Truyện

Truyện (228)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xuân Về Vắng Cha - Điệp Mỹ Linh

 Xuân Về Vắng Cha 

Điệp-Mỹ-Linh

forever in my heart dad

Bà Năm đưa 3 cây nhan gần chạm trán, khấn: “Lạy thổ thần đất đai và cô hồn các bác, hôm nay là 30 Tết, con cầu xin thổ thần đất đai và cô hồn các đẳng phù hộ cho con của con – tên Cúc – làm ăn phát đạt, gặp được người xứng đáng. Nếu lời nguyện của con được linh ứng, con sẽ xin cúng một con gà.” 

Cắm nhan xong, quay lại, thấy Bảo và Thảo đang nhìn Bà chăm chăm, vì chưa bao giờ thấy ai cúng và lạy, Bà Năm nạt:

-Nhìn cái gì? Bộ lạ lắm sao?

Hai đứa bé sợ, vừa nhìn nhau vừa bước lui vào phòng, đóng cửa lại. Mẹ của Bảo và Thảo từ trên lầu đi xuống, bà Năm bảo:

-Cúc! Từ ngày tụi mày bảo lãnh tao qua đây tới giờ, đã mấy tháng rồi, mà hai đứa nhỏ cũng “ì” cái mặt tụi nó ra. Tao là bà Ngoại của tụi nó “chớ bộ” tao là... “cứt” sao! 

Nhờ sống ở Mỹ khá lâu, ngôn từ và suy nghĩ của Cúc không còn như thời Cúc mới được sang Mỹ theo diện hôn phối, sau khi thành hôn với Đạm. Cúc đáp:

-Tụi nó mới bốn năm tuổi, biết gì đâu mà Má nói thấy ghê!

-Ghê gì! Mày không dạy tụi nó tiếng Việt thì tụi nó đâu biết Ông Bà của tụi nó là ai; bởi vậy, tụi nó cứ gọi tao là you rồi “trơ mắt” nhìn, coi tao như... “cứt”!

-Tụi con đi làm suốt ngày, thì giờ đâu mà dạy tụi nó tiếng Việt. Tụi nó không hiểu tiếng Việt; Má không biết tiếng Anh thì chịu thôi.

-Thằng Đạm lấy mày thì nó phải “cung phụng” mày; “mắc mớ gì” mày phải đi làm?

-Nếu con không đi làm, ai gửi tiền về cho Má và họ hàng suốt bao nhiêu năm qua?

-Mỗi tháng mày “thí” cho tao có mấy trăm đô “chớ mấy”! Bà con xin, mày cũng “thí” mỗi “hộ” 100 đô “chớ mấy”; trong khi đó vợ chồng mày sống trong cái nhà “chần dần”!

-Bao nhiêu cũng “chớ mấy”, vậy tiền đâu tụi con trả tiền nhà, tiền xe, tiền bảo hiểm và nuôi hai đứa nhỏ?

Bà Năm trở lại đề tài mà Bà lập đi lập lại với Cúc không biết bao nhiêu lần kể từ khi Bà đến Mỹ:

-Nuôi con thì phải nghĩ đến tương lai cho con. Mày muốn hai đứa nó lớn lên học hành để làm ông kia bà nọ hay là mày muốn tụi nó làm thợ bạc như “thằng” Đạm? 

-Con nói với Má hoài. “Nó” đem con qua đây, cho con đi học tiếng Anh rồi học nghề và tụi con có hai đứa con. Bây giờ Má biểu con “đá nó cái rột”, ai nuôi con của con?

-Mày học được chữ nào là công khó của mày chớ “dính dấp” gì tới nó

-“Nó” phải mua xe cho con, trả tiền học, tiền sách vở, tiền xăng, áo quần v.v. chớ sao không “dính dấp”?

Bà Năm nạt lớn:

-Đi học thì mượn hoặc xin tiền của chính phủ. Mua nhà, mua xe trả góp chớ đâu phải như bên mình, mua, trả “cái rột”. Mày qua đây chỉ có bổn phận ở nhà, đi chợ nấu ăn cho nó thôi. Nó phải có bổn phận chu cấp mọi thứ cho mày. Còn con, mày nuôi không nổi thì xin tiền chính phủ Mỹ mà nuôi. Ăn học như mày mà sao dốt quá vậy?

-Tùy theo income chứ không phải ai cũng mượn hoặc xin được tiền của chính phủ để đi học hoặc nuôi con.

-“In côm” là cái gì? 

-Lợi tức cá nhân hằng năm.

-Mày là “kỹ sư dược sĩ”. Mấy “thằng” dược sĩ cùng làm với mày sao mày không “chôm” một “thằng” mà mày cứ sống với “thằng” thợ bạc? Lương của “thằng” thợ bạc so với lương của “kỹ sư dược sĩ” như mày thì thấm vào đâu? 

-Con nói với Má hoài. Con chỉ là người trợ giúp dược sĩ (pharmacy technician) chứ con không phải dược sĩ; vì con không có căn bản học vấn, làm sao học đến dược sĩ được! Hơn nữa, ở đây không có nghề nào là “kỹ sư dược sĩ” cả.

-Mày phụ giúp dược sĩ thì gọi là “kỹ sư dược sĩ” chớ còn gì nữa. Chỗ mày làm có nhiều dược sĩ, sao mày không “củm đại” một “thằng” để trở thành “bà dược sĩ”? “Bà dược sĩ” không danh giá hơn “bà thợ bạc” sao? Đồ ngu!

Vì mộng được làm “bà dược sĩ”, Cúc đã “tấn công” và tự “hiến thân” cho một dược sĩ làm cùng công ty CVS. Cúc hy vọng dược sĩ này sẽ ly dị vợ để sống với Cúc. 

Không ngờ, chuyện ngoại tình của Cúc và dược sĩ bị “đổ bể”. Vợ của dược sĩ đã khôn ngoan, dùng tình cảm chinh phục chồng, thuyết phục chồng dời đi tiểu bang khác. 

Riêng Đạm, khi hay tin Cúc ngoại tình, Đạm âm thầm đau khổ, lên facebook tìm bạn gái.

Sau thời gian “lăng nhăn ảo” với vài cô bên Việt Nam, Đạm nhận ra đa số phụ nữ bên Việt Nam chỉ muốn tìm cuộc sống “đổi đời” – như Cúc – chứ không có tình yêu, Đạm thất vọng. Và, điều quan trọng hơn cả là, càng lớn Bảo càng giống Đạm và càng quyến luyến Đạm một cách rất thiết tha, đậm đà; vì thế Đạm quyết định tha thứ và vẫn sống với Cúc.

Sự thật là như thế. Nhưng, Cúc chỉ nói với mọi người về sự phản bội của Đạm trong chuyện “tình ảo” trên facebook; còn chuyện ngoại tình giữa Cúc và dược sĩ, Cúc “giấu biệt”. 

Vì không hiểu rõ sự việc, bà Năm kể công:

-Mày là con một. Vì thương mày, Ba mày phải buôn lậu để gây dựng tương lai cho mày; “không dè” ổng bị đồng bọn thanh toán vì “chia chác” không đều! Tao phải bán nhà, bán đất để tìm mai mối cho mày đổi đời. Bây giờ mày lỡ gặp thằng chồng “cà chớn” mà mày còn tiếc “cái nỗi gì”?

-Má để từ từ, được không?

-Từ từ? Bộ mày tưởng mày trẻ đẹp “woài” sao?

-Con biết, nhưng “kẹt” hai đứa nhỏ.

-“Kẹt” cái gì! Tao đã hỏi người Việt quanh đây. Họ nói, tại tiểu bang này, nếu ly dị, Mẹ được nuôi con; hằng tháng Cha phải chu cấp tiền nuôi con cho đến khi con 18 tuổi; tài sản chia hai.

******

Sáng chủ nhật, dậy trễ, thấy Đạm, với nét mặt rất buồn, đang đem va-ly và nhiều vật dụng của Đạm chất vào xe truck màu đỏ, Bảo ngạc nhiên:

-Daddy đem va-ly và mấy thứ đó đi đâu?

Đạm bế Bảo lên, giọng nghẹn ngào:

-Daddy phải đi.

-Khi nào daddy về?

-Daddy sẽ không về.

Bảo tròn mắt nhìn Đạm:

-Cái gì?

Đạm lập lại. Bảo vùng vằn:

-Tại sao? Con muốn daddy trở về.

Đạm siết chặt Bảo vào lòng. Vừa khi đó, hình ảnh những buổi chiều Đạm dẫn Bảo và Thảo đi bộ vòng quanh khu vực gia đình cư ngụ, nhiều người láng giềng vẫy tay, nói “hi!” và khen hai đứa bé dễ thương, hiện về trong cõi lòng tan nát của Đạm. Một trong những người thương hai đứa bé như cháu ruột là bà Hồng; nhưng Bảo không biết Bà tên gì. Nghe Bà và Đạm thường nói chuyện bằng tiếng Việt, Bảo tự ý đặt tên cho Bà là “bà Việt Nam”. Nhớ đến đây, Đạm thở dài:

-Daddy đâu muốn đi, con! 

-Nếu daddy không muốn đi, ai bắt daddy đi được?

-Quan tòa! Nhưng Cha con mình vẫn sẽ gặp nhau.

-Bằng cách nào?

-Thỉnh thoảng, daddy sẽ đón hai đứa về sống với daddy.

-Tại sao lại thỉnh thoảng?

-Quan tòa đã phán quyết như vậy.

-Quan tòa là ai mà ác vậy?

-Lớn lên con sẽ hiểu. Bây giờ con nghe lời daddy, gắng học giỏi. Hè, daddy sẽ đưa con và Thảo đi Disney World chơi. 

Bảo ôm cổ Đạm. Đạm dặn:

-Lúc nào daddy cũng thương nhớ các con. Con và Thảo phải gắng học và vâng lời Mẹ dạy, nha!

Đạm dặn Bảo phải vâng lời Mẹ dạy. Nhưng suốt thời gian dài sống với Cúc, Ngoại và Thảo, lúc nào Bảo cũng chỉ nghe Cúc nói Đạm là “thằng” đàn ông xấu xa, tồi tệ, đáng ghê tởm nhất thế giới; vì đã bỏ vợ con để theo mấy bà bên Việt Nam. Cúc bán nhà – Đạm đã ký giấy thỏa thuận tặng Cúc, Bảo và Thảo “nữa ngôi nhà” Đạm được hưởng khi ly dị – dời đến khu vực khác. Cúc đổi số điện thoại; cấm Bảo và Thảo liên lạc hoặc nhắc đến Đạm. Đứa nào cãi lời, Cúc sẽ đuổi ra khỏi nhà để mấy người homeless bắt đi. 

Như thế tưởng chưa đủ, bà Năm còn lo xa:

-Mày dọn nhà đi mà mày đã cho thằng Đạm địa chỉ mới để hằng tháng nó gửi tiền nuôi hai đứa nhỏ chưa?

-Hằng tháng “nó” gửi check đến luật sư của con; luật sư của con sẽ chuyển đến con.

****** 

Điện thoại reng, bà Hồng nhất lên, allo và nghe:

-Hi, “bà Việt Nam”!

-Bảo! Trời ơi! Bà phải “ở trên điện thoại” từ sáng sớm đến chiều nay mới tìm được con!

-Con xin lỗi Bà. Nhưng làm thế nào Ba của con biết con đi lính mà nhờ Bà tìm? 

-Ba của con kể rằng: Hector – ngày trước cùng làm tại tiệm kim hoàng với Ba con – gặp con tại phi trường. Thấy con giống Ba con “như đúc”, Hector hỏi thăm. Con xác nhận và cho Hector biết con lén gia đình, sang California trình diện, nhập ngũ. Sau khi con lên máy bay, Hector tìm trong điện thoại của Hector, thấy số điện thoại cũ của Ba con. Hector nghĩ, cứ gọi thử xem, nếu đúng, Hector sẽ báo cho Ba con biết tin con đi lính; nếu không đúng thì Hector cũng đã hết lòng với người bạn cũ. Không ngờ Ba của con không đổi số điện thoại. Thế là Ba của con điện thoại, nhờ Bà tìm con; vì Ba con và Hector không đủ khả năng sinh ngữ cũng như sự hiểu biết về các cơ quan công quyền.

-Hector quả là người tốt! Con xin lỗi đã làm phiền Bà. 

-Tìm được con, Bà vui chứ sao lại phiền. Con khỏe không? Con đang ở đâu? 

-Con khỏe. Con đang ở trung tâm huấn luyện Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ.

-Cái gì? Trời! Ba của con nói với Bà rằng con cho Heator biết con sắp xong năm thứ hai đại học; nhưng vì buồn gia đình nên đi lính. Tại sao con không gắng thêm vài năm nữa cho xong đại học rồi xin vào trường sĩ quan?

-Sĩ quan hoặc lính cũng chỉ đánh giặc thôi, đâu khác biệt gì. Sự khác biệt quan trọng nhất trong đời người là một đứa có Cha và một đứa có Cha mà không được gặp, không được liên lạc với Cha!

-Bà hiểu. 

-Biết bao nhiêu năm rồi con không được hug, không được nghe tiếng nói của Ba con, Bà biết không?

Dù đã nghe người Việt quanh khu vực này nói về việc Cúc ngoại tình với dược sĩ làm cùng công ty, bà Hồng cũng nói khác đi; vì Bà không muốn làm cho Bảo đau lòng thêm:

-Là phụ nữ, Bà hiểu tâm trạng của Mẹ con. Con đừng trách Mẹ con.

-Con không trách Mẹ con. Con hiểu Mẹ con có lý lẽ của Mẹ con. Nhưng trái tim của con cũng có lý lẽ của nó.

Ngưng một chốc để nén xúc động, Bảo tiếp:

-Làm thế nào Bà tìm ra con?

