bên kia vách đá là chú Bội, còn anh Bàn thì gần như chạm trần hang. Hàng vạn con yến bay loạn xà ngầu, tiếng kêu lích rích va vách đá dội laị nghe nhức cả tai. Cái sóng âm của kẻ thấy hiểm nguy, tiếng kêu của kẻ biết sắp mất tổ, mất con xoáy vào trong tâm những con người khốn khổ kia.

Họ cũng đang kiếm cơm cho vợ con họ, họ cũng lo cho tổ ấm của họ, biết làm sao bây giờ, cuộc chơi nghiệt ngã của dòng đời! Sóng biển ào ạt nhưng không át nổi sóng âm rít rít của loài chim yến. An vói tay gỡ cái tổ bên phải, vì xa quá và chất nhờn gắn chặt nên cái tổ rách ra, mấy cái trứng rơi xuống như hạt bụi, trứng chim quá nhỏ mà không gian bao la nên mấy cái trứng rơi xuống là mất hút ngay. An gỡ tiếp một cái tổ trên đầu, hai con chim non rơi xuống, tiếng kêu chíp chíp vừa lọt tai là cái thân chim mất hút không còn thấy đâu cả, tiếng kêu cũng bị gió bạt đi. An cắn răng làm tới, những cái trứng và những con chim non cứ thế rơi xuống biển, không còn suy nghĩ gì nữa, An cứ gỡ tổ yên như một người máy. Lòng nó khép laị để khỏi phải phân tâm, thả những con chim nhỏ xuống biển mà lòng trống không, đơn giản chỉ là cái tay làm mà thôi, mắt không còn nhìn theo cái cục thịt bé tí hon rơi như lần đầu nữa. Mắt An giờ đang bận soi bói tìm kiếm những tổ yến khác trong những kẹt đá, những lỗ hổng hay ẩn sau lớp vách lởm chởm. An leo lên một cái ngách khác, ở đó có vô số tổ yến ken trắng vách.

Những con chim yến thấy người vụt bay ra ào ạt, cũng có những con ở xa hơn một chút thì bám vách đá nghiêng nghiêng đầu thám thính. An thấy rõ nhiều con khác vẫn miệt mài quệt nước dãi làm tổ, vệt nước dãi sền sệt từ miệng chúng chảy xuống và quyện vào cái tổ còn dở dang. An trườn người tới, gỡ thêm khá nhiều tổ yến, có tổ còn hơi âm ấm của thân chim, của chất nhờn chưa kịp khô. Cái túi An đeo cũng gần đầy, An nhủ lòng gỡ thêm tí nữa sẽ xuống. An đu mình leo lên chừng hai mét nữa, những tổ yến như bàn tay nhỏ nhắn trắng trẻo của cô gái, một cái tổ khá to so với những tổ chung quanh, An nhìn thấy hai cái mỏ nhỏ xíu đang há to, kêu chíp chíp, bỗng hai con chim trống và mái, có lẽ bố mẹ chúng, bay vụt qua mặt An, chúng nó cứ bay xà quần quanh An , vừa bay vừa kêu rin rít. Anh không hiểu là chúng tấn công mình hay chúng van xin mà tiếng kêu thảm thiết quá. 

An, một tay bám chặt ngách đá, một tay vung xua đuổi chim, hai con chim kia dường như quyết liệt bảo vệ tổ và chim con. An cũng quyết lấy tổ để lo cho tổ ấm của mình, cả hai cùng quyết liệt nhưng cái quyết liệt của chim sao bằng được cái quyết liệt của người. An cheo leo trên vách đá, trông vô cùng nhỏ bé, nhìn từ xa thì An cũng không khác cái tổ yến dính trên vách đá kia. So với An thì con chim kia còn nhỏ biết là bao giữa cái không gian mênh mông này. Nó đã nhỏ máu để làm tổ, nó đã bay hàng trăm dặm để kiếm mồi nuôi con, nó đã mang nặng và đẻ đau nhưng muôn loài khác, sức nó chưa kiệt nhưng tánh linh nó đau đớn đến cùng cực. Khi An ném hai con chim con của nó xuống biển và gỡ cái tổ bỏ vào túi thì cũng là lúc An nghe tiếng rít chít chít bén như dao xoáy bên tai.

Hai con chim cả trống và mái lao thẳng vào vách đá như mũi tên bắn, hai cái xác lập tức rơi xuống biển, một vài cộng lông chim phất phơ theo gió giữa hư không. Vách đá xám xịt in một vệt máu tí xíu. An há hốc mồn kinh ngạc trước sự việc diễn ra quá nhanh và khốc liệt, trong khoảng khắc vô tình, An buông tay bụm miệng thì cả thân thể An rơi theo hai con chim kia. Thân chưa chạm đáy hang hay sóng nước, thân An còn lơ lửng giữa không trung. An như ngủ mê, thấy thằng cu tí đang há miệng chờ mẹ nó đút cơm, thằng cu tí háu ăn, cơm đút không kịp nó la hét ầm ĩ, tiếng hét tắt lịm khi An chạm tảng đá đáy hang. Những tiếng hét khác của chú Bội, anh Bàn và những người thợ khác đồng loạt vang lên, tiếng hét cộng hưởng từ vách đá của hang dội laị như kéo dài ra trước khi tan loãng vào hư không.

 Cuối năm ấy yến sào hút hàng, có bao nhiêu cũng không đủ bán, giá laị cao ngất ngưỡng, một ký lô lên đến bốn ngàn đô la Mỹ, đó là loại hạng hai, loại huyết yến thì phải đến năm ngàn hoặc hơn nữa. Nhà hàng Đại Phúc Trung là một mối làm ăn quan trọng của công ty, có bao nhiêu họ thầu hết, với hệ thống chân rết của mình, Đaị Phúc Trung không chỉ dùng yến để phục vụ thực khách lắm tiền của trong nước mà còn để xuất khẩu qua Hồng Kông, Đài Loan, Singapore, Mỹ, Canada. Những nhà hàng thường bậc trung và giới bình dân khó mà với tới những món hàng đắt tiền này.

Nhà hàng Đaị Phúc Trung, ngoài những món có tiếng xưa nay như: Nhân sâm bát bửu, hùng chưởng, tinh tượng, pín cọp… thì món huyết yến chưng đông trùng hạ thảo là một bí quyết ẩm thực riêng biệt. Dân chơi đồn đaị món ấy cực bổ dưỡng, người suy kiệt chỉ cần hai chén là phục hồi, khách huê tình ăn chơi trác táng nhất định phải dùng món này mới trụ được dài lâu. Một chén huyết yến với đông trùng hạ thảo có thể giúp khách làng chơi hành lạc cả đêm mà không mệt mỏi. Huyết yến chưng của Đaị Phúc Trung còn được đồn đaị là làm cho cơ thể tươi nhuận trẻ trung, da dẻ hồng hào, xanh tóc sáng mắt, sống thọ dài lâu… Bởi vậy, thực khách không chỉ là qúy ông mà còn là quý bà nhiều tiền lắm của, những phu nhân của quan gia, nữ đaị gia đều là thực khách thường xuyên của Đaị Phúc Trung. Giá của một chén huyết yến có thể lên đến hai trăm đô, tùy theo những món chưng kèm theo. 

