Truyện

Truyện (207)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Ôi Phi Công… danh tiếng muôn đời - Yên Sơn

Ôi Phi Công… danh tiếng muôn đời

Yên Sơn

~~~oo0oo~~~

 

Ôi Phi Công… danh tiếng muôn đời - Yên Sơn

Câu chuyện phiếm


Mào đầuchuyện phiếm là chuyện đọc cho vui, xem rồi bỏ mong đừng ai phiền lòng.
Khi nắng chiều sắp tắt ngoài hiên, có một chàng trai trẻ vừa qua tuổi dậy thì (*),
nhìn vào bóng đêm rồi tủm tỉm cười một mình khi ôn lại chuyện năm xưa…



Ngồi lẩm bẩm hát bài Không Quân Hành Khúc của nhạc sĩ Văn Cao, đến câu “ôi phi công danh tiếng muôn đời”, tôi chợt mỉm cười tự hỏi “vì sao phi công lại được danh tiếng muôn đời?” Có quả thật phi công danh tiếng hay chỉ là câu hát của ông nhạc sĩ ưu ái tặng anh em? Hơn bảy năm vui buồn đời phi công tôi chưa từng nghe bất cứ một ai trang trọng nói như vậy; có chăng cũng chỉ là câu lặp đi lặp lại vô số lần “đừng làm mất mặt không quân” hoặc “đừng làm mất mặt phi công”.

Mot phi tuan chien dau co F-5A

Đừng làm mất mặt Không Quân. Đừng làm mất mặt Phi Công. Đừng làm mất mặt Hải Quân. Đừng làm mất mặt Nhảy Dù. Đừng làm mất mặt Mũ Xanh. Đừng làm mất mặt Mũ Nâu. Đừng làm mất mặt Thiết Giáp. Đừng làm mất mặt lính Sư Đoàn. Đừng làm mất mặt Trinh Sát. Đừng làm mất mặt binh chủng. Đừng làm mất mặt KBC. Đừng làm mất mặt Địa Phương Quân. Đừng làm mất mặt Nghĩa Quân. Đừng làm mất mặt Quân Cảnh. Đừng làm mất mặt Cảnh Sát quốc Gia … thậm chí còn có “đừng làm mất mặt Nhân Dân Tự Vệ hoặc Xây Dựng Nông Thôn”… Nói tóm lại, quân binh chủng nào cũng có niềm tự hào, cũng có cái hãnh diện rất riêng của họ. Tập thể Quân Đội Miền Nam Việt Nam luôn luôn căn dặn nhau giữ gìn lễ nghi quân cách thật đáng trân trọng.

Tôi không dám lạm bàn về danh tiếng của những anh em các quân binh chủng khác; càng không dám lạm bàn về những phi công tiền bối của mình! Chắc chắn các tiền bối phải toàn vẹn về mọi mặt mới lọt chân vào thế giới của lớp người đi mây về gió.

Kể từ ngày thành lập Không Quân VNCH (xem Phần Phụ Lục ở cuối bài), ngày 1/7/1955, cho tới lúc tôi được lọt vào trong cổng Phi Long, tháng 12/1968, chỉ có 13 năm thôi nhưng đó là một khoảng cách thênh thang, cách biệt trùng trùng. Bởi lẽ tháng 8/1965, thay vì chuẩn bị thi vào đại học, tôi lại nghe theo lời ong tiếng ve, hăm hở nộp đơn xin làm phi công, rồi ê chề lọt sổ phải trở lại học đường với ve sầu, với phượng vĩ. Cho đến 3 năm sau, khi Không Quân có nhu cầu bành trướng nhanh chóng, tôi mới có cơ hội hát bài ca hạnh ngộ. Mà thật tình tôi đâu có yếu đuối, vàng vọt gì cho cam; ngược lại, ngoại hình tôi rất cân đối trên trung bình, thể lực của một võ sĩ thường xuyên đấu võ đài, sức lực của một gã con trai bẽ gãy ngà voi… thế mà bị rớt đài vì lý do sức khỏe! Lý do sức khỏe chỉ là ba chiếc răng trám! “Mấy ổng” giải thích, răng trám khi lên cao độ sẽ bị hành hạ đau nhức!!! Tôi cố gắng giải thích rằng chỉ bị mẻ trên mặt chứ không phải bị đau răng nhưng ông nha sĩ lạnh lùng nói “no sir, rớt!” Khó khăn là thế!

Ôi Phi Công… danh tiếng muôn đời – dòng sông cũ

Số là trước khi nộp đơn đi Không Quân, tôi nghe nói là phải có sức khỏe hoàn hảo mới có hy vọng. Tôi biết là tôi rất mạnh khỏe nhưng tôi cũng đi nhà thương khám sức khỏe tổng hợp trước cho chắc ăn. Tất cả đều vượt tiêu chuẩn, tim gan phèo phổi ngon lành, chỉ có ba chiếc răng hàm bị mẻ trên mặt răng. Tôi xin ông nha sĩ trám lại cho bằng phẳng dù nha sĩ nói không cần thiết nhưng tôi muốn “toàn vẹn” nên quả quyết phải làm. Lý do răng hàm mẻ không phải bị đau răng, bị sâu răng mà vì tôi hay biểu diễn nhai ly thủy tinh! Đâu ngờ trò chơi ngu xuẩn của thanh niên mới lớn làm tôi phải lao đao hết mấy năm dài! Như vậy, điều kiện tiên quyết để trở thành phi công KLVNCH là sức khỏe phải hoàn hảo ngoài học lực tối thiểu phải có Tú Tài I trở lên, hồ sơ an ninh phải trong sạch, có nghĩa là gia cảnh không liên hệ tới Cộng sản, không có tư tưởng nửa chừng xuân.