-Sau khi hứa với Ba con, Bà vào Google, tìm, rồi điện thoại đến các nơi tuyển mộ tại Houston. Không ai có thể giúp Bà; vì Bà không có tư liệu cá nhân của con. Bà gọi các văn phòng tuyển mộ tại Dallas và Austin cũng bị từ chối vì cùng lý do. Bà khóc, giải thích với nhân viên phòng tuyển mộ tại Austin rằng Bà không biết số điện thoại của Mẹ con. Lúc sáng Ba con gọi Bà trên số desk phone của Bà – mà desk phone của Bà không có máy để ghi lại số điện thoại hoặc lời nhắn – và Bà cũng quên hỏi Ba con số điện thoại của Ba con; do đó Bà không thể gọi lại Ba con để lấy tư liệu cá nhân của con. Bà nhờ văn phòng tuyển mộ tại Austin ghi tên họ, địa chỉ và hai số điện thoại của Bà rồi chuyển đến con với lời nhắn: Nếu con nhận ra Bà là “bà Việt Nam”, hãy gọi Bà ngay; vì Ba con rất khổ tâm và lo lắng cho con! 

-Cảm ơn Bà đã tìm con. Tụi con thương nhớ Ba con nhiều lắm. Nhưng Mẹ con cũng vẫn cấm tụi con liên lạc với Ba của tụi con! Mẹ con bảo, nếu tụi con liên lạc với Ba con thì Mẹ của con sẽ... tự tử chết! 

******

Trong khung cảnh nhộn nhịp, vui tươi, nhìn Thảo rạng rỡ với chiếc áo cưới màu trắng, vương miệng cũng màu trắng và bó hoa hồng trên tay, Bảo vẫn cảm nhận được sự trống vắng trong hồn chàng. Bảo thở dài, nhìn sang bạn gái, tự hỏi: Nếu sau này, con mình lập gia đình mà mình không được tham dự, mình sẽ nghĩ như thế nào? Con của mình sẽ nghĩ gì? Nếu con gái của mình phải cầm tay một người đàn ông khác trong những bước first dance – vì mình không được nhận vinh dự đó – thì con gái của mình sẽ cảm nhận như thế nào? Mình có đủ can đảm để vượt qua nỗi đau quá lớn đó hay không? Nỗi buồn trong lòng mình sẽ sâu đến độ nào?... Đang suy tư, Bảo chợt nghe giọng bạn gái:

-Bảo, đứng lên! Đứng lên, đi ra với cô dâu.

Bảo nắm tay Thảo bước vào sân khấu trong tiếng vỗ tay rộn rã. Nhìn nụ cười rạng rỡ của Thảo, Bảo cảm thấy thương em vô cùng và cũng nhớ Ba vô vàn! 

Ban nhạc dạo hết phân đoạn đầu tình khúc She Walks With Me của Michael W. Smith, ca sĩ “bắt” vào: 

From the first breath of her life 
She flew straight into my arms 
I used to catch her from the swings 
When she was five... 
... And she walks with me 
And she talks with me...” 

Lời ca gợi lại trong hồn Bảo hình ảnh những buổi chiều hạnh phúc xưa, khi Bảo và Thảo cùng Ba đi bộ quanh xóm... Kỷ niệm vừa sống lại trong hồn, Bảo đưa tay quẹt nước mắt. Thảo vừa bước theo vòng tay đưa đẩy của Bảo vừa nhìn Bảo, khẽ nói: 

-Bảo! Anh gắng vui trong ngày trọng đại của đời em. Em thương anh.

Bảo tự hỏi: Ngày trọng đại của đời em mà Ba của em không được phép hiện diện! Có bất công cho em hay không? Sự bất hòa giữa Cha Mẹ là chuyện của Cha Mẹ, tại sao bắt con phải nhận lãnh hậu quả? Với hai hàng nước mắt tuôn dài, Bảo quay nhanh về phía bàn gia đình và thấy “bà Việt Nam” đang nhìn chàng với ánh mắt đầy xót thương! Mủi lòng quá, Bảo rời sân khấu, bước vội ra cửa trong sự bàng hoàng và xúc động của mọi người!

Bước chầm chậm trong khung trời rực rỡ của lồng đèn màu đỏ, chữ vàng, treo trước mỗi nhà hàng và tiếng trống của đoàn múa Lân, Bảo chợt nhớ những mùa xuân xưa, khi Bảo và Thảo được mặc quần áo mới, được Ba Mẹ đưa đi chúc Tết bà con và bạn hữu. Bảo và Thảo được “lì xì” tiền mới. Khi về nhà, Ba bày Bảo, Thảo và mấy đứa bé cùng xóm chơi “bầu, cua, cá, cọp”... Nhớ đến đây, Bảo tủi thân, tựa vào trụ đèn, gục đầu vào lòng bàn tay, dáng vẻ rất khổ sở. 

Bất ngờ, một bàn tay nhẹ nhàng đặt lên vai của Bảo, giọng dịu dàng:

-Hi, Bảo! 

Quay sang, nhận ra bà Hồng, Bảo hơi khom xuống, vừa hug Bà vừa thì thầm:

-“Bà Việt Nam”! Con buồn quá!

-Bà hiểu. Nhưng, con gắng vượt qua để niềm vui của em con được trọn vẹn

-Con phải làm gì bây giờ?

Bà Hồng chưa kịp đáp thì chiếc truck màu đỏ của nhân viên an ninh tuần tiễu chạy chầm chậm ngang qua. Nhìn theo chiếc truck, niềm thương nhớ Ba lại cuồn cuộn trở về rồi òa vỡ trong lòng, Bảo không thể tự chủ được, gọi lớn: “Truck! Bring my daddy back! I want my daddy to be here for my sister’s wedding!  

 

Điệp Mỹ Linh 

https://www.diepmylinh.com/

Pin on dad I love and miss you so much

 

Điệp-Mỹ-Linh là bút hiệu của Nguyễn Thị Thanh-Điệp, được sinh ra tại Dalat.

Điệp-Mỹ-Linh được thân phụ - cụ Nguyễn Văn Ngữ - dạy nhạc ngay từ khi còn bé. Khởi đầu Điệp-Mỹ-Linh học đàn Mandoline; lớn hơn một tý Điệp-Mỹ-Linh học đàn Accordion.

Học hết bậc tiểu học tại trường Domain de Marie, Điệp-Mỹ-Linh theo gia đình về quê Nội, Nha-Trang. Tại Nha-Trang, Điệp-Mỹ-Linh theo học trường trung học Võ-Tánh.

Cũng tại Nha-Trang, cụ Nguyễn Văn Ngữ thành lập ban Ca Nhạc Bình-Minh để phụ trách phần văn nghệ cho Đài Phát Thanh Nha-Trang, vào tối thứ Năm và tối Chủ Nhật. Điệp-Mỹ-Linh đàn Accordion và hát, dùng tên thật, Thanh-Điệp.

Thời gian này cụ Nguyễn Văn Ngữ viết cho báo Đuốc Thiêng, dùng bút hiệu Điệp-Linh. Điệp-Mỹ-Linh cũng được thân phụ khuyến khích cầm bút.


Điệp-Mỹ-Linh bắt đầu viết từ năm 1961 và có bài đăng trên Đuốc-Thiêng, Tin-Sáng và Tia-Sáng với vài bút hiệu khác nhau như: Nguyễn Thị Kiều-Lam, Thanh-Điệp, Thủy-Điện và Điệp-Mỹ-Linh.

Sau bậc trung học, Điệp-Mỹ-Linh theo học Luật tại Đại Học Luật Khoa Saigon.

Sau khi định cư tại Hoa-Kỳ, năm 1975, Điệp-Mỹ-Linh không còn dùng những bút hiệu khác nữa.

 

Những tác phẩm đã xuất bản của Điệp-Mỹ-Linh:

 

Quý vị có thể liên lạc với Điệp-Mỹ-Linh tại:

diepmylinh@rocketmail.com
P.O. Box 401

Alief, Texas 77411  U.S.A.

 

Xem thêm...

Một thuở homeless - Yên Sơn

MỘT THUỞ HOMELESS

Yên Sơn

Một Thuở Homeless - VVNM 2022 - Việt Báo Viết Về Nước Mỹ

Buổi sáng vào sở hắn được người Giám đốc cho biết hôm nay hắn sẽ đem giao xe ở Uvalde City Dealership, lấy một chiếc khác ở đó mang đi giao ở San Antonio, xong sẽ có một chiếc cho hắn mang về. Nhưng khi đến Uvalde thì được chủ gọi về ngay. Hắn bồn chồn hỏi lý do nhưng người chủ hãng chỉ nói, “Mầy lấy chiếc xe dự định đem đi San Antonio mang về đây để ngày mai sẽ giao. Mầy lái xe về cẩn thận, dù không có gì nghiêm trọng lắm nhưng mầy cần phải về ngay.”

Trên đường về, đầu óc hắn suy nghĩ lung tung. Không biết chuyện gì xảy ra mà bị gọi về ngay như vậy! Hai chú em có vấn đề gì không. Trong đầu hắn tư tưởng lộn xộn – Công việc của hai chú em nhàn nhã, không nguy hiểm gì; từ lúc vào làm việc đến giờ, anh em hắn vẫn được khen ngợi siêng năng… Hay là…. hay là có tin tức gia đình?! Cái ý nghĩ này thoáng lên cũng làm hắn choáng ngợp vì hồi hộp.

Chẳng qua là từ lúc rời trại tỵ nạn đến nay, anh em hắn đi tới đâu, làm với ai đều được những nơi liên hệ khai báo với Hội USCC (United States Catholic Charity) một cách đầy đủ. Cơ quan nầy là một trong nhiều hội thiện nguyện bảo trợ người tỵ nạn lúc ban đầu. Mặc dù “bà già” trực tiếp bảo trợ anh em hắn ra khỏi trại, bảo đảm lo nơi ăn chốn ở cho anh em hắn lúc ban đầu; dù vậy, trên giấy tờ vẫn phải qua một hội từ thiện. Điều nầy đã được giải thích rõ ràng cho anh em hắn trước khi rời trại. Sở dĩ họ làm vậy cũng chỉ để thông báo kịp thời nếu có tin tức liên quan đến thân nhân, gia đình bên nhà.

Con đường từ Uvalde về lại Pearshall là một con đường nhỏ, tráng nhựa phẳng phiu và ít xe qua lại. Con đường buổi sáng thật êm đềm, thật tĩnh lặng, hắn một xe một người giong ruổi đi. Phóng tầm mắt mải mê nhìn ngắm, tai nghe nhạc du dương; cây hai bên đường xanh mượt lá nối liền nhau như một dải lụa xanh biếc, dài vô tận. Lâu lâu có những khúc quanh co, lên đồi xuống dốc trông rất ngoạn mục. Bỗng chốc hắn quên mất mình là ai, đang ở đâu, làm gì. Hắn vô tâm quên đi quá khứ, quên luôn hiện tại…

Thế nhưng, cũng con đường nầy mà giờ đây hắn không còn tâm trí, lòng dạ nào để thưởng ngoạn. Hình ảnh gia đình, bóng dáng của những người thân yêu ngập tràn tim óc làm cay xè trên mắt.

Vừa qua một khúc cua, hắn giật mình khi thấy chiếc xe cảnh sát chớp đèn xanh đỏ rượt theo. Liếc nhanh kính chiếu hậu, liếc qua đồng hồ tốc độ thấy kim chỉ vượt con số 100! Hắn buông ngay chân ga, rà thắng chậm lại trong lúc xe cảnh sát hụ còi inh ỏi phía sau. Hắn tấp xe vào lề dừng lại ngồi đợi và than khổ, “Chắc không tránh khỏi bị giấy phạt nặng!” Viên cảnh sát đến bên hông, ra dấu cho hắn mở kính xuống. Ông ta từ tốn hỏi hắn có việc gì nghiêm trọng mà chạy quá sức nhanh vậy. Hắn nói không có gì, chỉ là đang miên man suy nghĩ nên không để ý. Cảnh sát lại hỏi, “Bạn có biết tốc độ của bạn bao nhiêu không?” Hắn nói thấy khoảng một trăm. Viên cảnh sát bật cười, “Trời đất ơi OMG! Bạn đã chạy gần gấp đôi tốc độ giới hạn 65m/hr; cho xem bằng lái xe và bảo hiểm!”

Tay run run lục bóp tìm bằng lái. Trong lúc đưa bằng lái xe cho viên cảnh sát, hắn buột miệng, “Ông có thể tha cho tôi lần nầy không, vì tôi đang nóng lòng nghĩ tới gia đình tôi ở VN bây giờ không biết họ có an toàn hay không nên quên mất tốc độ!” Viên cảnh sát nói, “À bạn là người tỵ nạn VN mới tới phải không?” Hắn vừa gật đâu vừa nói yes yes. Viên cảnh sát biểu hắn tắt máy và ngồi đợi trong lúc ông ta mang giấy tờ của hắn trở lại xe của mình.

Sau một lúc lúi cúi trong xe, viên cảnh sát trở lại với cuốn sổ phạt trên tay; ông ta nói, “Tôi chắc là bạn rất mong muốn gặp lại gia đình và những người thân yêu, nhưng nếu cứ lái xe với tốc độ nầy thì có ngày sẽ không còn cơ hội gặp lại họ. Tôi thông cảm hoàn cảnh và sẽ chỉ viết giấy cảnh cáo lần nầy, cố gắng bình tĩnh trong mọi trường hợp; nhiều khi với sự bất cẩn của bạn không những mất mạng mà còn gây tai hại cho người khác nữa.” Nói xong ông trả lại giấy tờ và đưa cuốn sổ biểu hắn ký vào tờ giấy. Hắn cám ơn lia lịa và hứa sẽ chạy rất cẩn thận sau nầy. Nói xong, hắn cắm cúi ký vào tờ giấy màu vàng, đưa trả lại và nhận một bản sao. Hắn cám ơn ông ta lần nữa trước khi viên cảnh sát quay lưng với câu chúc may mắn.

Hắn ngồi thêm một lúc nữa để niềm vui lắng xuống và lấy lại bình tĩnh. Thấy xe cảnh sát vẫn chớp đèn phía sau như chờ đợi hắn lái đi. Hắn nổ máy rời đi. Xe cảnh sát chạy theo hắn một quãng đường nữa rồi đi vòng lại phía ngược chiều. Hú hồn, hắn thầm nghĩ.