 Ngày tất niên đến, Trần Nhất Thế, một ông trùm của thành đô vừa là cổ đông chính của nhà hàng, tổ chức tiệc chiêu đãi quan gia và những mối lái làm ăn ở Đaị Phúc Trung, những món sơn hào hải vị đã quá tầm thường với bọn họ. Nhà hàng bày chế ra món mới đặc trưng chưa có nhà hàng nào ở thành phố này nấu được, đó là món huyết yến chưng bạch noãn đồng trinh. Món này chỉ phục vụ cho một nhóm thực khách đặc biệt mà thôi. Những lời ca tụng cho sự bổ dưỡng và sung sức của món này thì khỏi phải nói, có thể coi như thuốc tiên, đẹp da, sung mãn, trường thọ…Thực khách đủ điều kiện để nếm thử món này không nhiều, nhất định phải là những người ngoài tiền bạc, thế lực còn phải là quen biết thâm sâu với Đaị Phúc Trung mới có cơ hội nếm qua. Khách của buổi tiệc toàn những tay có máu mặt như Lê Kim Ngân, một tay bán trời không văn tự, hàng hoá muốn xuất nhập đều phải qua tay y. Nguyễn Công Vụ, một ông trùm kinh tài, của chìm của nổi của các quan gia không thể thiếu sự tiếp sức của y.

Lý Thừa Lệnh, ông trùm của những phi vụ giàn xếp, những rắc rối từ pháp luật cho đến xã hội đen, nếu không có y thì không thể yên…Đàn em xã hội đen của nhà hàng cùng với mật vụ của các quan bố trí mấy vòng để bảo đảm an toàn tuyệt đối cho cuộc vui của các đaị ca và quan gia. Với thế lực và tiền bạc của họ, những món ăn dầu cầu kỳ và đắt nhất thiên hạ, những trò chơi thác loạn đến loài vật cũng không thể bằng đều có cả trong đêm nay. Giang hồ đồn rằng, bọn nhà giàu Âu - Mỹ tuy giàu hơn nhưng không thể sướng bằng bọn quan gia và đaị gia trong nhà hàng Đaị Phúc Trung này.

 Sau bữa tiệc ấy, ngày kế tin tức nóng hổi từ báo chí đăng một cái tin ngắn gọn:” Ông Lê Kim Ngân bị chết vì té lầu hôm tiệc tất niên”, ngoài ra không có bất cứ bình luận hay thông tin nào khác. Thiên hạ xì xầm đoán già đoán non nguyên nhân chết, nào là: say rượu bất cẩn, thủ tiêu diệt khẩu, tranh ghế hạ độc thủ, nhóm đối đầu nhanh tay hơn…dù xôn xao vậy nhưng gia đình và cơ quan chủ quản vẫn giữ im lặng theo đúng câu ngạn ngữ “ thủ khẩu như bình”. Chuyện ông trùm Ngân chưa yên thì dân mạng laị dậy sóng vì cái tin ông Nguyễn Nhất Thế bị bệnh lạ. Người ta bảo sau bữa tiệc huyết yến chưng bạch noãn đồng trinh ấy, ông Thế tự dưng da thịt trương phù và nhiều vết nứt rỉ ra những tia máu, trông giống như những sợi huyết trên tổ huyết yến, hai tay và chân thì quắp laị như đôi cánh yến gãy nhưng có kẻ laị bảo giống hình dạng bào thai trong bụng mẹ.

Có vô số bình luận trên mạng, nhiều người ra vẻ rành đông y bảo:” Huyết yến đã bổ, laị chưng với bạch noãn đồng trinh nên chất bổ bộc phát mạnh, làm cho những mạch máu xung huyết nên vỡ, vả laị nhiều chất khác xung khắc nhau cùng nạp vào cơ thể cùng lúc nên kỵ nhau…”. tất nhiên cũng có không ít những ý kiến thiên về tâm linh tỷ như báo oán của nhau thai. Có người khẳng định:”Những con yến non chết oan và những con chim yến mất tổ, mất con đã báo oán”. Ngoài ra còn có vụ ông trùm giàn xếp họ Lý bị ngã ngựa phải xộ khám, gia đình phải bồi hoàn hàng triệu Mỹ kim…Thiên hạ hả hê, dân mạng khen chê không tiếc lời, giữa một rừng tin tốt có, xấu có, giả có, thiệt có, đúng có, sai có… nhưng chuyện mấy ông trùm sau bữa tiệc huyết yến tưởng chừng như nhất thiên hạ kia laị hoá ra là tiệc hoạ. 

 Mùa xuân rồi laị đến, đất trời như tươi mới hơn, muôn hoa đâm chồi nảy lộc. Chị Yến dắt cu tí ra nghĩa địa bên chân núi giáp biển để tảo mộ cho anh An. Chị chú tâm đốt hương khấn vái rì rầm, cầu anh sống khôn chết thiêng phù hộ cho cu Tí. Cu Tí thì chạy lúp xúp dọc mép biển rượt đuổi những con hải âu. Từng bầy chim yến bay rợp cả khoảng trời, bay xập xoè trên mặt biển, cánh yến chao lượn giữa muôn trùng nước non, chúng laị tìm về hang cũ miệt mài nhỏ dãi xây tổ. 

 

TIỂU LỤC THẦN PHONG

Ất Lăng thành, 12/2020

---------

Hình Internet 

Kim Quy sưu tầm

 
Xem thêm...

RUE CLER - Để Nhớ Một Thời


The Syrah Apartment by Paris Perect on Rue Cler | Paris vacation, Paris  vacation rentals, Paris at night
   RUE CLER - Để Nhớ Một Thời   
 
 Tùy bút của Thầy Nguyễn Ngọc Hoàng


Có nhiều lý do để tôi không thích và thường tránh né khi phải lái xe vào khu trung tâm thành phố (downtown). Một trong lý do chính là hầu hết các con đường trong trung tâm thành phố trên toàn nước Mỹ đều là đường một chiều. Thành phố càng lớn thì đường một chiều càng nhiều. Ngặt một nổi các cơ quan hành chánh địa phương thường đặt văn phòng trong khu vực này, nên khi cần làm bất cứ giấy tờ gì, bất đắc dĩ chúng ta cũngphải lái xe vào. Có điều cũng lạ, gần như những con đường một chiều trong khu trung tâm thành phố đều mang số như: đường số Một, đường số Hai,… Thành phố càng lớn thì những con số càng nhiều. Durham, thành phố tôi ở rất nhỏ, nên chỉ đến đường số 16th là hết.