Phi công cũng phải trải qua các thời kỳ huấn luyện quân sự gắt gao; phải qua khóa huấn nhục kinh hoàng. Khóa này cũng nhằm huấn luyện cho một người biết kính trên nhường dưới, biết tình nghĩa bạn bè, biết thương yêu đồng đội; rèn luyện một ý chí sắt thép, thể chất kiên cường để đáp ứng mọi hiểm nguy, gian khó. Mục tiêu của khóa cũng huấn luyện sự khiêm cung, hòa nhã với mọi người mọi giới và trang bị một mẫu người xứng đáng cho một binh chủng hào hùng, để có đủ điều kiện thực hiện câu châm ngôn của binh chủng, “Không bỏ anh em, không quên bè bạn”.

Sau khi “sống sót” qua các khóa huấn luyện này, phi công tương lai được đưa về các trường sinh ngữ quân đội và phải học thông suốt khóa huấn luyện sinh ngữ cấp tốc khoảng nửa năm dài. Trong tất cả sách giáo khoa đều nói về một đời sống văn minh tây phương; dạy cho khóa sinh những kiến thức phổ thông nơi xứ người; dạy cách giao tiếp, cách đối xử với người bản xứ, dạy ăn cho thanh cảnh, dạy chơi cho thanh lịch. Muốn ra trường, khóa sinh phải có một trình độ hiểu biết thực tiễn bằng sự thi cử khó khăn.

Ôi Phi Công… Danh Tiếng Muôn Đời – Yên Sơn

Thi đậu khả năng sinh ngữ xứ mình, phi công tương lai được cho may trang phục đại lễ, tiểu lễ và sắm sửa đồ tuế nhuyễn cho phù hợp với nơi đến để lên đường xuất ngoại và học sinh ngữ tiếp về ngành nghề cho thành thạo. Xong giai đoạn này mới bắt đầu học bay. Học bay từ phi cơ sơ đẳng nhất đến phi cơ tối tân nhất mà Không Quân Việt Nam có được, tùy theo tài khóa và theo từng khả năng của mỗi người. Trong suốt thời gian học tập nơi xứ người, việc học hỏi những điều mới lạ và thi cử dường như vô tận. Có nghĩa là không ai biết chắc được mình sẽ trở thành phi công cho tới khi được ông thầy trang trọng gắn cánh bay trên ngực áo trong một buổi đại lễ mãn khóa.

Sau gần một năm rưởi học hỏi, luyện tập gian khổ nơi xứ người, chàng về nước ngẩng cao đầu trình diện đơn vị, chào kính cấp trên đúng lễ nghi quân cách và tiếp tục được huấn luyện thêm mấy tháng nữa mới có thể theo các đàn anh “vượt trên lưng gió quyết chiến thắng”.

Phi công ngày ngày làm “đàn chim bay trên cao xanh”, hòa mình trong một không gian vô tận, mắt nhìn xa, lòng rộng mở. Vì luôn sống với khung cảnh đó nên một phi công biết làm thơ, biết viết văn cũng là một chuyện bình thường. Bình thường như biết ca hát, biết nhảy đầm. Phi công sống trong thời chinh chiến không cần lo nghĩ đến tương lai vì có thể sáng cất cánh đi chiều thôi không về nữa cũng là chuyện bình thường. Cái may mắn của phi công là dù có gian lao, có hiểm nguy đến đâu cũng là “lính thành phố”. Lính thành phố nên làm mòn nhẵn từng con đường, từng cổng trường, từng khuôn viên đại học cho đến một ngày “đi không ai tìm xác rơi”, quên mất đường về!

Phi công sống một cuộc sống hào hùng, “lúc đất nước muốn bao người con thân yêu ra đi, nuối tiếc tấm thân làm chi”. Vâng, hoàn toàn không nuối tiếc, chơi xả láng sáng không cần về, phi vụ phải hoàn tất tốt đẹp. Phi công được rèn luyện phải hào hoa, được dạy ăn phải thanh cảnh, dạy chơi phải thanh lịch cho nên bị người đời hay nói rằng “phi công hào hoa bay bướm”. Đâu phải phi công “bay bướm” mà phi công bị các phe kẹp tóc chọn lựa làm mục tiêu. Không phải “mèo khen mèo dài đuôi” chứ nếu tôi đứng ở chỗ của phe kẹp tóc, tôi sẽ không ngại nói to lên rằng “tại sao không chứ. Họ là con cưng của đất nước; họ thuộc lớp người nhìn xa hiểu rộng, họ là lính thành phố, họ biết ăn nói nhã nhặn, xả giao thanh lịch, sức khỏe hoàn hảo, thành thạo nếp sống văn minh, và họ rất tếu…” (không tếu sao được, ngay cả khi thần chết đứng trước mắt chàng vẫn còn có thể ba hoa “để ông cho chúng mầy sinh Bắc tử Nam”) ! Vì thế, phi công bị ganh ghét cũng là chuyện bình thường. Thậm chí có người hát nhại lời “ôi phi công… mang tiếng muôn đời”, hoặc bôi bác “hào hoa anh lính Không Quân, chỉ còn cái quần cũng bán để chơi”… cũng là điều dễ hiểu. Vâng, dù đói nghèo cỡ nào cũng rán “thanh lịch”, dù có lén mua xôi nắm, bánh mì sữa để kẹp đi bay nhưng lúc nào mặt mũi cũng tươi tỉnh, áo quần cũng bảnh bao vì chúng tôi được dạy dỗ rất kỹ rằng “chơi cho thanh lịch mới là chơi, chơi cho đài các xứng đời phi công”… nhưng đâu đến nỗi phải “bán quần” để chơi! Đểu thật!