 

Về đến nơi hắn vào ngay văn phòng Giám đốc. Sau khi ký vào sổ sách giao nhận, ông Giám đốc mời hắn ngồi trước bàn làm việc. Hắn thấy vẻ nghiêm trọng của ông ấy đâm ra áy náy. Có lẽ thấy sự lo lắng của hắn hiện ra mặt hay sao đó, ông Giám đốc từ tốn nói, “Mầy yên tâm, không có gì nghiêm trọng lắm đâu. Chỉ là mầy về nói với hai thằng em mầy từ nay trở đi chúng nó đừng làm như vậy nữa.” Chưa kịp mở miệng hỏi việc gì xảy ra thì ông ta nói tiếp:

– Sáng nay sau khi mầy đi, tao giao cho hai anh em chúng nó rửa lô xe mới phía bên phải, rửa được nửa lô thì cả hai biến mất với chiếc Cadilac mới toanh. Chúng tao lo quá cho người tìm kiếm. Cũng may chưa báo cảnh sát. Cả tiếng sau thì chúng nó trở về, nói là thấy xe đẹp quá nên chạy thử một vòng ra nông trại. Tao bực mình quá nên cho chúng nó về nghỉ hôm nay rồi!

Về tới nhà thấy hai chú em đang ngồi học tiếng Anh. Thấy tôi bước vào hai chú giật mình. Chú lớn hỏi:
– Anh cũng bị đuổi việc như tụi em hả?
– Không, chỉ được về sớm thôi. Hai chú làm gì mà bị đuổi?
– Bộ người ta không nói với anh sao?
– Có chứ! Các chú thiệt hết chỗ nói. Chưa có bằng lái xe mà dám lén xách xe mới của người ta chạy đi chơi. May không xảy ra tai nạn và cũng may họ không báo cảnh sát.
– Mình chỉ chạy đi chơi một vòng rồi về thôi mà, làm gì phải gọi cảnh sát?
– Nếu người ta nghĩ các chú ăn cắp xe thì đã báo cảnh sát rồi ông ơi!
– Ghê vậy sao?
– Tôi mắng yêu:
– Đứa nào cũng to đầu rồi mà suy nghĩ như con nít.
– Nhưng họ cũng đuổi tụi em rồi!
– Tại ông chủ giận hai chú thiếu suy nghĩ nên cho về để dằn mặt thôi. Ông ấy nói với anh ngày mai các chú trở lại làm việc bình thường; chỉ là phải hứa với họ từ nay trở đi đừng làm những chuyện không được phép nữa.
– Ôi mừng quá anh Tư! Hứa thì hứa. Người ta tốt quá anh Tư héng. Tụi em xin lỗi đã làm anh Tư buồn.
– Anh em mình nên cố gắng làm tốt công việc của mình; dành dụm thêm ít tiền nữa để trở lại San Antonio tìm một công việc khá hơn và các em cần phải trở lại trường nữa. Ngoài ra, ở thành phố dễ tìm cách liên lạc với gia đình hơn.

Hôm sau, cả ba anh em hắn trở lại sở, vẫn thấy mọi người vui vẻ, đối xử bình thường, không ai nói gì về chuyện xảy ra hôm qua. Hai chú nhỏ vẫn giúp việc lặt vặt ngoài việc chính là rửa các lô xe cũ mới bày bán. Hắn vẫn ngày ngày chuyển xe đi, đưa xe về từ các làng mạc, phố xá lân cận. Ông Quản Đốc tốt bụng đã giúp hai em hắn học thi đậu bằng lái xe dù anh em hắn vẫn chưa nghĩ đến việc mua xe riêng, vì nhà trọ chỉ cách chỗ làm vài dặm đường. Ngày ngày đi bộ đến sở làm.

Một hôm, anh em đang trên đường lội bộ đến hãng, gặp ông Quản đốc đi ngang, ông ta dừng lại chở ba anh em về hãng. Chiều sắp về, ông ta gọi hắn vào văn phòng đưa chìa khoá nói cho mượn chiếc xe để anh em làm phương tiện di chuyển. Chiếc Chrysler sedan 6 chỗ ngồi, màu trắng, đời ’68, mới chạy hơn 5 ngàn đặm nằm trong khu xe cũ để giá bán $1,000.00.

Một thuở homeless

Thế rồi “ngày qua ngày lại qua ngày,” tin tức gia đình vẫn bặt vô âm tín. Khi thu đã về ngang, cảnh nhộn nhịp của mùa thu hoạch ở nông trại đã hết, phố xá trở nên quạnh quẽ hơn, hơi lạnh cũng bắt đầu ùa về. Hai chú em có lẽ không kham nổi sự khó nhọc và cô đơn nên cứ bệnh lai rai cộng với nỗi nhớ nhà làm cho hai chú nhỏ kém vui, biếng ăn, biếng ngủ. Nhìn hai chú em, tuy đã ở tuổi trưởng thành nhưng tâm hồn vẫn đơn sơ, mộc mạc, bé thơ. Hai chú nhỏ như cây non bị bứng gốc đem rồng nơi xứ lạ, lòng hắn xót xa đắng chát. Hắn nhủ thầm, “Chắc phải một sớm một chiều cho các chú trở lại trường học, trở lại phố phường để còn có tương lai.”

Một ngày Thứ Sáu, khi hắn đi giao xe ở San Antonio, ghé thăm Phát, người bạn thân từ lúc vào lính đến giờ, cũng là người cùng xuất trại một lúc với hắn. Hắn kể tình cảnh của anh em hắn và tỏ ý muốn tìm cách về lại phố mà chưa có giải pháp. Phát tâm tình:

– Tụi mình đã mất tất cả chỉ còn cái mạng may mắn đến được chốn nầy. Hoàn cảnh hiện tại chỉ có mình tự cứu mình thôi. Hãy can đảm lên, chúng ta đã từng cận kề sinh tử, vượt qua bao thử thách để vươn lên thì hoàn cảnh hiện tại cũng chỉ là một thử thách khác. Như một câu nói mình thường nghe, “Nếu đã đủ quyết tâm nhất định sẽ có cách” (There is a will there is a way).

Chia tay Phát mà câu nói cuối cùng của nó vẫn lảng vảng trong đầu hắn trên suốt chặng đường về. Tự nhiên hắn nhớ lại những lần mà hắn nghĩ là không thể… như tập “bay hợp đoàn lần đầu tiên trên chiếc khu trục T-28B,” “ngồi trên ghế phải trong phòng lái trên chiếc C.123K lần đầu để tập làm pilot của loại vận tải cơ lớn nhất nước,” “mời một người đẹp không quen biết ra sàn nhảy Tango trong buổi tiệc cuối khoá khi vừa học xong khoá nhảy đầm;” và nhiều cái “lần đầu” khác… trong đời. Nghĩ tới đó lòng hắn đã quyết.

Về tới nơi, hắn bàn với hai chú em chuyện xin nghỉ việc về phố. Hai chú nhỏ reo mừng. Chúng nó làm như chuyện rời khỏi nơi nầy là một ân huệ! Thế là chờ đến Thứ Hai tới, buổi chiều chuẩn bị ra về, hắn lên văn phòng Quản Đốc, ngập ngừng, ấp úng một hồi rồi nói:

– Anh em chúng tôi vô cùng biết ơn ông đã giúp đỡ và thương mến chúng tôi trong thời gian qua. Nhưng như ông thấy đó, hai đứa em tôi lúc nào chúng nó cũng buồn lo, nhớ nhà. Chúng tôi phải về phố để dễ tìm kiếm tin tức thân nhân, gia đình chúng tôi còn kẹt ở Việt Nam và tôi rất muốn cho hai chú em trở lại trường để còn có tương lai. Dù rất buồn phải xa ông và mọi người ở đây nhưng không thể có một tương lai bất định như bây giờ. Hôm nay xin được báo ông biết, hai tuần nữa chúng tôi xin nghỉ việc!

Người Quản Đốc tỏ vẻ bất ngờ và cử chỉ có nhiều băn khoăn:
– Tụi mầy đã tìm được chỗ ở chưa mà đi? Về phố rồi sinh sống thế nào? Hay là chịu khó làm tới cuối năm để dành thêm ít tiền nữa rồi hãy đi?

Thấy ông ta quá quan tâm nhưng lòng hắn đã quyết nên đành nói dối:
– Xin cám ơn sự quan tâm của ông nhưng bạn tôi vừa cho biết đã mướn được nhà ở cho chúng tôi rồi.
– Chúng mầy đã quyết định như thế thì cứ làm như thế. Chúc anh em chúng mầy may mắn. Chúng mầy không cần phải theo tôn chỉ xin nghỉ việc, vì thế có thể ra đi bất cứ khi nào đã sẵn sàng. Nhưng nên nhớ, nếu vì lý do nào đó muốn trở lại đây làm việc, chúng tôi cũng sẽ đón nhận.
– Dạ thưa ông, ông đối xử quá đặc biệt với chúng tôi. Rất khó tìm ra người thứ hai. Xin chân thành cảm tạ ông. Dù gì hai tuần nữa chúng tôi sẽ nghỉ việc.
– OK, chúc may mắn!

Quả quyết là thế, nhưng khi ra khỏi văn phòng lòng hắn bâng khuâng, xao xuyến quá chừng. Một tương lai bất định đang chờ đợi anh em hắn phía trước. Hắn chưa tìm ra cầu trả lời đơn giản nhất, “Về phố rồi sẽ ở đâu, làm gì?” Hắn không dám thông báo cho bà già bão trợ, chỉ nói cho Phát biết. Thằng bạn cũng lơ tơ mơ không thua gì hắn ngoài câu xúi giục, “…thì mầy cứ về tới nơi rồi tính.” Nó làm như anh em hắn về ở nhà nó luôn không bằng, trong khi nó đang ở housing của thành phố chỉ đủ chỗ cho hai vợ chồng và đứa con gái nhỏ tá túc.

Những ngày kế tiếp anh em hắn thu xếp đồ đạt cho vào thùng. Thật ra cũng chẳng có gì nhiều ngoài những bộ quần áo cũ và một ít vật dụng hàng ngày đựng đầy cốp xe.

Tuần lễ kế tiếp, ông Quản Đốc gọi hắn vào văn phòng, đề nghị là ông ấy bán rẻ cho anh em hắn chiếc xe cũ mà họ vẫn cho hắn mượn chạy mỗi ngày với giá tượng trưng để làm phương tiện. Ông nói chỉ lấy giá tượng trưng thôi vì biết anh em hắn không có bao nhiêu tiền. Hắn chỉ cần trả $500 và hãng sẽ giúp sang tên giấy tờ tại chỗ (vì họ là hãng mua bán xe nên không khó khăn gì mấy.) Họ cũng bao luôn tiền bảo hiểm xe 6 tháng. Hắn mừng ơi là mừng. Chiếc xe hơi đầu đời mà hắn được làm chủ. Hắn hết lời cám ơn tấm lòng nhân ái của họ.

Trong lúc nghỉ trưa, hắn biểu hai em ngồi lên xe chạy một vòng nông trại và nói sự tình cho chúng biết. Ôi! Anh em hắn mừng quá là mừng. Chú lớn phát ngôn:
– Vậy là mình có sẵn phương tiện chạy xe về phố tìm việc rồi anh Tư héng?
– Mấy hôm nay tụi em lo quá, không biết anh Tư tính sao mà lặng yên. Chú nhỏ nói vào.

Hắn cười toe:
– Chưa tính được thì đâu có gì để nói!

Những ngày còn lại, vừa làm việc vừa thăm dò nơi ăn chốn ở sắp tới; thế nhưng tới ngày Thứ Sáu cuối cùng vẫn chưa thấy ánh sáng… Dù vậy, trong thâm tâm vẫn tin tưởng thế nào cũng có phương cách giải quyết, vì từ lúc rời trại tỵ nạn tới giờ toàn gặp những người tốt bụng luôn sẵn lòng giúp đỡ. Từ ấy đến nay mọi việc vẫn được suôn sẻ.

 

Buổi trưa ông Quản Đốc gọi anh em hắn vào văn phòng để chào từ biệt. Ông hỏi mấy anh em có thay đổi ý định không. Hắn xác định với ông ta hôm nay là ngày cuối cùng, mọi việc xếp đặt xong hết rồi, mai sẽ lên đường. Ông bùi ngùi nói lời chia tay và cầu chúc mọi việc may mắn. Ông cho ba anh em về sớm để sửa soạn; đưa chi phiếu tiền lương cuối cùng, tặng thêm mỗi người $100 tiền mặt để làm lộ phí, bắt tay nồng nhiệt và chúc may mắn. Trước khi kịp quay đi, ông lặp lại câu đề nghị, “Anh em muốn trở lại làm việc bất cứ lúc nào.” Anh em hắn cảm động đến ứa nước mắt trước tấm lòng cao thượng của họ. Ba anh em làm việc cật lực ngày 8 tiếng và mỗi tuần lãnh về chỉ có hơn một trăm, vậy mà được tặng tới $300 sau khi vừa bán vừa cho chiếc xe khá tốt, trả luôn bảo hiểm… không cảm động sao được!

Anh em hắn chào tất cả mọi người. Ai cũng bùi ngùi nói lời từ biệt và chúc lành. Hắn lái xe ra về, trực nghĩ đến David – người bạn Mễ mới quen vài tháng qua là công nhân viên của sở thất nghiệp Pearsall đã giúp anh em hắn tìm được công việc nầy khi vừa nghỉ việc nông trại. Cũng là người tìm giúp anh em hắn tìm được nơi cư trú hôm nay; biết anh em hắn thích đàn hát nên cho mượn chiếc đàn guitar làm phương tiện giải trí. Và khi vô làm mới biết công việc hãng không cần phải mướn thêm người làm, chỉ là sau khi nghe hoàn cảnh của anh em hắn nên đồng ý mướn với lương tối thiểu chỉ để làm việc lặt vặt mà cũng không hỏi gì thêm.

Về tới nhà, hắn bỗng nảy ra quyết định đi ngay hôm nay thay vì sáng mai như dự định. Hai chú em nghe thế vui ra mặt, đồng ý liền. Hắn qua mượn điện thoại ông chủ nhà gọi cho David biết rằng anh em hắn sẽ đến từ giã về phố. David rất bất ngờ, im lặng một lúc mới hỏi:

– Tụi mầy không đùa với tao đấy chứ?
– Chuyện quan trọng mà đùa sao được David. Hắn trả lời.
– Vậy mầy lo cách nào để có thể thuê nhà dưới phố? Rồi việc làm nữa?
– Để tao tới đó gặp nhau rồi nói chuyện thêm.