One Way Sign: What Does it Mean?
 
      Có những điều trong cuộc sống, không thích, không muốn nhưng chúng ta đành phải “tuân theo” như một quy luật cần thiết. Như cuộc đời, như số phận. Con đường một chiều là số phận con người trong cuộc sống đời này? Chỉ một lần đến, một lần qua và sẽ mãi không bao giờ trở lại. Mỗi một thời gian trôi qua, mỗi một kỷ niệm in dấu, mỗi một nghiệt ngã hằn sâu đớn đau, mỗi một dấu tích lịch sử khắc ghi… đều là những sự kiện, nối kết thành một chuổi đời dù ta muốn hay không, ý thức hay vô tình bỏ mặc! Những con đường “một chiều” mà tôi không thích, luôn muốn tránh né vẫn là những con đường huyết mạch tạo ra những sinh hoạt sống còn của trung tâm thành phố tôi đang ở…

Rue Cler: A Peaceful Paris Market Neighborhood
 
Buổi chiều cuối tuần, một người bạn làm cùng công ty rủ tôi đi cà phê Pháp chính hiệu mới khai trương. Hắn là người Mỹ gốc Pháp. “Rue Cler” là một tiệm bán cà phê và bánh ngọt của Pháp, lại nằm ngay trong khu trung tâm thành phố Durham, trên con đường một chiều. Bên ngoài không có gì đặc biệt, nhưng bên trong là một không gian kiến trúc rất Pháp. Đúng hơn rất Paris. Thêm vào đó, người bạn tôi cho hay, mỗi cuối tuần đêm thứ Sáu và thứ Bảy còn có cả trình diễn nhạc sống.

L'Éclair | Paris | France | AFAR
 
Khoảng tám giờ ba mươi tôi và Vinay đã có mặt. Chương trình nhạc sống cuối tuần sẽ từ chín đến mười một giờ đêm. Khách trong quán không đông lắm, vẫn còn nhiều bàn trống. Có lẽ thành phố này không có nhiều cư dân gốc Pháp. Phía cuối quán là sân khấu nhỏ đã chuẩn bị sẵn sàng với đàn guitar, chiếc organ điện, kèn saxophone, violin và vài chiếc trống tay… Pháp văn là môn sinh ngữ 2 của tôi thời trung học. Còn nhớ trong mấy năm liền liên tục, tôi rất yêu và chăm chỉ học môn Pháp văn hơn cả môn sinh ngữ chính là Anh ngữ.

Lý do đơn giản là người dạy Pháp văn trong liền 3 năm đó là cô Huỳnh Thị Liễu. Lớp tôi là lớp đầu tiên cô Liễu vừa ra trường sư phạm giảng dạy. Ngày đó tôi không biết “hoa hậu” đẹp cở nào, nhưng chắc chắn không thể sánh với cô Liễu dạy Pháp văn lớp tôi. Cô “hình hạc sương mai”, cao ráo, khuôn mặt ngọc ngà với mái tóc dài nửa lưng óng ả và đôi mắt to lồ lộ “chìm đắm” lòng người. Nhờ cô Liễu mà tôi có chút vốn luyến và mê nghe nhạc Pháp từ dạo đó..!

Patesô: món bánh có cái tên "rặt" Pháp nhưng thực ra lại là "con đẻ" của ẩm  thực Việt
 
Vinay và tôi gọi một dĩa 4 cái Pâté Chaud, hai ly cà phê đen pha với chút bơ ngọt. Hắn uống không đường, còn tôi phải pha thêm vài muỗng đường và sữa tươi cho ly cà phê của mình. Qua làn kiếng lấm tấm hơi sương, bên ngoài đã vắng xe và tĩnh lặng…
Tiếng nhạc bắt đầu trổi lên. Người nữ ca sĩ trẻ có dáng gầy, tóc ngắn và rất cao cúi chào khách bằng hai ngôn ngữ Pháp và Anh. Cả quán chợt im lặng, tôi có thể nghe hơi thở nhẹ của cô trong lời giới thiệu bài hát đầu tiên của mình.
-Xin chào mọi người, tôi tên là Donna Wittmer. Chúc tất cả các bạn sẽ có đêm nhạc vui vẻ, đầm ấm. Để mở đầu chương trình tôi xin trình diễn bài hát nổi tiếng của ca sĩ Françoise Hardy có tên là Tous Les Garçons et Les Filles. Mong quý vị thưởng thức.
 
Tiếng đàn guitar dạo đầu vút cao, hòa quyện với tiếng organ như một luồn điện lạnh chạy dọc vào mọi cảm giác của tôi. Tiếng hát trong trẻo, dày dặn, thiết tha như cơn lốc cuốn mênh mông tôi vào thật sâu của miền ký ức:
 
“Tous les garçons et les filles de mon âge
 

“Se promènent dans la rue deux par deux
“Tous les garçons et les filles de mon âge
“Savent bien ce que c'est d'être heureux

“Et les yeux dans les yeux 
“Et la main dans la main
“Ils s'en vont amoureux 
“Sans peur du lendemain.

“Oui mais moi, je vais seule 
“Par les rues, l'âme en peine
“Oui mais moi, je vais seule 
“Car personne ne m'aime…  (1)
 
 



(Xin bấm vào link dưới đây để nghe)

 
… Đêm văn nghệ cuối năm trường Marie Curie như mới hôm qua của hơn 40 năm về trước. Không biết đào ở đâu mà Duy có được hai giấy mời tham dự, nên “ưu ái” rủ tôi đi. Sau khi kết thúc, tôi và Duy chạy hai chiếc xe đạp theo sau ba chiếc xe đạp phía trước. Chắc cả ba cô nàng đã biết hai đứa tôi đang lẽo đẽo theo, nên gửi lại những nụ cười khúc khích sau lưng. Một trong ba, là người con gái tóc ngắn đã hát một ca khúc Pháp lừng lẫy một thời Sài-gòn của ca sĩ Françoise Hardy: “Tous Les Garçons et Les Filles” trong đêm văn nghệ cuối năm tối nay. Tôi đã từng nghe nhiều lần nhạc phẩm này qua tiếng hát của nữ ca sĩ Thanh Lan với lời Pháp lẫn Việt "Những Nụ Tình Xanh" – lời Việt của Phạm Duy (1).