Dù sao đi nữa, những nét uy dũng trên đây xin trang trọng dành riêng cho các bậc phi công tiền bối trước năm 1968. Từ đó trở về sau, Không Quân tuyển mộ ào ạt dù tiêu chuẩn tối thiểu vẫn còn nhưng được các ông cân đo đôi khi cố tình không thấy những cái nhón chân vô tình, vài tô phở lẻ tẻ, vài ly trà đá cối cho đỡ khát… có sá gì. Các thành phố lớn của miền Nam Việt Nam như Saigon, Biên Hòa, Cần Thơ, Đà Nẵng… đi đâu cũng nhan nhãn Không Quân. Nếu không quen biết thì Không Quân nào cũng vẫn là Không Quân. Nhưng dường như lũ Phi công nhí chúng em bị tụt giá rẻ rề dù vẫn phải phấn đấu kịch liệt để sinh tồn qua những đoạn đường chiến binh gian khó như các anh. Nhưng dù sao, con nhà tông không có lông cũng có cánh; chúng em vẫn bay bổng như mơ, vẫn hiên ngang đi vào lửa đạn dù biết “đi không ai tìm xác rơi, dù thân mồ quên lấp chìm”, và vẫn hãnh diện ké với cụm chữ dễ thương “ôi phi công danh tiếng muôn đời”. Cám ơn ông nhạc sĩ Văn Cao. Cám ơn Không Quân VNCH. Cám ơn người dân hiền hòa miền Nam nước Việt đã dành nhiều hảo cảm đối với Phi Công.

Phần Phụ Lục:

Để giúp mọi người tỉm hiểu thêm về Không Lực VNCH, tác giả xin trích dẫn trong cuốn số 4 thuộc Bộ Quân Sử VNCH do Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu (Khối Quân Sử) thực hiện do Cơ Sở Đại Nam xuất bản năm 1972.

Ôi Phi Công… danh tiếng muôn đời - Yên Sơn

LỊCH SỬ KHÔNG LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA

Ngành KQVNCH được thành lập bởi dụ số 9, ngày 25-6-1951. Tuy nhiên, mãi đến ngày thành lập Bộ Tổng Tham Mưu, một cơ quan phụ trách về Không Quân (KQ) gọi là Ban KQ mới được tổ chức trong thành phần của bộ tham mưu này.

Tháng 4-1952, Trung tâm huấn luyện KQ thành lập tại Nha Trang, ngành KQ mới được kể là thành hình qua việc tổ chức hai khóa huấn luyện hoa tiêu và cơ khí viên đầu tiên. Khóa hoa tiêu mở ngày 1-10-1952 với 9 khóa sinh sĩ quan và 6 khóa sinh hạ sĩ quan. Khóa cơ khí viên mở tháng 11 với 26 hạ sĩ quan học viên.

Trong giai đoạn đầu, ngành KQ chỉ được quy định ở một mức quân số gồm 40 sĩ quan, 120 hạ sĩ quan và 500 binh sĩ. Quân số này vừa đủ để tổ chức một cơ cấu KQ gồm có:
– Một cơ quan chỉ huy là Ban KQ, sau đổi thành Phòng KQ thuộc Bộ Tổng Tham Mưu, dưới quyền một sĩ quan Pháp.
– Một trung tâm huấn luyện đào tạo phi công, quan sát và cơ phí viên.
– Một phi đội liên lạc có nhiệm vụ liên lạc và chuyên chỡ hàng không.

Trung tâm huấn luyện KQ năm 1952 đào tạo được 40 vừa hoa tiêu vừa cơ khí viên; năm 1953 số lượng tăng gấp đôi. Cũng trong thời gian này, một số sĩ quan và hạ sĩ quan được gửi qua Pháp du học.

Trong năm 1953, ngoài phi đội liên lạc tại Tân Sơn Nhất (TSN), phi đội trợ chiến và quan sát số 1 thành lập tại TSN và phi đội trợ chiến và quan sát số 2 tại Nha Trang (1-3-1953).

Những loại phi cơ thông thường mà sĩ quan KQVN đầu tiên được sử dụng là các loại phi cơ quan sát MS.500, Cessna L19A, Morane Saulnier, Marcel Dassault 315.

Đầu năm 1954, Ban KQ đổi thành Phòng KQ, nhưng cơ quan này vẫn giữ nhiệm vụ quản trị nhân viên chứ chưa có quyền hành gì cả.

Tháng 7-1955, ngành KQVN mới được giao cho sĩ quan VN điều khiển. Chức Phụ tá KQ được đề ra thay cho trưởng phòng KQ và chức vụ này tạm kiêm Tư lệnh KQ để lo phát triển cho ngành này trong lúc Pháp đang rút khỏi VN. Bộ Tư lệnh KQ coi như đã thành hình và hoạt động từ lúc này.

Khu truc co AD5, phi doan 514

Trước khi ngành KQ được chuyển giao, đệ nhất phi đoàn vận tải được thành lập tại TSN (1-6-1955) được gọi là Căn Cứ Trợ Lực KQ số 1. Khi tiếp nhận phi trường Đà Nẵng, Đệ nhất Phi đội trợ chiến và quan sát ở TSN được chuyển ra đây; trước đó Bộ Tư Lệnh KQ bối rối không ít vì không có phương tiện tiếp thu, đã định giao phi trường này cho hàng không dân sự đảm trách. Cuối năm 1955, KQVN thành lập Đệ Nhất phi đoàn tác chiến và liên lạc nhưng phi đoàn này chỉ thực hiện trên giấy tờ, sau phải giải tán vì thiếu phương tiện.