Anh em hắn khuân đồ đạc chất vào xe, mang theo chiếc đàn trả cho David, rồi qua từ biệt ông bà chủ nhà, trả chìa khoá. Ông bà cũng giật mình hỏi sao đã nói sáng mai mới lên đường? Hắn nói được cho về sớm nên đi luôn cũng tiện. Lưu luyến cám ơn và chia tay ông bà. Ông bảo chờ ông một chút, xong đi tới bàn viết hý hoáy viết trên một mẩu giấy nhỏ rồi trở lại đưa cho hắn với lời dặn:

– Đây là tên, địa chỉ và điện thoại nhà của gia đình con trai chúng tôi ở Houston, là gia đình mà các cháu đã gặp mấy tuần trước đó. Chúng nó cũng nói tốt về các cháu sau lần gặp gỡ đó. Về Houston nếu có cơ hội cứ tới thăm chúng nó. Chúng tôi sẽ báo trước.

Cầm tờ địa chỉ trong tay, hắn bỗng thấy hình bóng của cô bé Deana hiện đầy trong nỗi nhớ:

– Cám ơn ông bà, tôi sẽ thăm họ khi có cơ hội. Ông bà giữ gìn sức khoẻ. Chúng tôi xin tạm biệt. Nếu có lần trở lại nơi đây nhất định sẽ đến thăm ông bà.

Anh em hắn bước ra khỏi nhà, nhìn thêm lần cuối nơi đã dung dưỡng anh em hắn mấy tháng qua; lòng buồn buồn nhìn những cụm hoa cúc trước sân mà anh em hắn giúp bà cụ săn sóc mỗi chiều đi làm về nay đã đầy nụ vàng chuẩn bị rực rỡ vài tuần nữa đón mùa thu mới. Họ lên xe chạy tới sở thất nghiệp. Tới nơi đã thấy David đứng chờ trước cửa. Thấy chú em cầm chiếc đàn đi tới, David khoát tay lia lịa, “Tụi mầy giữ lại đi, quà tặng của tao cho anh em mầy đấy. Giữ làm kỷ niệm.” Thấy David có vẻ dứt khoát, hắn cám ơn và bảo chú em mang đàn trở lại để vào xe. Hắn nói thật với David về hoàn cảnh hiện tại. David giật mình, ngó hắn chăm chăm, “Mầy thật là điên! Tao không nghĩ ai điên hơn mầy với quyết định như vậy.”

– Tao biết – Hắn gãi đầu nói tiếp – nhưng hai đứa em tao nó không thích nghi được với cuộc sống nầy và tao có bổn phận phải thay cha mẹ tao lo cho chúng nó. Tụi tao đã quyết định phải đi thôi.

David lắc đầu lia lịa:
– Tao chưa thấy ai liều lĩnh hơn chúng mầy. Đành vậy, vào văn phòng, tao viết cho mầy một thư giới thiệu với sở thất nghiệp ở San Antonio.

David vừa nói vừa ngồi vào bàn giấy gõ máy chữ lọc cọc. Trong khi đó hắn bảo hai chú em ra ngoài đợi. Ngồi ngó nó chăm chú làm việc với cái mặt buồn thiu lòng hắn cũng nặng trĩu một nỗi buồn và cảm động. Khoảng 5 phút sau, David đưa hắn một phong bì và dặn đi dặn lại.

– Sáng Thứ Hai chúng mầy đến ngay văn phòng ở địa chỉ trong thư và trao thư nầy cho ông Robertson, giám đốc của sở. Tao chắc ông ta sẽ tìm được việc cho anh em mầy ngay. Thôi tụi mầy đi ngay đi kẻo tối. Nhưng tối nay mầy có chỗ ở rồi chứ?

– Có lẽ về ngủ tạm với bạn tao rồi Thứ Hai sẽ xoay trở.

Nói xong hắn mới sực nhớ là mấy hôm nay chưa gọi cho Phát xác nhận ngày về. Hắn mượn điện thoại trên bàn David gọi.

Điện thoại reng rất lâu mà không thấy ai bắt. David ngó thẳng vào mặt hắn khi hắn buông điện thoại:
– Không ai trả lời thì mầy tính sao?
– Chắc nó loanh quanh đâu đó. Tao đã nói nó mấy tuần trước rồi. Thôi tụi tao vọt nha. Tao sẽ tìm cách liên lạc nó sau.

David với vẻ mặt buồn xo, lắc đầu chán nản:
– Trong đời tao chưa từng biết có người liều lĩnh như chúng mầy đây! Chúc may mắn.

Khoảng đường gần 60 dặm nhưng vì là chiều Thứ Sáu nên trên đường có lắm xe qua lại. Phải mất hơn hai tiếng mới về tới nhà Phát. Nhà cửa vắng tanh. Gõ cửa hồi lâu không thấy tăm dạng. Hắn nghĩ có lẽ Phát không biết anh em hắn về chiều nay nên đi chơi đâu rồi. Lỗi của hắn thì đâu có trách ai được. Kiên nhẫn chờ thêm một tiếng cũng chẳng thấy ai trong khi hoàng hôn đã bao phủ chung quanh. Nhìn hai chú em co ro vì hơi lạnh hắn cảm thấy xót ruột quá chừng, chắc phải tìm chỗ trọ qua đêm. Chưa biết hỏi thăm ai, chợt thấy chiếc xe cảnh sát sắp đi ngang, trong đầu hắn bỗng loé lên hình ảnh anh cảnh sát công lộ lần chạy quá tốc độ tháng trước… Cảm tình đó khiến hắn giơ tay ra dấu chặn xe lại. Đợi xe tấp vào lề, hắn đến bên cửa nói:

– Chào anh cảnh sát. Anh em chúng tôi là dân tỵ nạn Việt Nam, vừa ở Pearsall về không rành đường sá ở đây, tính tới ở tạm với người bạn qua đêm mà họ không có ở nhà. Bây giờ chưa biết làm sao, anh giúp chỉ giùm quán trọ nào rẻ tiền, an toàn gần đây để ngủ qua đêm được chứ?

Thấy anh cảnh sát nhướng mắt có vẻ ngạc nhiên. Ông ta bước xuống lề:
– Ồ, các anh là người Việt tỵ nạn huh? Tôi tên Jack, cựu Thuỷ Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, từng đóng ở Khe Sanh từ ’70 tới ‘72. Rất vui gặp lại người Việt.

– Oh! Hân hạnh gặp anh, tôi là T., hai em của tôi tên B. và C. Tôi cũng là cựu phi công KQVNCH, chạy thoát khỏi VN cuối ngày 29 tháng Tư. Tôi và nhân dân Miền Nam chân thành cảm tạ anh, cảm tạ những quân nhân Hoa Kỳ đã hy sinh cho lý tưởng tự do trên quê hương đất nước khốn khó của chúng tôi.

Anh cảnh sát thân thiện đưa tay ra bắt cả ba anh em hắn rồi quay qua hỏi hắn:
– Bộ anh không liên lạc trước với bạn sao mà về không gặp?
– Tiếc là tôi quên xác nhận ngày về với nó, mãi tới sáng nay mới nhớ thì gọi không gặp. Tôi tưởng nó không đi đâu nên nghĩ về cũng sẽ gặp. Ai ngờ!
– Các anh cần chỗ ngủ tối nay phải không? Được rồi, tôi có đề nghị như vầy nhưng anh đừng nghĩ tôi xúc phạm các anh nghen.
– Anh nói đi!
– Tôi biết các anh mới đến chắc không có nhiều tiền, anh chạy xe theo tôi. Tôi đưa các anh tới một chỗ tôi quen biết để ở đỡ tối nay mà không phải tốn tiền.
– …
– Rất tiếc tôi phải đi tuần suốt đêm nay nên không trực tiếp giúp các bạn được; tuy nhiên, tôi biết có một chỗ tử tế cho các bạn trú ngụ qua đêm.

Hắn không biết Jack sẽ đưa đi đâu nhưng có lòng tin vào anh cảnh sát. Có được chỗ trú ngụ qua đêm là ổn rồi. Mai tính tiếp.

– Tôi tin lời và cám ơn anh rất nhiều. Tôi sẽ chạy theo xe anh.

Jack móc túi đưa cho hắn tấm danh thiếp, dặn nếu gặp khó khăn gì gọi cho anh ấy, rồi lên xe chạy dẫn đường. Chạy quanh quẹo khoảng 15 phút đến một nơi, thấy trước cửa có nhiều người sắp hàng. Jack đậu xe, ra hiệu cho anh em hắn đợi trong xe, rồi anh đi thẳng vào văn phòng. Một lúc, anh ra ngoắt tay ra hiệu anh em hắn đi vào. Jack đưa anh em tới trước mặt một người đứng tuổi rồi giới thiệu:

– Đây là ông Tom, quản lý khu nhà tạm trú nầy. Ông ấy sẽ giúp ba anh em có chỗ ở tối nay.

Ông Tom đưa tay ra bắt tay ba anh em hắn:

– Chào đón các bạn. Tôi nghe ông Jack nói hoàn cảnh của các bạn rồi. Ở đây là khu tập thể của những người vô gia cư ngủ qua đêm. Tôi sẽ lo chỗ ngủ cho các bạn đêm nay. Yên tâm nhé. Nhớ là 6g sáng thì mọi người đều phải thức dậy, dọn dẹp sách sẽ chung quanh chỗ nằm của mình, đến phòng ăn lãnh phần ăn sáng xong là rời khỏi đây.

Nghe ba chữ “vô gia cư” hắn mủi lòng muốn trào nước mắt. Nhưng Jack ngó hắn gật đầu:
– Ở đây dù là nơi ngủ qua đêm của những người vô gia cư nhưng tôi biết chưa từng xảy ra việc gì đáng tiếc. Ông Tom là một người rất tử tế, đối xử đồng đều với tất cả mọi người. Tin tôi đi, nếu không an toàn tôi đã không mang các anh đến đây. Bây giờ tôi phải đi làm việc, chúc may mắn. Gọi tôi bất cứ lúc nào anh cần.

– Cám ơn Jack. Chúng tôi sẽ ngủ tạm đêm nay ở đây.

Sau khi chia tay với Jack. Ông Tom biểu ba anh em theo ông ta vào khu nhà ngủ. Ông chỉ một chiếc giường tầng và tầng dưới một giường bên cạnh trông cũng tươm tất:

– Ba anh em tạm nghỉ chỗ đó, tôi sẽ mang thêm mền gối sạch tới. Yên tâm, ở đây rất an ninh, dù vậy nên giữ đồ riêng tư cẩn thận. À mà ba anh em ăn tối chưa?

Hắn ngập ngừng nói:
– Dạ chưa có cơ hội.
– Ăn Pizza nhé?
– Dạ vâng!

Ông Tom quay đi, anh em hắn tới giường ngồi nhìn nhau buồn bã, cười gượng gạo. Hai chú em từ đầu đến cuối không nói một câu nào, cứ tò tò đi theo làm theo. Hai chú đứa 17, đứa 19 mà vô tư như trẻ thơ. Có lẽ ở đất lạ quê người, ngôn ngữ không thông thạo nên hành xử như vậy chứ ở VN lanh hết biết. Chú lớn bây giờ mới mở miệng:

– Đúng mà! Anh em mình đúng là vô gia cư!
Ông Tom trở lại với mền gối và một hộp Pizza lớn với 3 chai nước lạnh.

– Dùng tối đi rồi đi ngủ. 6g sáng thức dậy tới phòng ăn lấy phần ăn sáng trước khi rời khỏi đây nhé. Vâng ai cũng phải rời đây 6g chứ không riêng gì các bạn.

– Cám ơn ông Tom rất nhiều. Chúng tôi may mắn được chỗ ngủ tối nay nên mừng lắm.

Ông Tom quay lưng chúc ngủ ngon. Còn lại anh em hắn cố nuốt pizza mà nuốt không vô. Chú nhỏ nói với giọng sũng nước mắt:

– Không biết Ba Mẹ và anh chị em bây giờ ra sao!
– Để từ từ ổn định rồi anh sẽ tìm hỏi. Hắn an ủi.

Một đêm ngủ đầy mộng mỵ. Ngủ ít mà lo toan cho ngày mai thì nhiều. Chú nhỏ có lẽ nỗi nhớ nhà luôn đè nặng tâm tư nên đêm ngủ thấy mấy lần khóc gọi mẹ ơi! Hắn cũng ứa nước mắt nhớ nhà nhưng vì là anh lớn nên phải luôn chứng tỏ bình thản với hiện tại. Giấc ngủ chập chờn đến rạng đông, thấy mọi người chung quanh xôn xao gọi nhau thức dậy. Hắn không có đồng hồ nhưng chắc đã đến giờ phải rời khỏi đây. Gọi hai chú nhỏ uể oải lầu bầu nhưng cũng phải thức dậy, xếp giường gối ngay ngắn, tìm nơi làm vệ sinh xong đến văn phòng chào từ giã ông Tom. Ông Tom biểu lấy thức ăn sáng trước khi đi nhưng hắn nói lời cám ơn và từ biệt. Ông Tom chúc may mắn rồi dặn thêm:

– Nếu tối nay các bạn còn cần chỗ ngủ cứ trở lại.
– Cám ơn ông, chúng tôi hy vọng người bạn trở về nhà hôm nay, nếu vẫn không tìm được chỗ ngủ thì chắc sẽ đến nhờ ông giúp nữa.

Ba anh em lên xe, nhắm hướng nhà Phát chạy tới.

Nhà Phát vẫn đóng cửa im lìm. Chắc là dịp cuối tuần nên nó đưa vợ con đi chơi đâu đó rồi. Anh em hắn chạy vòng vòng tìm một quán ăn nhỏ ăn sáng rồi ngồi đồng gần hơn tiếng đồng hồ. Cuối cùng vẫn không biết làm sao, bàn tính với nhau chạy về thăm bà già bão trợ rồi tính sau. Dặn với nhau đừng nói gì với bà về tình cảnh hiện tại.