LE BOIS, Paris - 16e Arr. - Passy - Menu, Prix, Restaurant Avis &  Réservations - Tripadvisor

Nhưng đêm nay, tiếng hát ngây thơ trong trẻo, làn hơi mỏng ngọt, đôi lúc lạc giọng của cô nữ sinh trường Marie Curie đã thật sự chiếm trọn niềm xúc cảm của tôi. Khuôn mặt dài thánh thiện, có chút như lai Pháp, cô gái có đôi mắt to sâu vời vợi trong từng ca từ chuẩn ngữ. Bây giờ tôi mới thật sự cám ơn và nhớ vô cùng cô giáo dạy Pháp văn xinh đẹp của mình!

Qua khỏi bùng binh ngả Sáu cổng xe lửa đường Lê Văn Duyệt là hướng về khu vực Chí Hòa. Cũng hơn 10 giờ đêm, đường vắng xe và ba cô gái đạp xe nhanh hơn.
Tôi nói với Duy: “Theo mấy nàng cũng coi như đi hộ tống làm phước…”. Nhiều lần tôi định vượt lên nói vài câu làm quen, không hiểu sao lại thôi. Chừng như có cái gì đó, giác quan thứ sáu cho tôi biết “bước đi sẽ đứt, động hờ sẽ tiêu” (Chiều – Xuân Diệu).

Đang lan man nghĩ ngợi, thì ba cô gái quẹo nhanh vào khu Chí Hòa. Mấy cây đèn đường ít hơn, ánh điện lưa thưa không in nổi mấy chiếc xe đạp trên đường. Duy và tôi cố bám gần hơn, đủ để nghe mấy tiếng nói cười nho nhỏ. Chợt phía trước hiện rõ một bờ tường cao, quanh đèn sáng tỏ. Cả ba cô nàng dừng trước chiếc cổng nhỏ bên hông chiếc cổng sắt cao, sừng sững trang nghiêm. Người con gái cao gầy, hát nhạc Pháp xuống xe, nói gì đó với hai bạn rồi quay lại ra dấu chào tạm biệt chúng tôi.

Rồi nàng khuất sau chiếc cổng nhỏ khép lại, hai cô bạn cười đáp rồi đạp xe đi thẳng. Tất cả diễn ra khá nhanh, bất ngờ khiến cả tôi và Duy không kịp phản ứng gì. Khi định thần, tôi mới chợt thấy bên trên chiếc cổng sắt lớn có tấm bảng ghi: “Dòng Nữ Tu Bác Ái”.
Nhiều buổi chiều sau đó, tôi muốn đến đứng đợi trước cổng trường Marie Curie nhưng lại thôi, không nỡ đành lòng. Nhiều đêm sau đó, tôi muốn đến đứng đợi trước cánh cổng sắt nhà dòng, nhưng cũng lại thôi, ngậm ngùi bỏ lại. Đời người có biết bao nhiêu câu hỏi và rất ít câu trả lời. Người con gái hát đêm cuối năm hôm đó là một, mãi mãi chỉ là câu hỏi, mãi mãi chỉ là thoáng bóng mơ qua. Rồi đêm lại nối ngày, ngày trôi tuần tự trên mỗi số phận con người vạn ngả chia xa. Có ánh mắt, có nụ cười thánh thiện đó như giấc mơ có thật luôn hướng tôi về một niềm tin yêu vời vợi trên cao…
 
Thời gian không chờ nhau và khuôn mặt người con gái ngày nào, nay lờ mờ trong trí nhớ của tôi. Những bốn mươi năm, mà ngỡ chừng hôm qua. Càng cố nhớ, khuôn mặt, ánh mắt, nụ cười của nàng càng tan vỡ, khuất xa… Chỉ còn lại là tiếng hát, tiếng hát của ca khúc nhạc Pháp “Tous Les Garçons et Les Filles “, vẫn mãi vang vọng một đời không quên…

Tiếng vỗ tay, dứt nhạc kéo tôi về thực tại. Bài hát nào rồi cũng dứt, khúc nhạc đời cũng thoáng chốc trôi xa. Kỷ niệm nào còn đó chút dư âm. Mùi hương người thánh thiện chưa bám phấn bụi đời. Tất cả sẽ về đâu giữa mênh mông cuộc đời hệ lụy. Như viên ngọc quý, tôi nâng niu từng kỷ niệm chợt có chợt không. Tiếng nhạc lại trổi lên, người thanh niên trẻ ôm chiếc đàn guitar ngồi xuống chiếc trên sân nhỏ nhỏ cuối quán. Đêm càng khuya khách càng đông, để lẫn lộn trong tiếng nói cười chung quanh, giọng hát trầm ấm, âm thổ đục vút cao:
 

 

 

 
 

(1) Tous Les Garçons et Les Filles- Françoise Hardy
"Những Nụ Tình Xanh"
[Lời Việt: Phạm Duy]
 
Bao nhiêu uyên ương trong cơn yêu đương
Đôi chân miên man hân hoan
Lang thang giữa phố phường.
Bao nhiêu duyên vui xuân xanh
Đôi mươi xuân xanh như tôi,
Ai kia hai mươi cũng biết rồi.
Niềm hạnh phúc trong tay người
Hay trong mắt, trên môi cười
Họ yêu nhau và đi tới sẽ sống với niềm vui mới
Thế nhưng tôi vẫn đơn côi vẫn không ai kết duyên đôi
Thế nhưng tôi vẫn đơn côi vẫn không ai đoái hoài tôi.

Nỗi sầu, ôi nỗi u sầu
Những ngày buồn trôi giống nhau.
Cõi đời ôi là những âu sầu
Không có những tiếng nói ấm áp
Của người yêu mến nhau.
Tôi chưa yêu đương, tôi mong yêu, trong cơn đau thương
Ai đưa tôi lên chốn Thiên Đường ?
Tôi chưa duyên vui, xuân tôi hai mươi,
Tôi mong như ai, vui trong duyên đôi sẽ biết đời
Niềm hạnh phúc trong tay người,
Hay trong mắt, trên môi cười
Họ yêu nhau và đi tới sẽ sống với niềm vui mới
Khiến cho tôi có ai yêu sẽ quên đi
Những cơn đau, dắt tay nhau
Tới mai sau
Tới nơi yêu nhau dài lâu.
 
     La Nuit – Salvatore Adamo     
(Xin bấm vào link dưới đây để nghe)


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

    Sưu tầm và tổng hợp by Nguyễn Ngọc Quang     

Em chân thành cảm ơn Thầy vì đã dành thời gian gửi về.

Chúc Thầy Cô một ngày tốt lành.
Kính thư,
 
Ảnh minh họa   db43c148
 
c6ox4y5hrxvc7lqb668g
 
 
 
 

      RUE CLER - Để Nhớ Một Thời      

Xem thêm...