Năm 1956, các căn cứ trợ lực KQ số 2 và số 3 được thành lập liên tiếp tại TSN và Biên Hòa. Mỗi căn cứ lúc ấy được tổ chức: một bộ chỉ huy, các cơ cấu hành quân, một ban công vụ và một ban quân y. Ngoài ra, để điều hành hệ thống không lưu, các phòng không lưu và các đài kiểm soát được thiết lập tại khắp các phi trường. Ngành KQ đã có những hoạt động riêng biệt trên không kể từ chiến dịch Đinh Tiên Hoàng, là chiến dịch tiểu trừ phiến loạn tại Miền nam.

Tính tới cuối năm 1956,ngành không lực của quân đội Quốc gia đã có các căn cứ, đơn vị máy bay thuộc đủ mọi loại như sau:

Căn cứ trợ lực KQ số 1 Nha Trang:

Trung tâm huấn luyện KQ:

21 máy bay Morane Saulnier
13 máy bay Cessna L19A

Phi đội liên lạc và trợ chiến số 2

5 máy bay quan sát MS.500
16 Cessna L19A

Căn cứ trợ lực KQ số 2 TSN:

Phi đội liên lạc:

3 máy bay Dakota DC3
3 máy bay Beechcraft
2 Cessna L19A
1 máy bay MS.500
6 máy bay Marcel Dassault 315

Phi đoàn vận tải:

21 máy bay Dakota DC3

Căn cứ trợ lực số 3 Biên Hòa:

Căn cứ Biên Hòa

13 Cessna L19A
2 Máy bay MS.500
3 máy bay Dakota DC3

Phi đoàn chiến đấu:

Hình thức

Căn cứ Đà Nẵng:

Phi đội quan sát và trợ chiến:

12 máy bay MS.500
16 Cessna L19A

Tổng cộng: 69 chiếc Cessna L19A, 26 chiếc Dakota DC3, 21 chiếc Morane Saulnier, 20 chiếc quan sát MS.500, 6 chiếc Marcel Dassault và 3 chiếc Beechcraft.

Mời quý vị cùng nghe bản Không Quân Hành Khúc:

 

 

(*) 60 chưa phải là già,
65 chỉ mới vừa qua dậy thì

 

Yên Sơn

 

 

Xem thêm...

NỒI CANH CHUA CỦA MÁ

NỒI CANH CHUA CỦA MÁ

✧✧✧✧

 
canh chuaNgày xưa nhà tôi nghèo lắm, đến bữa ăn gia đình thường quây quần bên mâm cơm đạm bạc, không có người ăn trước người ăn sau, bởi nếu như vậy thức ăn sẽ không đủ cả cho gia đình mười người con.
Anh em có một thông lệ ngầm là mỗi tháng phải nấu hai lần canh chua, đó là ngày Ba tôi lãnh lương và ngày anh em chúng tôi đề nghị.
Mỗi lần nghe Ba tôi nói với Má: “Bà ơi mai nấu canh chua nghe bà” dường như đêm đó tôi không ngủ được, thử hỏi một thằng con trai còn non và chưa xanh vừa tròn mười lăm tuổi… ngày mai xách giỏ lẽo đẽo đi chợ với Má, thì ôi thôi “còn có danh gì với núi sông“ nữa.
Vào chợ, Má lựa chọn tỉ mỉ, cá phải là cá còn sống, rau phải tươi ngon, trái me không được già hay non quá, khóm mua nguyên trái vừa chín tới, bạc hà mới cắt phải còn mủ, lấy móng tay bấm vào phải xốp…

Tìm Hiểu Cách Nấu Canh Chua Cá Lóc Đơn Giản Mà Ngon Ngây Ngất

Việc mua nguyên liệu, Má đã cẩn thận, thì công đoạn nấu nồi canh chua còn công phu hơn nữa, để cạo lớp nhớt trên mình con cá Hú (Ú) phải là nước sôi vừa “reo” sau đó chà xát với muối tránh mùi tanh, cá cắt ra từng khứa bằng nhau để vào rỗ cho ráo nước không được để trên dĩa cá đọng nước sẽ không ngon, trái me cạo sạch và dằm me bên ngoài lấy nước chua tuyệt đối không dằm me trong nồi canh chua, khóm và các rau khác xắt ra đều để thứ tự trong rỗ…

Khi nghe tiếng xe đi làm về của Ba tôi ngoài cửa, Má tôi mới bắt đầu nấu nồi canh chua, Má nói nồi canh chua không được nấu sớm hay trễ quá sẽ mất đi mùi vị của nồi canh chua, giống như trái cây chín tới khi ăn mới cảm nhận được cái ngon của nó.

Tôi không quên được tiếng húp xì sụp, những giọt mồ hôi chảy dài của anh em tôi bên mâm cơm bởi vị ngon của tô canh chua.
”Bà nấu ngon quá“ Ba tôi khen.
Nhìn chồng và các con ăn, tôi thấy gương mặt Má tôi hạnh phúc và mãn nguyện.
Có lần Má tôi hỏi:
“Theo con nguyên liệu nào quan trọng nhất của nồi canh chua?”.
Tôi liền đáp: “Cá, me, bạc hà phải không Má“.