Bà Perrin mừng đón. Bà nói thằng John – con trai bà – vừa đi thăm nông trại, có lẽ chiều mới về. Vào nhà ngồi chơi, bà hỏi thăm “việc ăn ở hiện tại ra sao, công việc nông trại chắc chắn là vất vả lắm.” Bà tỏ vẻ hối tiếc là không thể giúp gì hơn được. Bà hỏi đủ thứ chuyện nhưng anh em hắn cố ậm ừ cho qua; vậy mà bà nói, “Mới có mấy tháng mà hai thanh niên nầy đã nói và hiểu được khá nhiều tiếng Mỹ rồi đó.” Bà có biết đâu từ ngày rời vòng tay cưu mang của bà để theo ông chủ nông trại về làm ruộng rẫy, rồi mưa nắng chịu không nổi phải bỏ việc qua làm cho hãng mua bán xe khá lớn trong vùng. Rồi bây giờ đang làm một việc liều lĩnh gần như điên rồ mà dẫu bà có nằm mơ cũng không thể tưởng tượng nỗi. Trong câu chuyện, bà khuyên anh em cố gắng làm việc chăm chỉ, để dành thêm ít tiền, nên tính chuyện đầu năm tới trở lại phố lo việc học hành. Anh em hắn cố tỏ ra vui vẻ cho bà yên lòng; hắn khoe với bà đã mua được chiếc xe với giá rẻ mạt. Bà hơi bất ngờ nghe giá mua, gật đầu, cảm tạ Chúa, tấm tắc khen người tốt.

Nói chuyện được một lúc lâu, hắn nói với bà là hôm nay về thăm bà và John nhưng rất tiếc John không có ở nhà. Buổi trưa anh em hắn muốn mời bà dùng bữa ở một nhà hàng nào bà ưa thích nhất. Bà không chịu đi nếu không để bà trả tiền. Hắn cũng không muốn bà phải tốn kém thêm trong khi bà sống với đồng lương hưu ít ỏi. Hắn xin phép cho anh em qua thăm ông bà Johnson, ông bà hàng xóm tốt bụng – người đã mua cho anh em hắn bộ nồi niêu soong chão rồi đánh xe đưa anh em hắn tới nông trại dạo nọ.

Nhà ông bà Johnson chỉ cách bà Perrin mấy căn, anh em vừa đi bộ vừa dặn nhau đừng tiết lộ hoàn cảnh mình cho ông ấy biết. Ông bà Johnson cũng vui mừng chào đón, nhất là ông. Ông tỏ vẻ đặc biệt quan tâm đến đời sống hiện tại của anh em hắn. Thấy người ta ai cũng quan tâm đến mình, lòng hắn vô cùng xúc động nên chỉ muốn cho họ yên lòng, đành phải giấu biến chuyện riêng tư. Hắn chỉ nói nhân cuối tuần chạy về thăm bà Perrin, thăm ông bà rồi trở lại.

Từ giã ông bà Johnson và bà Perrin, hắn đề nghị với hai chú em, đi chợ mua bánh mì, thịt, và nước uống rồi ra ngoài công viên ăn trưa, đi dạo, chờ Phát về. Dù sao cũng yên tâm chỗ ngủ tối nay nếu Phát đi chơi chưa về tới. Hắn cố gắng làm tỉnh để hai chú nhỏ yên tâm.

Không bao lâu đã tới 5g chiều. Ba anh em chạy tới nhà Phát gõ cửa. Vẫn không thấy tăm hơi gì cả. Hắn nghĩ dù Phát có đi đâu thì tối Chủ Nhật cũng sẽ về để hôm sau còn đi làm. Hắn quyết định anh em phải trở lại chốn “vô gia cư” thêm một đêm nữa.

Ông Tom vui đón anh em hắn trở lại. Cũng như chiều hôm qua, ông ân cần chỉ chỗ ngủ, mền gối và nhắc lại quy định. Cũng đề nghị cho ăn tối, nhưng anh em hắn nói đã ăn rồi, chỉ xin ba chai nước và nói chắc rằng, chiều mai thì bạn hắn nhất định sẽ về.

Trằn trọc mãi đến gần sáng, chợp mắt được một lúc thì mọi người đã lao xao thức dậy. Và cũng như hôm qua, anh em hắn nói lời tạ từ với ông Tom sau khi vệ sinh cá nhân. Hắn chạy thẳng tới chợ mua cà phê và bánh ngọt, và những thức cần dùng cho nguyên ngày rồi anh em trở lại công viên ăn sáng và tìm băng ghế nằm ngủ gà ngủ gật. Hai chú em hỏi nếu anh chị Phát không về hôm nay thì mình làm sao. Hắn tỉnh bơ nói, “Chắc thế nào anh chị cũng về để mai còn đi làm chứ. Trong trường hợp không về thì mình lại… “vô gia cư!” Ba anh em cùng cười méo xẹo sau câu nói nửa đùa nửa thật của hắn.

4g chiều chạy tới nhà Phát. Vũ như cẩn là vẫn như cũ”, cửa đóng then cài. Ba anh em ngồi trong xe trước nhà chờ đợi…

Đang ngon giấc thì choàng tỉnh vì tiếng đập cửa. Mở mắt ra thấy Phát đứng đó. Mừng ơi là mừng. Hai chú em nhảy xuống xe ôm chầm ông anh bạn.
– Sao mấy anh em về mà không báo trước? Phát ngó hắn hỏi.
– Tao đâu có biết mầy đi chơi nơi khác!
– Về từ lúc nào mà ngủ ở đây?
– Về từ chiều Thứ Sáu…
– Ôi trời ơi! Rồi tụi mầy ở đâu mấy hôm nay?
– Ôi chuyện dài, vào nhà rồi kể.

Khi mọi người an vị, hắn kể đầu đuôi, vợ Phát ngồi khóc ngon lành. Hắn xin ngủ nhờ, ngày mai chắc mọi việc rồi sẽ ổn.

Sau cùng Phát nói:
– Thôi được rồi, đừng lo lắng nữa. Anh em đùm bọc với nhau. Tụi mầy yên tâm ở tạm với gia đình tao. Nhà có hai phòng, anh em mầy ở tạm phòng bé Thảo.

Nói xong hắn quay qua nói với vợ lo việc ăn tối. Lan, vợ Phát nói phở đã nấu sẵn, chỉ hâm nóng lại thôi. Lan đi vào bếp, Phát mở tủ lạnh mang ra bốn chai bia chia cho mỗi người. Hai chú em vui quá. Chú nhỏ vui với bé Thảo con gái của Phát, còn chú lớn theo hai anh ra ngoài hiên uống bia, hút thuốc bàn chuyện sắp tới…

Ôi chai bia thật ngọt ngào, điếu thuốc cũng rất thơm tho. Lòng hắn ấm lại, bồi hồi giống như cảm giác ngày xưa sau mỗi lần xung trận trở về căn cứ. Phát luôn miệng nói, “Cứ bình tâm mà ngủ cho lại sức. Trời sanh trời dưỡng, hy vọng mọi chuyện sẽ tốt đẹp.” Được một lúc thì Lan gọi vào ăn tối. Lan ngồi nhìn mấy anh em ăn uống ngon lành mà cứ ứa nước mắt. Sau khi ăn uống no nê, anh em hắn ngồi nói chuyện thêm một lúc rồi đi ngủ sớm. Nằm xuống không bao lâu thì cả ba đã mau chóng chìm sâu vào giấc ngủ – một giấc ngủ thật bình an và phó mặc.

7g sáng hôm sau, Phát dậy đi làm. Anh em hắn cũng dậy theo. Sau khi cà phê thuốc lá Phát rời nhà. Anh em hắn chuẩn bị tinh thần một lúc rồi lên xe chạy tới sở thất nghiệp theo địa chỉ của David cho.

Khi cửa mở, hắn vào xin gặp ông Robertson. Cô thư ký biểu anh em hắn ngồi đợi. Khoảng nửa tiếng sau cô ta mời anh em hắn vào phòng. Hắn chào hỏi và trình thư của David. Thấy ông Robertson vừa đọc thư vừa chau mày liếc nhìn hắn. Thêm vài phút nữa, ông đặt thư xuống bàn giấy rồi ngẩng mặt hỏi hắn:
– Mấy hôm nay các anh ổn chứ?

Hắn nghĩ phải nói thiệt hoàn cảnh hiện tại để may ra ông ta tìm cách giúp nhanh chóng hơn.
– Thưa ông, chúng tôi về tới San Antonio chiều tối Thứ Sáu gặp lúc gia đình người bạn duy nhất đi vắng nên chúng tôi đã phải ngủ tạm hai đêm tại trung tâm vô gia cư. Đêm qua ngủ nhà bạn nhưng nhà chỉ có hai phòng nhỏ cho ba người, chắc không thể ở lâu được. Chúng tôi hy vọng ông giúp được việc làm ngay để tìm cách thuê nhà ở.
Nghe xong ông “kêu trời” (Oh my God”):

– Theo David nói các bạn đã làm nông trại, chịu không nổi nghỉ, xin làm cho hãng mua bán xe hơi, tổng cộng hơn 3 tháng và không có kinh nghiệm gì khác. Vậy thì tôi biết kiếm việc gì cho bạn đây?

Hắn sôi nổi nói:
– Dạ thưa ông, cá nhân tôi đã học bay nhiều loại máy bay khác nhau mà không gặp trở ngại nào, bây giờ ông kiếm được việc gì tôi cũng có thể làm và bảo đảm học hỏi mau chóng.

– Tôi cũng tin như thế. Tôi có nhiều bạn bè tham chiến ở VN về, giải ngũ tìm việc cao lương cũng rất khó khăn. Rất tiếc tôi không thể tìm việc bay bổng cho bạn được mà chỉ có thể tìm cho các bạn những việc chân tay, lương thấp vì không kinh nghiệm.

– Vâng được, miễn lo được chỗ ăn chỗ ở tốt rồi chúng tôi sẽ tìm cách tiến thân sau.

– Ừ nhỉ! Lại tứ cố vô thân, không có chỗ ở nữa!

Nghe nhắc tới chỗ đau hắn xụ mặt nói không nên lời. Ông Rabertson ngó anh em hắn một lúc rồi nói:

– Bây giờ thì các bạn ra phòng ngoài đợi tôi một lúc. Để tôi gọi điện thoại một vài nơi xem sao. Tôi rất thông cảm hoàn cảnh các bạn. Tin tôi đi, tôi sẽ cố gắng.

Ngồi chờ cả tiếng đồng hồ sốt ruột quá chừng. Hai chú em hết đi loanh quanh lại ngồi xuống than:

– Lâu như vậy không biết ông ta có giúp được anh em mình không nữa!

Hắn giả vờ vững lòng tin:
– Lâu như vậy chắc là sắp có tin tốt.

Đợi thêm một lúc nữa thì được cô thư ký mời anh em hắn trở lại phòng ông Robertson. Thấy ông vẫn đang cười nói với ai đó qua điện thoại. Chỉ nghe ông nói “Tuyệt vời” rồi gác điện thoại, ngả lưng vào ghế với nụ cười rất tươi:

– Ơi những người bạn trẻ của tôi, thật là may mắn, Chúa đã giúp các bạn. Chuyện của các bạn coi như đã giải quyết xong! Chúc mừng!

Nghe và thấy phản ứng của ông Robertson, anh em hắn cũng vui mừng ra mặt. Chưa kịp nói gì thì nghe ông ấy tiếp.

– Tôi nghĩ đây là tin rất vui. Ngay hôm nay, anh em bạn có thể dọn vào một căn chung cư 2 phòng ngủ trong khu chung cư thuộc thành phố, ngay đường Durango sát phố nên rất tiện cho mọi sinh hoạt; giá thuê $125/tháng bao luôn điện nước. Bất cứ ngày nào ổn định chỗ ăn ở, ba anh em được mướn phụ việc sửa chữa trong khu chung cư nầy. Ngày làm 8 tiếng. Trả lương mỗi hai tuần. Vì không ai có kinh nghiệm nên sẽ bắt đầu với số lương tối thiểu, sau sáu tháng làm việc, người ta sẽ xem xét lại. Các bạn nghĩ sao?

– Chúng tôi vô cùng biết ơn ông Robertson. Thật bất ngờ ông có thể giúp chúng tôi mọi thứ cùng lúc như vậy. Chúng tôi hứa sẽ cố gắng hết sức để không phụ lòng ông.

– Bạn cầm danh thiếp của tôi tới gặp ông Lucas Wright trước buổi trưa. Cứ đưa danh thiếp tự khắc ông ta biết sẽ làm gì. Còn nữa. Làm cho thành phố 8 tiếng một ngày, các bạn sẽ có dư giờ để ghi tên đi học vào buổi tối trong mùa xuân tới. Tôi tin các bạn sẽ thành công.

Từ biệt ông Robertson, anh em hắn đi ngay qua khu housing. Gặp ông Wright và mọi thứ suôn sẻ giống như lời ông Robertson đã nói.

– Chào các bạn, tôi đã nói chuyện nhiều với ông Robertson về trường hợp các cậu. Tôi rất vui giúp được các cậu ổn định cuộc sống. Làm việc với chúng tôi dù lương thấp nhưng cũng được thành phố tài trợ phần nào chi phí nhà ở và điện nước. Các cậu có thể dọn vào ngay hôm nay, tôi sẽ nói chuyện với Doug và hắn sẽ là người hướng dẫn mọi việc cần thiết cho các cậu từ lúc nầy. Doug là Giám thị của đội sửa chữa vì vậy các cậu sẽ làm việc theo sự chỉ dẫn của hắn. Các cậu sẽ học hỏi rất nhiều điều hay ở Doug. Đừng bận tâm gì cả. Chúc mừng!

Nói xong ông gọi thư ký bảo giúp anh em hắn điền và ký vào những giấy tờ cần thiết. Ông cũng bảo thư ký liên lạc gọi Doug về văn phòng gặp ông ta.

Khoảng nửa tiếng sau, Doug ra khỏi văn phòng ông Wright, đến bắt tay và tự giới thiệu với anh em hắn. Bảo anh em theo hắn về phòng trọ.

Phòng trọ chỉ cách văn phòng chính khoảng 5 phút lái xe. Đến nơi, Doug đưa anh em hắn lên lầu hai của một khu chung cư, mở cửa và giới thiệu căn phòng. Nhà trống trơn, thảm mới thay. Mùi sơn mới còn nồng nặc. Tủ lạnh đang chạy nhưng chẳng có gì bên trong. Tất cả cửa sổ đều mở toang như để cho mùi nước sơn bay ra. Điện nước đã có đầy đủ. Doug giao chìa khoá với lời dặn:

– Đây là phòng trọ của các bạn. Bây giờ tôi trở lại làm việc, sẵn xem trong các kho chứa tìm giường nệm cũ còn tốt sẽ mang lại biếu các bạn. Các bạn tìm mua chăn mền gối để dùng. Mùa lạnh sắp đến rồi đấy. Và khi nào các bạn sẵn sàng đi làm thì lên văn phòng thông báo, họ sẽ gọi cho tôi và tôi sẽ đến đó hướng dẫn các bạn đến nơi làm việc. Làm việc cũng chỉ vòng vòng mấy khu chung cư nầy thôi, tổng số khoảng một ngàn căn và một đội ngũ sửa chữa thêm các bạn nữa là 30 người. Làm việc tương đối khoẻ chứ không quá sức các bạn đâu.