Truyện Ngắn: Nhánh Sông Ngậm Ngùi

Nhánh Sông Ngậm Ngùi

 

Truyện Ngắn của Nguyên Nhung

~~<>❤️❤️<>~~

 

Tôi không bao giờ nghĩ mùa hè năm ấy, sau hơn ba mươi năm kể từ ngày từ giã mái trường, chút duyên xưa vẫn còn để tôi lại thấy Toàn trong đêm Hội Ngộ. Đời biền biệt trôi đi như dòng sông, cuốn những con thuyền ra biển xa. Sau khi nối lại được liên lạc với một người bạn cũ, hai đứa hẹn gặp nhau kỳ họp mặt Trường ở Toronto, hội ngộ với các bạn đồng môn trường cũ, để được sống lại những phút giây của tuổi học trò năm xưa.

Cuối cùng, bạn tôi lại không đến được vì một lý do bất ngờ, thế là chỉ mình tôi khăn gói lên đường với một mớ tâm sự ngổn ngang. Chưa bao giờ tôi nôn nao đến thế, như lần đầu tiên năm đệ thất được mặc chiếc áo dài trắng đồng phục bước vào ngưỡng cửa Trung Học, cô chị 12 tuổi bỗng thấy mình trở thành người lớn trước mấy đứa em còn đang học Tiểu học. Hơn ba mươi năm rồi, một quãng thời gian khá dài đủ để cho những kỷ niệm ngậm ngùi và cay đắng đã nhạt nhòa đi, vậy mà chỉ hôm nay thôi, tôi nghe trái tim bừng bừng reo vui những nhớ nhung bao hình ảnh về trường xưa, bạn cũ, nhất là hình ảnh của ai kia một thời đã làm trái tim tôi đắm say, chất ngất, để rồi lòng cũng nát tan khi cuộc tình không trọn.

Từ một chiếc bàn trong góc tối của hội trường đang ồn ào tiếng trò chuyện, thăm hỏi lẫn nhau, tôi đã nhận ra Toàn khi anh bước vào ngưỡng cửa căn phòng lớn. Không thể nhầm lẫn được, dù có đến mấy mươi năm chúng tôi không gặp lại nhau. Vẫn dáng cao cao nghệ sĩ ấy, mái tóc bồng bềnh đã nhuốm màu thời gian, khuôn mặt xương xương và nụ cười phảng phất một nét gì không trọn. Toàn đang bắt tay một vài người quen, tôi đã ngỡ ngàng tưởng mình đang sống trong mơ, một cảm giác lạnh buốt chạy dài khắp châu thân. Hóa ra chàng vẫn còn đó, cái tin chàng bỏ mình trong một trại tù sau năm bảy mươi lăm chỉ là ngộ nhận , bạn tôi đã nghe phong phanh như thế khi ở Việt Nam, rồi kể lại cho tôi nghe. Khi nghe bạn nói, tôi chỉ biết ngậm ngùi và cầu nguyện cho Toàn, biết đâu Toàn đã qua được những phút giây cận kề với nỗi chết.

Hơn ba mươi năm với biết bao khổ ải đẩy xuống cuộc đời, cuối cùng, đêm nay cả tôi và chàng cùng có mặt nơi đây, từ hai ngả đường khác nhau, để tìm về những kỷ niệm dưới mái trường xưa thuở nào.Trong hội trường vẫn ồn ào tiếng cười nói của bạn bè gặp lại nhau, những bàn tay xiết chặt bàn tay, những đôi mắt rưng rưng vì xúc cảm khi không ngờ bao nhiêu năm còn có đêm này. Họ đến đây từng nhóm, từng cặp, có đủ vợ chồng con cái, có người già người trẻ, có những người cô lẻ như tôi, như Toàn, mỗi người mang theo bên mình nhiều kỷ niệm và họ cũng đang đi tìm kỷ niệm, ước mong tìm gặp lại thầy cũ, bạn cũ, những hình ảnh ấy tưởng đã mịt mờ với thời gian, đã tản mát đi khắp bốn phương trời, từ khi chia tay với mái trường thân yêu ấy.

 

Từ chỗ ngồi trong góc tối này, tôi vẫn không thể nào không nhìn về phía Toàn, nơi chàng đang ngồi với vài bạn cũ. Hình như chưa ai nhận ra tôi, còn tôi thì im lặng tìm kiếm.Thời gian ba mươi năm trôi qua, trông tất cả đã già đi với mái tóc điểm sương, riêng Toàn, vẻ lặng lẽ của chàng đã nói lên chiều sâu của một nỗi đau nào đó khiến lòng tôi ngậm ngùi vô tả. Có thể là nỗi đau từ mối tình đầu không trọn, có thể là sự mất mát thảm khốc hơn từ những cuộc tình sau, sự thay đổi của cuộc sống đã làm chàng mất đi nét vui tươi của ngày trẻ tuổi, tất cả nỗi đau ấy biết cái nào hơn. Thỉnh thoảng tôi thấy Toàn nhìn quanh, tìm kiếm một cái gì đó để rồi lại có vẻ thất vọng khi không tìm thấy gì cả. Không biết anh có đang nghĩ đến tôi như tôi đang nghĩ đến anh đêm nay, và liệu sự gặp gỡ bất ngờ này, có làm tan biến đi hình ảnh cũng như tình cảm đẹp đẽ và dễ thương của tuổi học trò hơn ba mươi năm trước.

Riêng tôi, không phải chỉ đêm nay lòng tôi mới xôn xao như thế, mà đã biết bao nhiêu lần trong đời, dường như bao kỷ niệm êm đềm của những ngày trẻ tuổi vẫn âm ỉ trong lòng tôi, cho hơn ba mươi năm tôi làm cánh chim viễn xứ. Biết bao lần trong căn nhà cô quạnh trong một trang trại miền quê nước Mỹ, tôi đứng lặng nhìn cơn mưa ào ạt đổ xuống cánh đồng cỏ hoang vu, gió lồng lộng hun hút lùa vào khung cửa gỗ trong những ngày mưa bão. Bao nhiêu lần ấy, nước mắt như hòa với nước mưa, tôi nhớ về quê nhà với một nỗi cô đơn khủng khiếp, bên cạnh người chồng ngoại quốc và lũ con hai giòng máu.

Làm sao chồng con tôi có thể chia xẻ với tôi được nỗi nhớ nhung của kẻ xa nhà , khi ở đấy có một góc trời riêng, chất chứa hình ảnh gia đình, bạn bè và những kỷ niệm buồn vui trong quá khứ. Mưa ở đâu cũng là mưa, gió ở đâu cũng là gió, vậy mà trong sâu thẳm của trái tim, tôi không khỏi không nhớ lại tiếng mưa rơi rào rào trên chiếc áo đi mưa một chiều tan học, Toàn đứng đợi tôi ngoài cổng trường, hai đứa đã che chung một tấm áo mưa, lòng vui vui như còn nghe vẳng lại tiếng chế giễu của bạn bè một thuở.