Má từ tốn nói: “Nếu chỉ có cá, me, bạc hà là nguyên liệu chính để quyết định nồi canh chua ngon, theo Má như vậy thì chưa đủ, con thử nghĩ nếu canh chua thiếu chút ớt hay hành, ngò, giá … thì hương vị của canh chua như thế nào?. Tuy những nguyên liệu đó không sánh được với nguyên liệu khác, nhưng nó là yếu tố quan trọng làm kết dính những mùi vị khác để hình thành nồi canh chua ngon.”

 Nằm lòng cách nấu canh chua chuẩn vị - tắm tắc khen ngon ngay từ miếng đầu

Những điều Má tôi nói, giúp tôi hiểu ra được nhiều vấn đề trong đó có việc học của tôi, trong lớp tôi chỉ giỏi toán, lý, hóa, sinh ngữ còn những môn khác tôi không cho là quan trọng.

Từ dạo đó tôi ít đi chơi chăm học hơn những môn kém, đi học về tôi phụ giúp Má nhiều hơn và việc học của tôi tiến bộ.
Tôi nghĩ “Trong cuộc sống có những vật bình thường ở cạnh mình, mình không gìn giữ, trân trọng khi mình cần nó đã thất lạc hay bị mất đi làm mình tiếc nuối khôn nguôi.”
Ba năm sau!
Vào một chiều mưa muộn, Má tôi đã bỏ anh em tôi ra đi mãi mãi!
Tạo hóa rất công bằng và oan nghiệt, tạo hóa ban tặng cho tôi một người Mẹ để tôi sống trong yêu thương, giận hờn, vòi vĩnh và tạo hóa đòi lại người Mẹ của tôi, chưa cho anh em tôi đủ trưởng thành để được báo hiếu.
Từ ngày Má mất, gia đình tôi ít tiếng đùa vui, anh em tự chăm sóc cho nhau, đi học về tôi nấu nướng chính cho gia đình. Riêng ba tôi tóc bạc nhiều, ít nói và trầm mặc.

Có những lần tôi chợt thức giấc nửa đêm thấy Ba ngồi ngoài sân nhìn vào cõi xa xăm, tôi biết Ba tôi đang nhớ Má lắm, Ba thật cô đơn như chết nửa tâm hồn.
Tháng năm dần qua, anh em tôi ra đời làm việc, người thành đạt, người công chức, người giáo viên cuộc sống ổn định.
Riêng tôi, hành trang ra đời là nồi canh chua của Má, cái nồi canh chua dân miền Nam ai cũng nấu được, chỉ khác nhau sự nêm nếm, tùy theo khẩu vị mọi người khi ăn xong chỉ khen ngon hay dở mà thôi.

Cách nấu canh chua cá chuẩn vị Nam Bộ - Bếp Eva

Nồi canh chua của Má cũng dung dị như bao nồi canh chua khác. Nhưng với tôi nồi canh chua của Má lại có tính triết lý dạy cho tôi biết vận dụng trong cuộc sống và ngộ ra được nhiều điều.

Ở công ty, tôi biết coi trọng chị nấu bếp, anh lái xe, người bảo vệ… Tôi không coi tôi là một khúc cá, me và bạc hà để quyết định nồi canh chua, chính họ - ngò, ớt, hành… là những nguyên liệu quan trọng kết dính để phát triển công ty, và tôi đã thành công.
Với con tôi, tôi là người cha, người bạn, người thầy và cả là người em nữa.
Mọi người tin tôi không? “Bố ơiiiiiii tắm con”
“ Yes Sirrrrrr “ !!!

Được Má chỉ dẫn phương thức nấu nhưng tôi chưa bao giờ nấu được nồi canh chua ngon như Má tôi.
Nhân ngày họp mặt, anh em đề nghị tôi nấu nồi canh chua, tôi tận dụng mọi kỹ năng của mình để hoàn thành nồi canh chua thật to đãi các anh em.
Đang ăn cơm, tôi thấy mọi người ăn trầm ngâm và đăm chiêu, đến khi đứa em út thốt lên một câu “Ăn canh chua làm em nhớ Má!“, từng đôi đũa để chầm chậm xuống bàn, mọi người từ từ đứng dậy không nói với nhau lời nào, tôi biết anh em đang hoài niệm lại ngày Má còn sống bên tuổi ấu thơ của chúng tôi.

Canh chua cá miền Nam đánh bay nắng nóng


Nồi canh chua của tôi nhạt nhẽo!
Nồi canh chua tôi nấu dư thừa của người có tiền, còn Má tôi phải đi từ đầu chợ đến cuối chợ trả giá, mua con cá vừa phải, xin thêm người bán cọng ngò trái ớt … vì túi tiền eo hẹp.
Nồi canh chua, tôi nấu nhanh chóng vì có người giúp việc.
Nồi canh chua của Má tự tay làm có pha mồ hôi và nước mắt vì khói củi cay xè.
Canh chua của tôi vừa ăn có nhạc du dương, còn canh chua của Má chỉ có mồ hôi và tiếng xì xụp, đũa muỗng lanh canh của mười đứa con đang đói.
Canh chua của Má tràn ngập thương yêu có sự đợi chờ chồng và các con về trong hạnh phúc đầy mãn nguyện, còn canh chua của tôi thì mau chóng, no nê và thừa thải.

Cơm Bắc tự chọn cho bữa trưa công sở Sài Gòn

Má tôi luôn luôn là người ăn sau cùng, có lần nghe thằng Út nói lại với tôi:
“Má mút lại những cái xương cá của anh em mình đó anh!”
Em hỏi Má, Má quay đi chỗ khác và nói
“Tụi con ăn phí quá!”
Đây là bài học có lẽ tôi không bao giờ quên cho đến khi xuôi tay nhắm mắt.