– Vậy thì sáng ngày mai chúng tôi có thể đi làm được rồi. Gia sản chúng tôi nằm hết trong cốp xe nên sẽ chẳng tốn bao nhiêu thì giờ để dọn. Có lẽ chỉ nội trong ngày nay chúng tôi sẽ đi chợ mua được hết những đồ gia dụng cần thiết. Sáng mai 7:45AM, ông đến đây rồi chúng tôi chạy theo ông tới chỗ làm.

– Vậy thì tốt thôi. Tôi sẽ báo văn phòng biết để làm sổ lương cho các bạn. Hẹn sáng mai đi làm nhé. Trễ nhất 8g tôi có mặt dưới bãi đậu xe.

Doug rời đi và ba anh em hắn vui sướng, nằm lăn trên thảm giữa nhà, nhìn nhau như không tin mọi chuyện lại có thể dễ dàng đến như vậy. Từ lúc bất thình lình rời Pearsall đến giờ toàn gặp người tốt bũng. Hắn nghĩ có lẽ thân phận tỵ nạn VN và cái mác “cựu phi công” đã giúp hắn tìm gặp được sự cảm thông sâu xa của những tấm lòng nhân ái. Dù muốn dù không thì số phận “vô gia cư” của anh em hắn cũng đã tạm chấm dứt từ lúc nầy; lại có công việc làm rất thích hợp cho cả ba anh em cùng lúc. Hắn thầm cảm tạ Trời Phật đã phò hộ cho anh em hắn vượt qua những khó khăn tưởng rằng khó để vượt qua.

Anh em hắn vừa sắp xếp đồ đạc xong thì thấy Doug và hai người giúp việc khiêng lên phòng hai khung giường và hai bộ nệm cũ nhưng không tệ lắm. Xong họ từ giã ra đi. Doug lặp lại, “Sáng mai 8g nhé.”

Thời gian còn lại trong ngày, anh em hắn vui vẻ đi mua sắm những vật dụng cần thiết, đi chợ mua một ít thức ăn cho những ngày sắp tới, kể cả một thùng bia Texas Lone Star để ăn mừng. Chỉ 3 ngày thôi mà anh em hắn đã vượt qua một đoạn đường rất xa, rất khác biệt. Bây giờ thì gánh lo âu, niềm bất an đã thật sự được để xuống.

Buổi chiều liên lạc với Phát. Vợ chồng và bé Thảo qua, mọi người cùng nấu nướng, ăn uống với nhau trong niềm vui sum họp và đón chào cuộc đời mới của anh em hắn. /-

 

Yên Sơn

Ảnh minh họa

Một thuở homeless

 

Xem thêm...

Mùa Bí Đỏ

Mùa Bí Đỏ

Tôi quen biết Phương từ hồi còn ở Sài Gòn vào khoảng đầu năm 1972. Hai đứa xê xích nhau chừng một hai tuổi. Lúc ấy bạn mới vào học ở trường Luật, tôi sắp tốt nghiệp Quốc Gia Hành Chánh (QGHC) sẽ đi xa nên có ý nhờ bạn giúp mua dùm sách vở tài liệu gởi cho tôi để tiếp tục học cho xong bằng cử nhân Luật. Tánh Phương hiền lành ít nói nhưng rất năng nổ trong sinh hoạt của trường, luôn luôn tình nguyện làm những công việc chung của tập thể nên Phương rất được lòng mọi người. 

Sau đó một thời gian, đến năm 1975 thì chính quyền VNCH tan rã. Cán bộ miền Bắc vào tiếp quản trường và đổi tên trường Luật thành trường Kinh tế Tài chánh. Tôi đi tù cải tạo nên bặt tin từ đó. Sau nầy nghe nói Phương vẫn tiếp tục học và ra trường đi làm bình thường, được vài năm thì vượt biên tới đảo tị nạn ở Indonesia. 

Thế rồi thế sự xoay vần, vận mệnh đổi thay, hơn hai mươi năm sau, tôi đi định cư ở Mỹ và gặp lại Phương đang sinh sống ở Texas, vẫn thâm trầm ít nói, cả hai vợ chồng đều là kỹ sư làm việc trong cơ quan NASA Hoa Kỳ. Khi nghe kể lại thì tôi mới biết vợ Phương là hoa khôi cùng lớp ở trường Luật Sài Gòn trước đây. Vợ chồng Phương mời tôi về nhà chơi ở trong khu dành riêng cho nhân viên của cơ quan. Từ sau đó, thỉnh thoảng chúng tôi vẫn liên lạc qua điện thoại để hỏi thăm nhau. 

Calabaza Campo Agricultura - Foto gratis en Pixabay

Mãi cho đến lúc gần đây, khi có dịp sang Texas lần nữa, đi dự đám cưới con của một người bạn thân tôi mới có dịp gặp lại Phương. Lúc bấy giờ đứa con trai lớn của bạn đã là dược sĩ hiện đang đi làm ở CVS, đứa nhỏ đang theo học trường y khoa ở gần nhà. Gia đạo yên vui hạnh phúc, con cái thành đạt.

Sẵn dịp tôi còn ở lại Texas chơi một tuần lễ nên cả gia đình Phương hẹn ngày tổ chức một buổi đi chơi biển Galveston ở gần nhà, mất khoảng độ hơn hai tiếng lái xe. Sau khi dạo quanh các khu giải trí vui chơi cất dọc theo bờ kè trên bãi biển, mọi người rất vui vẻ và hào hứng cùng nhau lên phà ra công viên đảo (Island Park) gần bờ. Gió biển thổi phần phật dọc theo hành lang hai bên phà. Ráng chiều pha ánh màu loáng bạc trên những cánh chim đang bay lượn trên không. Cảnh quan trên đảo thật xinh tươi, màu xanh thiên nhiên bao phủ chạy dọc dài theo bờ biển đảo rất nên thơ. Tuyệt đẹp.

Autumn Pumpkin Wallpapers - Top Free Autumn Pumpkin Backgrounds -  WallpaperAccess

Đến chiều chạng vạng trên đường về, cả nhà ghé vào chợ hải sản của người Việt lựa mua hải sản còn tươi rói để chuẩn bị cho buổi tiệc tối đông đủ gia đình Phương. Ngồi trong xe do bạn lái, hai anh em tâm sự với nhau, hỏi han nhiều điều. Bất ngờ bạn cho biết là hiện nay, bên ngoài trông thấy vậy nhưng thật sự bên trong đang vướng rất nhiều bệnh, ngoài tiểu đường đáng lo nhất là thận của bạn hoạt động rất kém chỉ còn trên dưới 15%, do đó thời gian tới có thể sẽ phải nhập viện để chạy lọc thận vài ngày trong một tuần. Đang vui vẻ, nghe tới đó tôi bỗng dưng tưởng chừng như có động đất ở quanh đây.

– Thật vậy sao Phương?

– Bác sĩ xem hồ sơ thử nghiệm đã nói như vậy hồi tuần rồi.

– Bạn thử nghiệm mấy lần?

– Cả năm nay, mình đã thử nghiệm nhiều lần. Kết quả ngày càng tệ hơn.

Kể từ lúc đó cho đến suốt buổi tiệc đêm hôm sau cùng ở Texas tôi không tài nào vui nổi, nhất là khi nhìn thấy bạn vừa đứng luộc mực tươi, vừa đùa rằng khi nước sôi bùng lên thật mạnh, thả mực vào, nhanh chóng vớt ra ngay vì nếu để lâu mực sẽ dai không còn giòn. Dáng điệu bạn vẫn nhanh nhẹn, tháo vát như ngày nào.

Ngày chia tay, trước khi bước vào phòng cách ly tôi không biết phải nói gì với bạn. Tất cả đều là sáo ngữ, chỉ hơi rươm rướm nước mắt là điều thành thật nhất. Tôi xiết mạnh tay bạn rồi quay đi.

54,000+ Fall Pumpkin Pictures

Trên suốt chặng đường bay trở về Cali tôi thừ người nghĩ ngợi miên man.

Năm 1954 Phương theo gia đình từ Móng Cái, Quảng Ninh di cư vào Nam lúc mới lên hai tuổi. Ban đầu ở trại tạm cư Sông Mao, Phan Thiết, sau đó di dời đi nhiều nơi. Cuối cùng gia đình trụ lại ở Biên Hòa mở tiệm mua bán, làm ăn sinh sống cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975. Gia đình đông anh chị em nên cuộc sống rất nhiều thiếu thốn. Đi học ở Sài Gòn chỉ toàn là trú ngụ trong các ký túc xá dành cho sinh viên từ các tỉnh xa. Anh em đùm bọc nhau từ thuở ấy. Cho đến khi ra nước ngoài gia đình anh chị em cũng vẫn đoàn tụ hết về Texas. Tôi nhớ hoài câu nói sau cùng của bạn.

– Sau khi qua đời, tro cốt mình sẽ được đem chôn dưới chân mẹ mình.

Bạn kể lúc bà cụ qua đời được an táng trong một lô đất có hợp đồng là sau nầy khi con cái qua đời, nếu ai muốn đều được phép đem tro cốt về đây chôn quanh mộ bà cụ. Ra đi chuyến cuối cùng rồi mà cũng vẫn còn muốn đoàn tụ bên nhau.

Tôi về tới nhà độ chừng một tháng sau thì được tin bác sĩ chuyên khoa bắt đầu làm tiểu phẫu cho bạn để chuẩn bị tiến trình chạy máy lọc thận ba ngày một tuần. Không may, máu của bạn lại không được bình thường nên mỗi lần lọc là bạn bị mất máu nhiều nên rất mệt, do đó phải tiếp máu bổ sung sau mỗi lần lọc thận. Bác sĩ cho biết có thể không có khả năng để kéo dài. Giải pháp cuối cùng là phải thay ghép thận.

How To Make Pumpkins Last All Fall! Preserving Whole & Carved Pumpkin

Ban đầu, gia đình cũng có theo dõi và tìm hiểu nhiều người ở Mỹ cũng như ở Việt Nam đều gợi ý là nên đi Thái Lan hoặc về ngay Việt Nam để “lo liệu” bằng tiền hầu thực hiện ca ghép thận. Nhưng sau khi dò hỏi kỹ lưỡng thì mọi việc không dễ dàng như lời đồn đại và đôi khi còn mất tiền và mất luôn mạng sống vì không có khám nghiệm y khoa chính xác.

Tôi cũng có liên lạc với một người bạn đồng môn QGHC ở Nam Cali nhờ giúp đỡ. Trước đây, anh ấy có quen biết với những người ở Việt Nam chuyên tìm kiếm người hiến thận đem sang Mỹ giải phẫu ghép thận cho vợ anh và ca ghép thận đã thành công tốt đẹp. Sau khi nắm vững mọi thủ tục cần thiết về phương diện y khoa như xét nghiệm về loại máu, tuổi tác, nam hay nữ cũng như thiết lập hồ sơ chứng nhận cho cả hai bên của bệnh viện Mỹ và Việt Nam.

Kế đến, vấn đề khó khăn nhất là tìm người hiến thận, thử nghiệm xem có tương hợp (match) hay không. Sau đó mới đến thủ tục ngoại giao xin phép cho người hiến thận sang Mỹ. Thủ tục rườm rà và tiền bạc tương đối tốn kém. Anh cho biết hiện nay rất khó tìm người tương hợp và việc đi lại cũng không dễ dàng như trước. Tôi nói với anh bạn cứ tiến hành mọi việc cần thiết và anh đã đồng ý giúp.

Nhưng cuối cùng, Phương quyết định chính thức nộp đơn xin ghi danh sách chờ người hiến thận của bệnh viện. Trong khi chờ đợi, tất cả anh chị em trong gia đình đều xin đi thử nghiệm y khoa may ra xem có ai match hay không.  Rất tiếc, tất cả đều không đạt yêu cầu hiến thận cho Phương. Đành thôi.

Thế rồi vào một buổi sáng Tháng Mười, trời bắt đầu hơi se gió lạnh tôi ra chợ tìm mua một vài trái bí đỏ đem về trang trí cho ngày Halloween. Năm nay người đi sắm vắng hơn nhiều so với mấy năm trước. Chỉ làm cho có lệ vậy thôi, chứ hiện giờ ai cũng e ngại nạn dịch bệnh đang hoành hành. Không biết tình hình sẽ ra sao. Gần cả năm rồi. Mọi sinh hoạt bị đình trệ, khó khăn có thể thấy trước mắt nên sinh hoạt xã hội vẫn im lìm lìm. Còn đang loay quay chất bí đỏ lên xe thì tôi nhận được cú điện thoại từ bên Texas cho biết rằng Phương sắp sửa được giải phẩu ghép thận trong vòng tuần tới. Tôi suýt bật kêu lên thành tiếng. Phép lạ trong mùa bí đỏ chăng?

Tôi vội vàng lái xe về nhà, gọi ngay sang gia đình Phương để biết sự tình. Thật không ai ngờ. Gia đình đang trong hồi chờ đợi tuyệt vọng thì được bệnh viện cho biết Phương được lên lịch ghép thận trong thời gian tới vì đã có người hiến thận match với điều kiện của bạn.

May mắn đứa con nhỏ của Phương là sinh viên y khoa đang thực tập ở bệnh viện nên tìm hiểu được đầu đuôi câu chuyện như thế nầy, qua lời tường thuật của bác sĩ.

Có một bệnh nhân trẻ ở Texas bị suy thận nặng cũng đang trong tình trạng chờ đợi để được ghép thận thì người mẹ ruột ở Việt Nam xin làm thủ tục nhân đạo để sang Mỹ hiến thận cho con. Chờ đợi hơn hai tháng, cho đến khi bà đến nơi thì may mắn thay con bà đã gặp được người hiến thận “match” với điều kiện của nó và bệnh viện đã thực hiện ca giải phẩu thành công mỹ mãn. Thật là điều không ngờ và rồi bất ngờ hơn nữa khi bà mẹ lại quyết định hiến thận ngay cho bệnh viện dù không cần thiết vì con bà đã lành bệnh.