 Trên sân khấu, người điều khiển chương trình đang giới thiệu những tiết mục trong đêm hội ngộ, tiếng vỗ tay rào rào, người ngồi chung bàn hỏi tôi câu gì đó làm tôi giật mình ngượng nghịu. Từ lúc biết Toàn có mặt trong đêm hội ngộ, đầu óc tôi bỗng dưng quay cuồng ngẩn ngơ, cảm tưởng đau sót của lần chia tay năm ấy như hiện về trong trí nhớ, suốt cả đời tôi không hề mong mỏi một lần hạnh ngộ .

Định mệnh. Tôi thường tin vào hai chữ định mệnh để an ủi mình khi sinh ra trong một gia đình nghèo với bao điều bất hạnh, dù suốt cả đời tôi chưa hề làm điều gì bất nghĩa. Toàn và tôi gặp nhau thật tình cờ với những bài thơ đăng trên Đặc San của trường năm đó. Anh học hơn tôi hai lớp, là một trong những cây bút khá nổi tiếng với những bài thơ hay. Tôi là người ngưỡng mộ và cũng đang tập tành viết lách, thơ của Toàn như nói hộ giùm tôi những trăn trở của tuổi trẻ về quê hương, khi chúng tôi đang sống trong đất nước chiến tranh, với cái nhìn hoài nghi về tương lai. Hai tâm hồn văn nghệ gặp nhau, quý mến nhau, để rồi thương yêu nhau đó là chuyện tự nhiên của thế giới học trò.

Chỉ có điều là tôi quá vô tư để không nhìn thấy trở ngại, giữa tôi và chàng lại có hai hoàn cảnh khác biệt hẳn nhau. Toàn may mắn sinh ra trong một gia đình giàu, có tiếng tăm trong xã hội lúc bấy giờ, trong khi đó ba tôi chỉ là người lính tầm thường rong ruổi suốt bốn vùng chiến thuật. Mẹ con tôi cứ lẽo đẽo theo ba từ đơn vị này tới đơn vị khác, mãi tới khi đám con khôn lớn cần phải có một nơi cố định học hành, một mình ba tôi ra đơn vị, để vợ con ở lại trú ngụ trong một xóm nghèo đa số là dân lao động, những con đường ngoằn nghoèo trong ngõ hẻm với những mái lá, mái tôn tối tăm, chật chội.

Tôi vẫn nhớ ngôi biệt thự xinh đẹp có tường vây xung quanh trên con đường rợp bóng sao, có giàn hoa tigôn màu hồng nhạt leo quanh chiếc cổng sắt sơn trắng, đấy là ngôi nhà của cha mẹ Toàn. Mỗi lần đi ngang qua đấy, tôi vẫn mang chút tự ty mặc cảm để không dám nhìn vào hai cánh cổng sắt đóng im ỉm. Tôi biết Toàn có một đời sống no đủ và sung sướng, khác biệt hẳn cuộc sống của tôi, đứa con gái nhà nghèo, con một người lính trận, lúc nào cũng đối diện với hiểm nguy và nỗi chết.

Biết tôi nghèo như thế nhưng Toàn vẫn yêu tôi, với tất cả sự nồng nhiệt cuả tình yêu tuổi trẻ, Toàn không hề nghĩ rằng đấy là một trong những trở ngại mà hai đứa gặp phải, để có ngày phải chia tay nhau mãi mãi. Những ngày đi học, Toàn thường đứng chờ tôi trước cổng trường, dù nắng hay là mưa, chàng đưa tôi về trên những lối ngõ quanh co , tặng nhau những bài thơ tuổi học trò thơm ngát tình yêu ngây thơ, trong sáng.

Tôi vẫn hồn nhiên sống trọn vẹn với tình yêu tuổi học trò, dù đôi lần vô tình bắt gặp cái nhìn khinh khỉnh của cô em gái Toàn cùng học một trường với tôi. Mỗi lần bắt gặp Toàn đứng đón tôi ở cổng trường, dù năm ấy anh vừa lên Đại Học, cô bé lại phóng cho tôi một cái nhìn đầy vẻ miệt thị, khiến Toàn cũng ngượng ngùng không biết nói gì cho không khí bớt phần căng thẳng.

Không biết những gì đã xảy ra trong gia đình chàng lúc ấy, nhưng tôi linh cảm có sự chống đốí ngấm ngầm của cha mẹ Toàn, khi biết Toàn đã yêu một đứa con gái nhà nghèo, con của một người lính già không tên tuổi. Tuy biết phận mình, nhưng những cuốn hút sôi nổi của tình yêu tuổi trẻ tôi vẫn không chống đỡ nổi tình yêu đó, chỉ biết cố gắng học để hy vọng trong tương lai, tôi sẽ thoát khỏi hoàn cảnh nghèo khổ hiện tại, nhất là để đỡ đần gánh nặng cho ba mẹ tôi trong lúc tuổi già.

Mùa hè năm ấy, mùa hè có những trận đánh từ nơi chiến trường xa, ba tôi theo đoàn quân tiếp viện cho đơn vị bạn ngoài địa đầu chiến tuyến, cũng để bảo vệ cho những người thành phố được sống một cuộc đời yên vui, hạnh phúc. Sự bất hạnh luôn luôn đeo đuổi những cảnh đời cùng khổ, ba tôi ngã xuống vào mùa hè năm ấy, mẹ tôi đã ngất đi không biết bao nhiêu lần khi dẫn đám con dại đi nhận xác chồng trong nhà quàn của Quân Y viện.

Chiều hôm ấy, cũng một buổi chiều mưa rơi tầm tã, trên mái tóc xanh tôi quấn vội vã mảnh khăn tang, nhìn mẹ bằn bặt trong tiếng nức nở đến xé lòng, rũ xuống như một tàu lá đổ trước nấm mộ của ba tôi. Tất cả là một chấm hết cho đời người góa phụ, là nỗi mất mát lớn lao cho lũ con thơ, kể từ đây, ba tôi đã vắng mặt vĩnh viễn trên cõi đời này, mãi mãi và mãi mãi.

Đêm mưa. Nhìn ảnh ba tôi trong màu áo trận, trên bàn thờ nhòa nhạt khói nhang, tôi vẫn ngỡ ba tôi còn sống và đang băn khoăn, ái ngại cho hoàn cảnh bi đát của vợ con giữa thời buổi chiến tranh, cùng bao nhiêu cạm bẫy, cam go của cuộc đời. Mưa vẫn rơi đều trên mái lá, càng về khuya càng não nùng như những lời tỉ tê, tiếng mưa tí tách từng giọt buồn tênh rớt xuống chiếc thau nhôm hứng những giọt mưa từ mái nhà giột ẩm ướt, như những giọt lệ tủi buồn của đứa con gái mồ côi rớt xuống cõi đời hiu quạnh.