Nếu tôi được một điều ước, tôi sẽ ước Má tôi sống lại để anh em tôi được phụng dưỡng Má, dù tạo hóa có lấy đi bao nhiêu tuổi thọ của tôi cho điều ước đó tôi cũng vui vẻ chấp nhận, mãi được ôm Má vào lòng và gọi hai tiếng: “Má Ơi”.

Đỗ Cường

Phương Tuyền sưu tầm

 

Xem thêm...

TẾT TRUNG THU

TẾT TRUNG THU

Thanh Thương Hoàng

✧✧✧✧

Thời thơ ấu của chúng ta ai chẳng trải qua những "Tết Trung Thu rước đèn đi chơi" và rồi sau đó xúm xít quây quần bên nhau "phá cỗ". Những tiếng trống ếch, những tiếng hát hồn nhiên trong sáng của từng đàn trẻ thơ đi dưới trăng rằm sáng vằng vặc đã đeo đẳng theo đuổi chúng ta trong suốt cuộc hành trình dài dằng dặc của đời người. Trăng Thu bây giờ ở xứ người vẫn sáng vằng vặc nhưng hình như không phải trăng xưa! Nhưng dù sao chúng ta cũng "trông trăng" để tưởng nhớ... Hôm nay tôi ngồi viết những giòng chữ này với một tâm trạng bâng khuâng, ngậm ngùi, nuối tiếc những cái đã qua, đã mất, không bao giờ còn lấy lại được nữa. Ôi, những đêm trăng rằm tháng tám thời thơ ấu...

Ông Nội tôi - một ông "đồ Nghệ"- sinh "bất phùng thời", giữa lúc thiên hạ bỏ chữ Nho học chữ Tây, ông mang gia đình rời bỏ thành thị về chốn thôn quê hẻo lánh thuộc một tỉnh sát biên giới Việt Hoa để hành nghề "thầy đồ" với đám học trò ngu ngơ chưa theo kịp trào lưu mới.

Tết Trung Thu năm đó tôi được 8, 9 tuổi. Chúng tôi háo hức chờ đợi cái ngày này từ cả tháng trước. Với tuổi thơ chúng tôi chỉ có hai ngày trong một năm vui vẻ và sung sướng nhất là Tết Nguyên Đán và Tết Trung Thu. Năm đó, trước Tết Trung Thu một ngày, ông Nội tôi tập họp tất cả bọn học trò lại. Có khoảng ba chục tên, tuổi từ 8 tới 15, 16. Thì ra ông cụ giảng giải cho chúng tôi về sự tích (huyền thoại)Tết Trung Thu. Hơn nửa thế kỷ trôi qua rồi nên tôi chỉ còn nhớ mang máng những điều ông kể. Vậy cứ xin viết ra đây.

Theo truyền thuyết, Tết Trung Thu bắt đầu từ đời Nhà Đường bên Tầu, dưới trào vua Duệ Tôn (tức Đường Minh Hoàng). Đêm rằm tháng tám năm đó thấy vầng trăng tròn trịa tỏa ánh sáng vằng vặc khắp thế gian, đẹp quá, thơ mộng quá, nhà vua nổi hứng cùng viên nội giám lặng lẽ rời khỏi cung điện vi hành ra ngoại thành để hưởng cảnh trăng thanh gió mát giữa chốn thiên nhiên bao la bát ngát. Vua tôi hai bóng cứ mải mê lội dưới trăng đi mãi tới một ngôi chùa mà không hay biết.

 

Ngôi chùa u u minh minh, như ẩn như hiện trong không gian bàng bạc một mầu trắng tinh khôi, như sương như tuyết, khiến nhà vua có tâm hồn thi sĩ bàng hoàng tưởng mình lạc vào cõi niết bàn. Còn đang lòng hỏi lòng thực hay mơ thì nhà vua nhìn thấy một lão tăng đầu tóc bạc phơ râu dài quá ngực, từ chánh điện chống thiền trượng ung dung bước ra cung kính cúi đầu làm lễ trước nhà vua. Nhà vua chưa hết ngạc nhiên thì lão tăng lên tiếng: "Đêm trước lão tăng trong giấc ngủ mơ màng thấy rồng vàng xuất hiện trước chùa. Sáng ra lại nghe tiếng con chim khách kêu vang nơi cây bồ đề bên hiên, lão tăng đoán chắc có đại quý nhân viếng thăm. Ngóng chờ mãi từ sáng tới giờ mới thấy mặt rồng xuất hiện".

 

Nhà vua chối, nói mình chỉ là một kẻ lãng du mải dong duổi theo ánh trăng lạc tới chốn này, lại tình cờ gặp được đại sư, âu cũng là có chút căn duyên, vạn hạnh. "Dường như trong lòng đại nhân đang mơ màng ao ước được nhập cõi thần tiên?". Lão tăng hỏi. Nhà vua đáp: " Đó là một ước mơ từ bao đời con người mong muốn. Nhưng làm sao có được, dù chỉ trong khoảnh khắc". Lão tăng chợt cất tiếng cười sang sảng như tiếng chuông vàng nổi lên giữa đêm thanh vắng tĩnh mịch, rồi nói: "Không có gì khó cả, nếu đại nhân muốn sẽ được toại ý!". "Nếu được vậy thật vạn hạnh cho kẻ này!". Liền đó lão tăng giơ cao cây thiền trượng lên trời, miệng lẩm nhẩm đọc thần chú gì đó, phút chốc biến thành một chiếc cầu vồng ngũ sắc. Đầu trên giáp cung Quảng Hàn, đầu dưới giáp mặt đất. Lão tăng cầm tay nhà vua đi lên cầu vồng, chỉ giây lát đã bước vào cõi thần tiên nơi cung trăng. Nhà vua thấy hiện ra từng bầy tiên nữ xiêm y đủ mầu sặc sỡ cầm tay nhau múa hát khúc Nghê Thường. Tiếng chim hót hòa với tiếng sáo, tiếng đàn thánh thót vang lừng trong gió ngợi ca mùa xuân bất tận. Rồi hoa, rồi lá, rực rỡ bát ngát muôn hương sực nức. Quả là cõi tiên có khác trần thế. Dường như bốn mùa đều là mùa Xuân !