– Sao bà lại quyết định như vậy?

– Tôi chỉ muốn san sẻ sự may mắn nầy cho người khác. 

Thế là bác sĩ dò theo danh sách và Phương match với thận của người phụ nữ đáng quí nầy. Gia đình Phương không còn niềm vui nào hơn thế nữa trong mùa Lễ Tạ Ơn năm nay.

Thời gian gần hai tuần chờ đợi nôn nóng rồi cũng chóng qua và ca giải phẫu ghép thận của Phương thành công tốt đẹp.

Chiều nay, khi gia đình tôi đang theo thông lệ của Ba lúc sinh thời là mỗi khi trong nhà có tiệc vui hay kỷ niệm gì thì trước khi ăn uống đều tề tựu ở nhà trên, trước bàn thờ đọc kinh, cầu nguyện và làm dấu. Vừa xong, tôi nhận được điện thoại của gia đình Phương cho biết bạn đã xuất viện về nhà sau khi vết mổ đã lành và các thử nghiệm đều có kết quả tốt, thận của bạn hoạt động bình thường tăng lên gần 50% bằng với mức hồi năm 2013.

Tôi có hỏi thăm về tình trạng của người phụ nữ hiến thận cũng như sự thù tiếp của gia đình bạn như thế nào. Phương cho biết bà ấy đã từ chối mọi sự đền ơn của gia đình, mặc dù bạn rất kín đáo và khéo léo, bà chỉ nhận quà cám ơn tượng trưng mà thôi và cho biết chỉ ở lại thăm con trong một thời gian ngắn rồi sẽ trở về Việt Nam sinh sống bình thường như trước đây. Bà nói:

– Mọi sự ở trên đời đều do Trời cao sắp đặt. Ơn nghĩa là do lòng thành của con người cũng không nên nghĩ đến sự cầu báo hay hơn thiệt. 

Chân thật đến thế là cùng. Thế gian còn có những tấm lòng nhân hậu khiến cho cuộc đời nầy thật sự là một nơi đáng sống.

Tôi dứt điện thoại mà lòng vô cùng xúc động, văng vẳng đâu đây bên nhà hàng xóm nhạc mùa Tạ Ơn nhè nhẹ lan xa…

 
Trần Bạch Thu (SGN)
 
Nam Mai sưu tầm
 
Fall Pumpkin Wallpapers - Top Free Fall Pumpkin Backgrounds -  WallpaperAccess
Xem thêm...

Truyện ngắn: Bức tranh vẽ dở

Bức tranh vẽ dở

Truyện ngắn Võ Đào PhươngTrâm

Tác giả trẻ Võ Đào Phương Trâm

Chiếc xe bus tấp vào bãi đậu giữa cái nắng như muốn đun chảy nhựa đường. Thuyên bước xuống xe, nắng tháng ba như thốc vào mặt làm hoa cả mắt. Cái bến xe này vắng vẻ là điều hiếm hoi giữa đường phố tấp nập đông người, Thuyên ngồi tạm xuống hàng ghế được che chắn xung quanh bằng mấy tấm bảng quảng cáo rồi bắt điện thoại ra dò đường. Theo như bản đồ thì chỉ còn cách chừng 300 mét là sẽ đến được cái phòng vẽ tranh của ông Huân, người hoạ sĩ vẽ tranh truyền thần nổi tiếng trong giới hội hoạ ở Sài thành.

Sau khi đi qua nhiều lối rẽ và gặp quán cafe có bảng hiệu tên Khói, điểm đánh dấu để biết được vị trí cần tìm giữa những ngả rẽ na ná như nhau. Thuyên quẹo vào bên trong con đường vắng vẻ, một cảm giác yên ắng mát mẻ nhanh chóng hạ nhiệt cơ thể với những cây bàng lá nhỏ trồng lác đác hai bên vỉa hè, con hẻm tách biệt với sự xô bồ ồn ã, với cái nắng ngập ngụa bỏng rang ngoài giao lộ lớn.

Những dãy nhà với nhiều căn tách biệt, nằm sâu tận bên trong, cách một khoảng sân, đánh đố sự tìm kiếm của khách tìm đường. Thuyên chăm chú tìm đúng số nhà trong mảnh giấy nhỏ, sự thắc thỏm nhảy múa khi những số nhà cũ mới đan xen như thách thức người lạ lọt vào ma trận.

175/24 hiện lên phía trước mặt, bảng số nhà màu xanh ghi địa chỉ nhà bằng tấm thiếc mỏng đóng hờ hững, theo năm tháng, những chiếc đinh gỉ trở nên lỏng lẻo, tấm thiếc cong lên ở bốn góc vành như chực chờ rơi khỏi bức tường, những con số loang lổ phơi bày vết tích cũ kỹ của thời gian, nơi những ngôi nhà rêu xanh mép ngói.

Thuyên đi gần về phía cánh cửa sắt đóng kín, đưa tay gõ nhẹ. Sự lặng im đáp trả lại Thuyên khi cánh cửa ngôi nhà vẫn không có ai ra mở. Thuyên kiên nhẫn gõ lại hai lần rồi ba lần, tim cô bắt đầu đập từng nhịp mạnh vì loáng thoáng trong đầu, cô không biết mình có tìm được đúng địa chỉ hay không. Trước sự yên lặng lạnh lẽo toát ra từ bên trong ngôi nhà có cánh cửa sắt hoen gỉ, xung quanh lại chẳng có ai để mà hỏi han nhờ vả. Thuyên bắt đầu chột dạ. Cô nhón chân, cái dáng nhỏ xíu của con bé chỉ được 1m55 chạm vào khe hở bên trên cánh cửa, Thuyên dè dặt nhìn vào, lần đầu tiên đi đến nhà người khác mà cảm giác rình mò, dọ thám như đi ăn trộm.

Hình minh họa

Xuyên qua khe cửa hẹp, một ánh sáng mờ mờ, dìu dịu lọt vào mắt Thuyên, một thứ ánh sáng bao trùm thế giới của người hội hoạ, đậm đặc mù mờ tựa như không gian của người Thiền tập.

Khi đã nhận ra thứ ánh sáng ấy, Thuyên mạnh dạn gõ cửa mạnh hơn và kèm theo tiếng gọi:

– Chú hoạ sĩ ơi.

Sau vài giây, cánh cửa sắt mở ra chậm chạp, tiếng kéo lê ken két nặng nhọc nghe long cả vào thái dương, một cái đầu tóc bù xù nhoài ra, mớ tóc rũ rượi che khuất cả đôi mắt, gương mặt đậm nét của dân nghệ thuật khác người, lúc nào cũng phải tóc tai loà xoà, áo quần lem luốc. Nhìn cô gái lạ với đôi mắt dò xét, gã đàn ông cất giọng ồm ồm:

– Cô là ai vậy?

– Cháu là Thuyên ạ.

– Đến đây mua tranh hay vẽ tranh?

– Cháu đến để tham quan và xin một ít thông tin về chú đc không ạ?

Gã hoạ sĩ ném cái nhìn lạnh nhạt để đón cô gái trẻ, chẳng biết gã hài lòng hay đang khó chịu nhưng thấy gã quay lưng đi vào, cánh cửa vẫn để mở nên Thuyên lẽo đẽo đi sau lưng gã.

Thuyên với tay kéo cánh cửa sắt lại nhưng cô nhận ra mình bất lực khi nó quá nặng cộng bị rỉ sét càng tăng thêm độ ma sát trì rít xuống nền xi măng bám đầy bụi bặm lâu ngày. Tiếng rít ngắt quãng của cánh cửa nặng nề như con ngựa chứng không hoan hỷ khép lại từ cánh tay mảnh khảnh của cô gái nhỏ.

– Để đó đi.

Vẫn cái giọng khàn đặc mùi khói thuốc và lạnh tanh của gã hoạ sĩ ném vào tai người nghe một cách khó ở. Thuyên rón rén đi vào bên trong căn nhà đang thắp sáng bằng một ánh đèn vàng sánh đặc, không hiểu sao với cái ánh sáng này mà gã hoạ sĩ lại có thể vẽ được những bức ảnh truyền thần cần sự tỉ mỉ từng milimet.

– Ngồi đó đi.

Gã hoạ sĩ chỉ vào cái ghế dựa xem ra là chỗ ngồi chỉnh chu sang trọng nhất trong cái phòng không có gì đáng giá ngoài mớ màu mè nhoè nhoẹt và những bức ảnh đủ dung mạo. Thuyên ngồi xuống ghế, yên lặng chưa dám lên tiếng bởi không gian căn phòng có vẻ gì đó âm tịch, vắng lặng đến lạnh lẽo, mặc dù được thắp thứ ánh sáng vàng vọt nhưng cũng không đủ xua tan cường độ yên ắng nơi đây, có lẽ nó toát ra từ chính người chủ căn phòng này, từ bộ dạng luộm thuộm lẫn trong giọng nói như người cõi âm của gã thì chẳng có thứ gì đủ để xoá đi cảm giác rờn rợn, quai quái của căn phòng.

– Cô muốn hỏi gì?!

– Dạ, chú vẽ tranh truyền thần lâu chưa chú?

– Hơn 30 năm

Gã nói nhưng chẳng nhìn người đối diện, tay gã vẫn loay hoay với cái bảng pha màu, mắt vẫn dán vào bức tranh đang vẽ dở được nửa phần gương mặt. Mái tóc gã cứ loã xõa che hết đôi mắt, nhìn xa xa, cứ như một bộ đầu tóc rũ rượi loà xoà của con manacanh mà người ta chưng trong tủ.

– Tranh này là người ta đặt chú vẽ hay chú lấy cảm hứng từ ai đó rồi tự vẽ vậy ạ?

– Cả hai.

OSnat Tzadok- Canvas Print

Thuyên nhìn quanh một lượt những bức tranh trong căn phòng đặc quánh úa vàng, ánh sáng ma mị hằn những vệt sáng tối lên những đôi mắt, khuôn mặt mờ ảo như thể đang xoáy sâu vào trực giác người quan sát, những bức tranh đẹp mê hoặc không nghĩ rằng nó được vẽ nên từ đôi bàn tay gầy guộc, gân guốc, ngón tay dài loằng ngoằng của gã đàn ông luộm thuộm.

Bất chợt, mắt Thuyên chú ý đến một bức tranh phủ kín bằng mảnh vải trắng, chỉ lộ một phần đôi mắt như đang nhìn xoáy về phía cô đang ngồi. Theo quán tính và cảm giác bị thu hút từ cái nhìn nơi đôi mắt trong tranh, Thuyên đi gần đến phía góc cầu thang.

Mảnh vải rơi ra khi Thuyên cố tình kéo nhẹ nó, cô bàng hoàng lẫn kinh ngạc khi nhìn thấy vết sẹo nham nhở đầy đau đớn trên gương mặt chỉ mới vẽ được một nửa của người phụ nữ.

– Ai cho cô kéo tấm vải đó xuống?

Tiếng gã hoạ sĩ lồng lên đầy giận dữ, cái giọng khàn đặc gầm gừ của gã như bóp nghẹt thần kinh của một đứa con gái nhỏ nhắn, Thuyên run như cầy sấy, nói lạc cả giọng:

– Cháu…cháu…sơ ý đụng vào. Cháu xin lỗi.

Ánh mắt gã hoạ sĩ vẫn long lên sòng sọc một cách dữ tợn khác thường, dường như gã chẳng cần nghe lời giải thích của cô gái trẻ. Gã lao một cách vội vã đến nỗi xém chút bổ nhào giữa mớ đồ nghề đang ngổn ngang dưới đất, gã phóng về phía bức tranh rồi chụp mảnh vải trắng phủ nhanh lên trên khung gỗ.

Gã quay đi nhưng vẫn không quên ném vào mặt Thuyên cái nhìn lườm lườm đe doạ.

– Cô hãy giữ ý thức khi vào nhà người khác. Nếu cần gì, hãy để chủ nhà người ta hướng dẫn.

Gã hoạ sĩ gằn giọng.

– Nếu còn táy máy chân tay, tôi sẽ tống cô ra khỏi đây ngay lập tức.

Thuyên vừa hoảng sợ, vừa khó hiểu với hành động của gã hoạ sĩ, nó chẳng giống gì với sự cởi mở của những người hoạ sĩ khác, tim cô đập thình thịch tưởng như sắp nhảy ra khỏi lồng ngực, nhưng chính sự khó hiểu này càng làm Thuyên tò mò về bí ẩn của bức tranh ở góc cầu thang.

Thuyên cố gắng giữ bình tĩnh, bước đến gần gã hoạ sĩ, cô dịu giọng:

– Chú này, sao bức tranh đó lại có vết sẹo vậy chú?!

– Cô đừng hỏi nhiều về bức tranh đó.

– Nhưng từ đầu, cháu đã xin chú vào đây để tìm hiểu về tranh, sao giờ chú lại không giúp cháu?

– Bất cứ bức tranh nào cô cũng có thể hỏi, trừ bức tranh đó.

Thuyên thở dài và nhìn gã hoạ sĩ bằng cái nhìn bất lực.

– Nhưng cháu muốn tìm hiểu về bức tranh đó.

– Cô còn trẻ, đừng học tính ngoan cố.

– Cháu không ngoan cố gì đâu ạ. Cháu chỉ muốn tìm hiểu thôi. Mà cháu nghĩ, chú cũng nên mở lòng để chia sẻ về những tác phẩm nghệ thuật của chú. Biết đâu, đó là kiệt tác. Một bức tranh quá ấn tượng tại sao chú lại không muốn ai xem?

– Và tôi phải chia sẻ kiệt tác đó với một đứa con nít như cô à?

Thuyên im lặng vài giây trước câu hỏi có phần mai mỉa lẫn trong nụ cười nhếch mép của gã hoạ sĩ thô kệch cộc cằn.

– Chú nghĩ cháu là gì cũng được nhưng cháu là người phù hợp nhất để chú nói về xuất xứ của bức tranh.