Số tiền tử tuất của ba tôi quá ít ỏi, chỉ đủ cho mẹ tôi mở một tiệm tạp hóa nho nhỏ, bán đủ thứ than củi, mắm muối cho những người hàng xóm trong khu lao động lúc nhúc những mảnh đời khốn khổ. Cái quán nghèo nàn ấy càng ngày càng thâm thủng đi vì sự đau ốm của mẹ tôi, cùng sức ăn của bầy em đang tuổi lớn.

Cố gắng hết niên học, tôi quyết định bỏ học đi làm giúp đỡ mẹ. Mảnh bằng Tú Tài I chưa đủ cho tôi có một hành trang vững chãi bước vào đời, nhưng tôi không thể nào chịu nổi khi mỗi đêm trời giông bão, căn nhà lá nghèo nàn, dột nát như muốn đổ xuống dưới sức gió của đêm mưa, mẹ tôi phải lẩm nhẩm tính toán suốt ngày những đồng thu chi trong cái vốn cỏn con ấy, rồi nó cũng sẽ mất đi lúc nào chẳng biết. Nghĩ đến Toàn và căn nhà xinh đẹp của gia đình chàng, tôi lại thấy nghẹn ở ngực. Tình yêu Toàn dành cho tôi vẫn không thay đổi, vẫn đầy tràn hơn bao giờ hết, nhưng mặc cảm trong lòng đứa con gái nhà nghèo vẫn làm tôi tủi thân, để có cảm tưởng là cả hai đứa khó nắm được tình yêu cho nhau, khi gia đình hai bên quá khác biệt.

Không dễ gì tìm một việc làm tương đối trong thời buổi ấy, là con một tử sĩ, tôi chỉ có thể xin một việc làm khiêm nhượng trong hệ thống quân đội, hoặc làm một chân thư ký đánh máy trong căn cứ Mỹ đang chiến đấu ở Việt Nam. Tôi suy nghĩ rất nhiều, cuối cùng nhờ một người bà con, tôi cũng xin được một việc làm cho quân đội Mỹ. Nói sao cho hết cái mặc cảm của đứa con gái Việt Nam ra vô mỗi ngày nơi căn cứ Mỹ, phải nhận những cái nhìn nghi kỵ phẩm giá của người đồng chủng, nhưng cứ đến kỳ lương cầm những đồng tiền trong chiếc bao thư về nhà cho mẹ, tôi mừng rỡ hơn bao giờ hết, vì biết từ nay có thể thay ba để lo cho lũ em dại.

Nhưng điều ấy lại không đem lại may mắn cho tôi trong tình yêu, khi chính Toàn ngại ngần mãi rồi mới nói cho tôi biết cái trở ngại trong tình cảm của hai đứa, nếu tôi cứ tiếp tục đi làm sở Mỹ. Cái nghèo đã là một cái tội, huống chi đứa con gái nào đi làm sở Mỹ trong thời buổi ấy cũng tự nhiên gánh thêm một cái tội nữa trên đầu, dù chưa làm gì nên tội, nhất là đối với những gia đình trưởng giả, nhiều thành kiến như gia đình Toàn.

Toàn khổ sở vì yêu tôi, vì những thành kiến ích kỷ của gia đình chàng, nhưng liệu chàng có cách gì để giúp tôi thoát ra cái bế tắc của cảnh nghèo hiện tại. Với sự giàu có, dư dả của cha mẹ chàng, Toàn đâu thể hình dung nổi cái khổ của đám người cùng đinh trong xã hội, mà mỗi miếng cơm là những giọt mồ hôi ướt đầm manh áo vá. Chàng làm sao thấy hết được, tôi đã phải gò lưng trên chiếc xe cọc cạch chất đầy than củi, mắm muối, mùi hôi hám của những thứ thực phẩm nhà nghèo ấy làm cho tôi trông càng thê thảm hơn. Có bao giờ trong căn biệt thự sáng trưng ánh đèn, văng vẳng điệu nhạc dặt dìu êm dịu, Toàn có biết lúc ấy lũ em tôi đã phải vật lộn với sách vở dưới ngọn đèn đỏ quạch, không đủ soi sáng cho những hàng chữ của bài học.

Gia đình Toàn vốn đã không ưa tôi ở cái nghèo, nay lại thêm một yếu tố nữa để bắt chàng đoạn tuyệt. Có lúc quẩn quanh Toàn nghĩ đến chuyện hai đứa đem nhau đi thật xa, đến một phương trời nào đó, xa loài người, xa cuộc đời, gạt bỏ tất cả thành kiến hẹp hòi của những người xung quanh. Tôi đâu có can đảm để làm điều ấy, khi nghĩ mình đâu có tội tình gì, nếu không phải chỉ vì nghèo để không được yêu. Hơn nữa tôi còn một bà mẹ đau khổ và một bầy em cần nương tựa, tôi không thể sống chết với một mối tình mà bỏ bê mẹ và các em. Thôi thì đành chia tay, để Toàn được yên tâm học hành và để cha mẹ chàng được vui vẻ sắp xếp cuộc đời của con họ. Tôi ngậm ngùi cắt đứt mối tình học trò, phải nói những lời phũ phàng chát đắng với Toàn để rồi lại khóc vùi một mình trong những đêm không ngủ.

Không biết Toàn nghĩ gì về tôi lúc đó, nhưng tôi chấp nhận xa chàng để được trọn vẹn cả hai phía, cho gia đình tôi cũng như gia đình chàng. Một thời gian sau tôi nghe tin Toàn bỏ học, gia nhập quân đội dù gia đình chàng dư sức lo cho chàng ăn học đến nơi đến chốn. Tôi không hề trách anh, vì cả hai đứa cùng là nạn nhân của một xã hội hẹp hòi ích kỷ, nhưng từ lúc ấy, tôi không còn cái mơ mộng để tin rằng tình yêu sẽ mang đến niềm vui cho cuộc đời, lòng bỗng dửng dưng như giọt mưa buồn tênh rớt xuống hiên nhà rồi trôi đi biền biệt.

Không biết may hay rủi, vào những ngày cuối tháng tư năm ấy, tôi vội vã rời xa quê hương theo diện nhân viên sở Mỹ, trong một chuyến bay cuối cùng đến đảo Guam. Mẹ tôi nhất định ở lại vì nấm mộ của chồng trong nghĩa trang quân đội, một thân nơi đất khách quê người, tôi phải tìm nơi nương tựa. Chồng tôi là một cựu chiến binh Hoa Kỳ từng tham chiến ở Việt Nam, nay làm việc trong cơ quan thiện nguyện. Người đàn ông có màu mắt mênh mông như biển khơi, đã chia xẻ với tôi suốt những tháng năm tôi lạc loài nơi xứ lạ, để tôi nguôi ngoai những đau buồn trong quá khứ.