 

Nhà vua còn đang ngất ngây nơi cảnh tiên thì bất ngờ lão tăng cất tiếng: "Ta về thôi, cảnh tiên chỉ nên hưởng vậy thôi!". Lão tăng vừa dứt lời, trong chớp mắt nhà vua đã thấy mình đứng bên cạnh viên nội giám và nhìn lại không thấy lão tăng đâu nữa. Trở về cung điện, để kỷ niệm ngày du Nguyệt điện, nhà vua bèn đặt ra Tết Trung Thu và chỉ dẫn dân gian làm những cái bánh tròn trịa tượng trưng hình mặt trăng. Do đó hàng năm dân gian tới ngày rằm tháng tám trăng tròn là tổ chức ăn bánh uống rượu ngắm trăng. Người ta còn gọi Tết Trung Thu là tết trông trăng. Và cũng từ đó bọn trẻ con được "ăn theo", lâu dần theo thời gian biến thành Tết trẻ con "đêm trung thu rước đèn đi chơi" và người lớn trở thành "ăn theo".

 

Kể xong câu chuyện ông Nội tôi vuốt chòm râu dài bạc trắng, cười nói: "Vậy các con hãy vui chơi thỏa thích đi. Tuổi thơ thần tiên của đời người ngắn lắm. Ngắn như ông vua lên cung Quảng vậy. Thoáng đấy đã mất rồi! Chỉ ít năm nữa thôi các con sẽ trở thành người khác".

 

Năm sau ông Nội tôi mất, gia đình tôi dọn về Hà Nội. Thủa đó, bọn trẻ chúng tôi sống ở miền Bắc, tùy theo hoàn cảnh gia đình giầu nghèo được bố mẹ mua sắm cho những đồ chơi cũng như bánh kẹo. Con nhà giầu thì ngoài những bộ quần áo "hộp" ra (tất nhiên) được bố mẹ sắm cho những đồ chơi "cao cấp" như đèn kéo quân, tiến sĩ giấy, đèn lồng (bằng giấy đỏ) , đèn con cá, con rồng...

 

Buổi tối ngọn nến nhỏ bên trong những cái đèn này được thắp lên và bọn trẻ tụ họp thành đàn đi theo các "đàn anh" múa lân diệu võ dương oai, diễu hành khắp phố với tiếng trống ếch, phèng la khua rộn rã. Diễu hành hết đường nọ phố kia tới khi trăng lên đỉnh đầu tròn vành vạnh mới kéo nhau về nhà "phá cỗ". "Cỗ" là những chiếc bánh nướng nhân thập cẩm và những chiếc bánh dẻo nhân đậu xanh hay trứng. Ngoài ra còn những cái bánh nho nhỏ hình con cá, con gà, ngôi sao… Còn con nhà nghèo thì cũng cố tự tạo cho mình (hoặc nhờ bố làm giúp) một cái đèn và cũng "dung giăng dung giẻ" vui chơi như ai.

 

Bọn trẻ con Hà Nội thủa đó hay "bắt" bố mẹ dẫn tới phố Hàng Gai và Hàng Thiếc. Hai phố này chuyên bán đồ chơi Trung Thu cho trẻ con. Phố Hàng Gai thì bán đủ các loại đèn Trung Thu. Nhà nào nhà nấy trưng bầy đầy ắp trước cửa hàng những chiếc đèn đủ hình thù lồng giấy kính mầu đỏ sặc sỡ vô cùng hấp dẫn với bọn nhỏ. Còn Hàng Thiếc thì bầy bán các đồ chơi làm bằng thiếc. Nào tầu bay, tầu thủy, ô tô cho tới con thỏ, con chim, con cá. Những thứ này cũng sơn xanh đỏ vàng trắng đủ mầu nhưng không có "trang bị" máy móc như ngày nay nên máy bay, ô tô, chim cò không bay được, phải dùng tay đẩy, hoặc buộc giây kéo đi.

 

Còn bánh trung thu muốn mua bánh ngon nổi tiếng phải tới phố Hàng Buồm của người Tầu, có hai hiệu Đông Hưng Viên và Mỹ Kinh. Họ làm những chiếc bánh nướng và bánh dẻo rất lớn đặt trên cái mâm gỗ "triển lãm" trước quầy hàng trông thật hấp dẫn và gợi thèm muốn. Nhà giầu thì mua cả mâm bánh, còn nhà nghèo thì cũng ráng mua cho được hộp bánh có hai bánh nướng, hai bánh dẻo. Những cái bánh Trung Thu thời đó chúng tôi được ăn tới bây giờ vẫn còn thấy ngon, mặc dầu bánh thời nay đặc sắc hơn nhiều!