Gã hoạ sĩ vẫn chẳng buồn ngó đến Thuyên, mắt gã vẫn tập trung vào bức tranh đang vẽ dở dang trước mặt, bàn tay gã lả lướt điều khiển chiếc cọ nhảy múa những đường nét mềm mại uyển chuyển trên nền giấy canson. Thuyên im lặng vì không muốn cắt ngang dòng cảm hứng đang tuôn nhả đều đặn từ bàn tay và não bộ của một gã tài hoa nhưng kỳ lạ và khó hiểu này.

– Nếu hôm nay chú bận thì ngày mai cháu sẽ quay lại. Chú suy nghĩ kỹ đi ạ. Sẽ không ai phù hợp hơn cháu để nghe chú kể về bức tranh đâu ạ.

Thuyên vừa dứt câu thì cô với tay lấy chiếc túi đi ra cửa, rời khỏi căn phòng sóng sánh màu vàng. Ánh sáng thiên nhiên trong trẻo toả ngập vào mắt cô một sắc màu tươi sáng dễ chịu. Cô dụi mắt rồi quay trở lại bến xe buýt, chờ bắt được chiếc xe để trở về phòng trọ. Trong lòng Thuyên vẫn ngổn ngang cảm giác tò mò, ấm ức trộn lẫn vào nhau, tạo thành một dòng suy nghĩ đối lưu hỗn độn.

Artis Âme Sauvage

8 giờ sáng ngày hôm sau, Thuyên đã có mặt ngay trước cánh cổng sắt cũ kỹ của căn nhà số 175/24.

Cô lại gõ cửa nhà gã hoạ sĩ nhưng trong đầu trống rỗng, không biết rủi hay may vì cô không đoán được gã có đồng ý mở cửa cho cô vào nhà gã một lần nữa hay không. Gần 60 giây trôi qua nghe dài dằn dặt, không tiếng động nào ra hiệu có chút hy vọng. Nhưng Thuyên sẽ không bao giờ bỏ cuộc, cô ghé sát vào cánh cửa, nhón chân lên, nhìn vào khe cửa hẹp, vẫn là thứ ánh sáng âm ấm sóng sánh màu vàng hắt ra từ bên trong căn phòng bừa bộn của gã hoạ sĩ khác người.

Thuyên lấy hết can đảm, định cất tiếng gọi thì nghe tiếng ken két quen thuộc rít vào tận thái dương, và cái đầu bù xù tóc lại thò ra ngoài. Lần này, gã không hỏi Thuyên câu gì mà chỉ để cửa rồi lẳng lặng đi vào bên trong.

Thuyên thở phào nhẹ nhõm, vậy là gã không để bụng, gã vẫn chấp nhận cho cô vào nhà gã lần nữa. Thuyên lẽo đẽo đi sau lưng gã, hoá ra gã cũng không quá cố chấp như cô đã nghĩ.

– Ngồi đi.

Gã chỉ vào cái ghế dựa cũ hôm qua, chỗ duy nhất để khách đến ngồi. Rồi gã lại loay hoay với cái bảng màu và mấy cây cọ đặc trưng của dân hoạ sĩ.

– Cháu cho chú cái này.

Thuyên lấy trong giỏ xách một cái túi nhỏ, đem lại đưa cho gã, gã nhìn cái túi giấy đẹp đẽ từ đứa con gái lạ hoắc đưa cho mình, mắt gã vẫn hoài nghi, chưa hiện lên điều gì thiện cảm.

– Ai kêu cô mua vậy?

– Cháu tặng cho chú thì sao phải chờ chú kêu.

– Nó sẽ không là lý do để tôi nói về bức tranh đâu, cô thông cảm và đem nó về đi.

Gã hoạ sĩ vẫn cái giọng khàn đặc mùi khói thuốc, chậm rãi đầy bảo thủ.

– Dạ, nhưng cháu không tặng chú vì lý do đó nên chú cứ giữ.

Thuyên đặt chiếc túi giấy lên chiếc bàn gỗ. Rồi lặng lẽ ngồi xuống cạnh gã hoạ sĩ.

– Cô lên kia ngồi, đừng làm vướng tay tôi.

– Cảm phiền chú có thể ngưng tay một chút cho cháu hỏi không?!

– Cô hỏi đi.

– Cháu muốn hỏi chú một chút về bức tranh ở cạnh cầu thang. Bức tranh có vết sẹo.

– Tôi đã bảo cô đừng hỏi về bức tranh đó rồi mà. Cô không hiểu tôi nói gì à?

Gã hoạ sĩ cộc cằn quát lớn, từng lời nói phát ra trong cổ họng nghẽn đặc của hắn nghe như tiếng gầm gừ dồn nén từ tận cùng bức bách.

– Nhưng cháu muốn biết.

Thuyên bấu bàn tay nhỏ bé của cô vào cánh tay cứng cỏi của gã hoạ sĩ và nhìn gã bằng cái nhìn cương quyết, không nhượng bộ.

Gã đẩy tay Thuyên ra, mặt gã tỏ vẻ dửng dưng, rồi gã lại hí hoáy với chiếc cọ màu. Gã cũng chẳng thèm nhìn mặt Thuyên, thái độ gã như một kẻ bất cần, lạnh lùng và cố thủ đến vô phương.

Lần này Thuyên không chịu thua, cô dằn lấy tay gã làm gã đánh rơi chiếc cọ khỏi tay. Cô cất giọng đanh thép lẫn chút van lơn.

– Chú nhìn con đây, chú nhìn vào mắt con này.

Lúc này, gã dường như bị động và thất thủ trước sự mạnh mẽ đột ngột của cô gái, gã từ từ ngước mắt nhìn Thuyên, cặp mắt bị mớ tóc dài của gã che phủ, ánh mắt sòng sọc và ngờ vực đến đáng sợ.

– Chú Huân. Chú nhìn kỹ con đi. Con có giống bà Xoan, có giống người đàn bà trong bức tranh đó không?

Thuyên nhìn trừng trừng vào mặt người đàn ông, ánh mắt cô như muốn xoáy vào tận con ngươi đang căng lên từng tia máu trong lòng mắt của gã, và gã cũng vậy, đôi mắt gã không rời khỏi gương mặt của Thuyên, nhưng lần này không còn là ánh mắt lạnh lùng mỉa mai mà gương mặt gã trở nên méo mó, đuôi mắt gã co giật liên hồi, dường như thần kinh gã đang căng ra quá đỗi. Tay gã như mềm nhũn, nhão nhoét rồi bất chợt buông thõng vô hồn.

– Con là con của bà Xoan, nhà con cháy hết rồi, Mẹ con đã mất trong cơn hoả hoạn, không còn tấm ảnh nào để thờ…

Thuyên nói đến đó rồi bỏ lửng giữa tiếng nấc nghẹn, cô đổ sụp đầu xuống tay gã hoạ sĩ.

Gã ngồi bất động như kẻ vô hồn, chẳng biết trong bao lâu, chỉ đến khi giọt nước mắt nóng hổi từ mặt cô gái rớt xuống tay gã mới làm gã giật mình tỉnh lại. Bất chợt, như nhớ ra điều gì, gã vội vã kéo tay áo Thuyên lên cao, lúc này, mắt gã trợn tròn, mồm gã há hốc khi thấy cái bớt màu nâu bên dưới khủy tay Thuyên…

Gã lấy bàn tay gầy gò, lem luốc màu sơn vẽ nâng cằm cô gái lên, gã nhìn kỹ lại mặt cô lần nữa. Rồi miệng gã méo xệch. Cổ họng gã bật ra tiếng nấc khô khốc như những thanh gỗ mục bị bẻ đôi.

Gã ôm Thuyên vào lòng, gã khóc nhưng trong hốc mắt sâu hoắm, nước mắt gã đã khô cạn không còn rơi nổi. Tiếng khóc của gã lọt thỏm trong nỗi bất lực khổ sở như tiếng kêu rên đau đớn của con thú hoang mắc bẫy.

– Con ơi!…

Gã gục đầu vào vai Thuyên, cô ôm chặt lấy gã rồi bật khóc nức nở. Cô nắm lấy bàn tay dài ngoằn nghoèo, gầy guộc lấm lem màu mực của gã rồi vuốt gọn lại mái tóc rũ rượi luộm thuộm cho gã, trong nước mắt, tiếng nói Thuyên như đứt quãng.

– Con tìm Ba bao lâu rồi. Con chỉ sợ không tìm được Ba. Chỉ có Ba mới giúp con tìm thấy lại Mẹ mà thôi, Ba ơi!

Gã hoạ sĩ “thần kinh” run rẩy vuốt mái tóc đứa con gái nhỏ, mắt gã bỗng dưng mờ đục cay xè, đôi mắt gã thẩn thờ, khoé mắt gã vẫn co giật liên hồi và gương mặt gã vẫn chưa tan được cảm giác ngỡ ngàng, xúc động bởi cuộc gặp gỡ đột ngột này.

Artis Kal Som 

Ký ức của 16 năm về trước như một chiếc băng tua ngược trong tâm trí người họa sĩ già, ngày hai vợ chồng ông chọn cuộc sống đường ai nấy đi, khi đó Thuyên chỉ vừa tròn 2 tuổi, con bé còn nhỏ nên sống cùng với Mẹ. Cuộc sống của người đàn bà nghèo trôi qua trong những tháng ngày bình lặng cho đến một ngày, trong lần nhóm bếp, ngôi nhà mái tranh không may bị một thanh củi rơi xuống bó lá dừa mà Mẹ Thuyên đặt bên dưới bếp lò và bi kịch đã xảy đến trong căn nhà neo đơn khi lửa oan nghiệt bùng cháy dữ dội…

Đêm đó, ngôi nhà bà Xoan chìm trong cơn hoả hoạn, bà Xoan và người mẹ già không thoát được nên đã ra đi trong đám lửa ngùn ngụt khổng lồ. Khi đó, Thuyên đang ngồi chơi trên chiếc xe đẩy trước hiên nhà, được hàng xóm cứu kịp nên thoát khỏi biển lửa hung tợn bao trùm cả một vùng trong làn khói đen đặc. Gia đình Thuyên không còn ai, sau cơn đại nạn đó, mọi thứ trong nhà hoàn toàn bị thiêu rụi trong bão lửa, những tấm ảnh về người đã mất cũng hóa hư không. Thuyên lớn lên trong ký ức lờ mờ về hình ảnh người Mẹ quá cố của mình qua những lời mơ hồ kể lại.

Ngày nhận tin bà Xoan mất, ông Huân mù mờ nghe được những thông tin ít ỏi từ những người có mặt trong ngày định mệnh đó, họ kể với ông lúc cảnh sát cứu hỏa đến đem bà ra thì bà đã chết, lửa bén trên mặt bà một vết bỏng dài như lưỡi dao. Sau lần hỏa hoạn đó, Thuyên trở thành đứa trẻ không Cha không Mẹ, người hàng xóm cảm thương đã cưu mang nuôi nấng rồi sau đó không lâu, họ cũng chuyển nhà về nơi Tỉnh lẻ xa xôi, biền biệt không còn tin tức. Mọi thông tin giữa ông Huân và Thuyên dường như mất hẳn.

Trong nỗi đau đớn tột cùng, ông đã vẽ nên một bức tranh người phụ nữ với vết sẹo dài nhưng nỗi ám ảnh đã bao trùm trong ký ức ông một cách dai dẳng khủng khiếp, nỗi dằn vặt, hối hận vì không thể cứu được vợ con để rồi gia đình phải rơi vào cảnh ly hương biền biệt, nỗi ám ảnh đó đeo mang khiến nét vẽ của ông cũng trở nên khó khăn, ngón tay như đông cứng, thần kinh như tê dại, một bức ảnh chỉ có nửa gương mặt với vết sẹo dài được phủ một mảnh khăn tang chứa đựng những điều bí ẩn nằm sâu trong lòng người đàn ông kỳ lạ, diện mạo ông cũng từ đó trở nên tiều tụy hẳn, cuộc sống, tâm tính ông cũng dần dần đổi khác đến nỗi quanh đây, người ta vẫn gọi ông là ông hoạ sĩ thần kinh, ông hoạ sĩ bất thường bởi bao nhiêu năm qua, ông chẳng giao du, tiếp xúc với hàng xóm láng giềng, thế giới của ông chỉ cô đọng, đặc quánh với cọ màu và giấy vẽ.

Artist: Jinsheng You

Nhiều năm trôi qua, bức tranh người phụ nữ nửa mặt với vết sẹo dài, phủ khăn trắng được ông Huân che chắn cẩn thận và đặt ở nơi góc khuất, cuối cầu thang, ít người qua lại nên khách mua tranh không thể nhận ra mà cũng không ai để ý.

Ngần ấy thời gian với một đời người, không nhiều mà cũng chẳng ít, cuộc sống của người hoạ sĩ “thần kinh” chẳng khác nào cánh cửa bị khoá trái, những tưởng mọi ký ức sẽ mãi mãi là quá khứ chìm sâu dưới lòng huyệt lạnh, cho đến một ngày, Thuyên vào phòng tranh của ông Huân sau nhiều năm Trời cô đi khắp nơi để tìm những người hoạ sĩ vẽ tranh truyền thần khắp chốn sài thành, nhưng ngày gặp ông, lòng cô rối bời bởi cô cũng không dám chắc rằng người đàn ông có ngoại hình luộm thuộm kỳ dị này có phải là Cha ruột mình không và nếu ngày hôm đó, tấm vải trắng phủ trên bức tranh không bất ngờ rơi ra, để lộ đôi mắt nhìn về phía Thuyên một cách kỳ lạ như biết nói thì có lẽ, Thuyên cũng không thể nào dám tin rằng mình đã tìm lại được ông Huân, người Cha ruột của mình.

Thuyên lấy tay lau vội những giọt nước mắt ướt đẫm trên gương mặt, bện vào mớ tóc, cô khẽ xoay người, nhìn về phía góc cầu thang, sau vạt tóc loà xoà, mắt Thuyên nhoè đi khi thấy bức tranh bí ẩn hiện lên đẹp mơ hồ phía sau mảnh vải trắng đang bay nhè nhẹ trong căn phòng không có gió. Đôi mắt sâu thẳm như nhìn về phía Thuyên và người hoạ sĩ già đang ngồi bệt dưới nền gạch cũ. Đôi mắt như đang cười, huyễn hoặc lẫn trong làn ánh sáng đục ngầu của những bóng đèn màu khói…

 

VÕ ĐÀO PHƯƠNG TRÂM

Hình minh họa internet

Kim Quy sưu tầm

Xem thêm...
Theo dõi RSS này