 

Đêm hội ngộ tiếp theo với màn văn nghệ “cây nhà lá vườn” thật vui mà cũng thật cảm động, tôi có cảm tưởng mình đang dự một đêm liên hoan trong sân trường những mùa hè năm xưa. Trên sân khấu, những người bạn đồng môn muôn năm cũ đang thi thố tài năng của mình, không màu mè kiểu cách.

Tôi ngỡ ngàng thấy Toàn đã đứng trên sân khấu tự bao giờ. Vẫn một cung cách giản dị và vững chãi, Toàn đang nói mấy lời ngắn ngủi về bài thơ của chàng ba mươi năm trước, bài thơ mà chàng đã đọc cho tôi nghe khi hai đứa đứng trú mưa dưới mái hiên một căn phố cũ. Có một cái gì làm tay chân tôi tê dại, nghe được cả tiếng đập của con tim đang thổn thức trong lồng ngực. . . 

" Trời vào mưa rồi em

 Mưa sáng, mưa chiều, mưa ngày, mưa đêm

Tiếng mưa nức nở, đau nhức về khuya

Như lời thì thầm anh yêu em . . ."

 

Trái tim tôi như muốn òa vỡ khi nhớ lại bài thơ tình ba mươi năm trước Toàn đang đọc trong đêm Hội Ngộ. Làm sao tôi có thể nào quên, từng lời thơ như xoáy vào tim khiến tôi nhớ lại buổi chiều năm ấy, hai đứa che chung một tấm áo mưa, đi dưới trời mưa bay bay khi gió từ bến sông thổi vào lồng lộng. Hai đứa nép vào nhau, nghe ấm áp nồng nàn trong từng hơi thở, từng nhịp đập của trái tim rộn rã, từng tiếng cười khúc khích mặc cho gió mưa lạnh lẽo. . .

Toàn vẫn say sưa với những âm thanh vang vọng từ ngày trẻ tuổi, như chàng đang lướt nhẹ trong trái tim tôi phím tơ chùng năm cũ cho một cung đàn dở dang, tiếng ngân như những vết đau dù đã hàn gắn với thời gian, sao đêm nay tôi nghe như dư âm tiếng thổn thức của lần chia xa năm ấy. Trên sân khấu, giọng chàng mượt mà trong mấy vần lục bát, nghe như một điều gửi gấm từ trái tim, với một nỗi đau chất ngất. . .

"Đôi khi nhìn mãi lên trời

Tìm trong mây ảo bóng người năm xưa

Nghe vườn rung lá thu mưa

Lao xao trong nắng lời xưa thầm thì

Kể từ gió cuốn mây đi

Đời xa, xa mãi mong gì thấy nhau..."

( thơ NN)

Bài thơ còn dài với giọng ngâm trầm ấm năm nào, như những giọt mưa rơi ướt sũng xuống đôi mắt tôi. Tai tôi như ù đi, mỗi một lời thơ như một giọt nước mắt chảy ngược vào tim khiến tôi ngồi chết lặng. Có phải chàng đang đi tìm kiếm lại cố nhân với chút hy vọng mong manh nào đó, mặc dù tôi đang ngồi trong góc tối này với những giọt nước mắt. Chắc không ai nhìn thấy tôi khóc. Bây giờ thì tôi đã hiểu, trong lòng chàng cũng như trong lòng tôi, cái tình yêu ấm áp và đau đớn thuở ban đầu ấy vẫn không bao giờ tan biến, dù giờ đây cuộc đời hai đứa đã là hai nhánh sông ngậm ngùi trôi theo những bến bờ xa lạ. Xung quanh tôi giờ đây im lặng quá, đâu đây nghe như có tiếng thở dài để xót thương cho một cuộc tình không trọn. . .

Các bạn đồng môn đang trao nhau những cuốn giai phẩm mùa hè Toronto, ai nấy hối hả và chăm chú lật từng trang, nhìn từng tấm ảnh cũ và mới, họ đang cố tìm một vài nhân ảnh đã mịt mờ trong quá khứ. Cầm cuốn Giai Phẩm với trang bìa là hình ảnh cô nữ sinh kiều mị trước sân trường, những bướm hoa ngày cũ, dãy hành lang vàng đục, từng ô cửa và tiếng phấn rít trên bảng đen như hiện về trong trí nhớ, Tôi thấy tôi ngày xưa, tôi thấy Toàn ngày xưa, tôi thấy những giọt mưa rớt xuống sân cỏ non giăng giăng nhạt nhòa trong mắt tôi một màn lệ mỏng.

Không, tôi không muốn gặp chàng đêm nay, dù chàng đã đến đây, đã khơi lại trong trái tim đau những ngất ngây ngày cũ, những đắng cay của một mối tình học trò đằm đẵm những kỷ niệm xót xa. Kỷ niệm vẫn chỉ là kỷ niệm, khi những nhánh sông đã rẽ ra trăm ngàn hướng đời khác biệt, để mỗi lúc nhớ đến nhau, lòng chỉ vẫn rưng rưng với những hình bóng cũ. Nếu có lúc nào đó, sông bốc lên thành mây, thì tôi mơ được là mưa trên mái trường xưa, một lần nữa xôn xao trên mái tóc xanh tuổi học trò.

Tôi bỏ ra về trước khi đêm hội ngộ bế mạc, không một lần gặp lại người tình năm xưa. Đêm Toronto mát lạnh dù đang giữa mùa hè, suốt đêm tôi chập chờn không ngủ, gần sáng lại thiếp đi với một giấc mơ lạ lùng, nghe như có tiếng mưa rơi rào rào trên tấm áo mưa ngày nào. Mở cửa bước ra ngoài hành lang của khách sạn, tôi mới biết đêm qua trời mưa, những vũng nước mưa còn ướt sũng trên mặt đường, gió từ Ngũ Đại Hồ lồng lộng thổi đem cái lạnh hắt hiu vào lòng người, như cái lạnh của cơn mưa chiều năm xưa.

Thu xếp hành lý ra phi trường cho kịp chuyến bay lúc mười giờ, tự nhiên tôi lại khóc, những giọt nước mắt cứ ứa ra trên viền mi, nào ai biết, nào ai hay. Giã từ Toronto, giã từ bạn bè gần xa, giã từ hình ảnh người yêu thuở học trò một đêm hội ngộ, từ đây cho mãi đến nghìn sau, tôi vẫn là nhánh sông ngậm ngùi, để nuối tiếc hoài hoài những tháng ngày tuổi mộng.

 

 NGUYÊN NHUNG

------

Ngọc Lan st

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này