 

Sau này vào Saigon lập nghiệp, các con tôi mỗi Tết Trung Thu tới, chúng nó ngoài bánh trái còn được mua cho những đồ chơi như máy bay, tầu thủy, xe tăng, chim cò sản xuất bên Nhật, bên Mỹ trang bị máy móc rất "hiện đại". Chỉ việc bấm nút điều khiển là máy bay, xe hơi phóng ào ào, chim cò bay nhẩy loạn sạ. Nhưng chúng chỉ vui chơi một thời gian ngắn là dẹp bỏ liền không thương tiếc. Trong khi ngày trước chúng tôi vẫn nâng niu từng cái đèn, từng món đồ chơi và giữ gìn như những vật thân thương, cất đi mùa sau dùng tiếp. Tôi nhớ nhà có một lồng đèn kéo quân đẹp lắm, mẹ tôi cất giữ đến hơn mười năm.

 

Nhưng khi nhìn đám con tôi tay cầm lồng đèn nhập bọn với lũ trẻ trong Làng Báo Chí vừa đi vừa cất tiếng hát vang. Nào là: "Tết Trung Thu rước đèn đi chơi. Em rước đèn đi khắp phố phường...". Nào là: "Bóng trăng trắng ngà, có cây đa to, có thằng Cuội già ôm một mối mơ...". Lòng tôi không khỏi bâng khuâng sao xuyến. Dĩ vãng cứ thế ùa về.

Khi bị bắt đưa lên trại tù cải tạo Gia Trung thuộc miền cao nguyên Pleiku, quả thực gần mười năm trời tôi không hề nhớ trên đất nước này còn có cái ngày gọi là Tết Trung Thu. Có bao giờ chúng tôi được nhìn trăng lên đâu. Mới 6, 7 giờ tối đã bị nhốt vào "chuồng" kín mít. Thế mà khi nhận được lá thư của đứa con gái thứ ba gửi, tôi ôm mặt suýt bật khóc. Trong thư con tôi viết: "Bố ơi, Tết Trung Thu năm nay nhà mình không có tiền mua nổi một chiếc lồng đèn nhỏ cho út Thư chơi. Con thấy nó đứng trước cửa nhà lặng nhìn lũ trẻ hàng xóm rước đèn đi qua với tất cả sự thèm thuồng khao khát. Tội nghiệp em con quá!".

 

Bây giờ sang đất Hoa Kỳ gần 10 năm, cứ tới ngày rằm tháng tám là tôi lại một mình đối bóng nhìn trăng. Hộp bánh Trung Thu bạn bè mua cho tôi để đến mốc trong tủ lạnh. Tôi không còn thấy hứng thú việc thưởng thức bánh ngọt, uống ly trà thơm nhìn trăng lên nữa. Câu nói của ông Nội tôi hồi nhỏ như còn vẳng bên tai: "Tuổi thơ thần tiên của đời người ngắn lắm. Ngắn như ông vua lên cung Quảng vậy. Thoáng đấy đã mất rồi. Chỉ ít năm nữa thôi các con sẽ trở thành người khác".

 

Trong cuộc đời tôi đã trở thành "người khác" nhiều lần! Đêm nay, lại thêm một rằm tháng tám nữa tới. Vẫn như mọi năm, không có tiếng trống ếch với từng đàn trẻ thơ rước đèn ca hát dưới trăng. Nhà nhà không có giăng đèn kết hoa, cửa đóng kín. Ngoài đường im ắng, thỉnh thoảng một tiếng xe hơi phóng vụt qua. Bỗng dưng tôi nhớ tới hai câu thơ của cụ Tản Đà:

 

"Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi.

Trần thế em nay chán nửa rồi"

 

Trăng Thu bây giờ ở xứ người vẫn sáng vằng vặc nhưng hình như không phải trăng xưa... Và tôi đang là "thằng Cuội già" ngồi dưới gốc cây đa to "ôm một mối mơ"?!

 

 Thanh Thương Hoàng

 

 

 Tiểu sử tác giả Nhà Văn, Nhà Báo

Thanh Thương Hoàng

 

Nhà văn, nhà báo Thanh Thương Hoàng tên thật là Nguyễn Thanh Chiểu, nguyên quán Nghệ An . Sinh năm 1930 tại Hải Ninh, Bắc Việt.

1953: Vào Saigon.

1954: Khởi sự viết văn, viết báo. Ðã xuất bản 12 tác phẩm gồm truyện dài, truyện ngắn.

 

Trước 1975: Ký giả, Chủ bút, Chủ nhiệm, Tổng Thư Ký nhiều tờ báo lớn ở Saigon, Chủ tịch Nghiệp đoàn Ký giả Việt Nam và là sáng lập viên Làng Báo chí Việt Nam tại Thủ Ðức.

 

Sau 30 tháng Tư, 1975: bị đi tù "học tập cải tạo" trong nhiều trại tập trung ngót 10 năm về tội "văn nghệ sĩ báo chí phản động".

Tháng 5, 1999: Do sự can thiệp của các hội đoàn, cơ quan ở hải ngoại và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, ông đã được sang định cư tại Hoa Kỳ. Hiện ông cư trú tại San José, California và vẫn tiếp tục viết báo, viết văn.

---------------

Ý nghĩa của chiếc lồng đèn Trung Thu truyền thống

món quà tuổi thơ của biết bao thế hệ

Những chiếc lồng đèn đủ sắc màu được chế tạo từ các vật dụng gần gũi với đời sống hằng ngày như giấy, vải, lụa, giấy nilon nhiều màu, tre và nến nhưng lại chứa đựng rất nhiều ý nghĩa khác nhau. Chiếc lồng đèn trung thu truyền thống có đa dạng hình dáng như đèn cá chép, đèn ông sao, đèn kéo quân,... đã trở thành món quà chất chứa bao hoài niệm tuổi thơ của mỗi người và mang nhiều ý nghĩa khác nhau.

Lồng đèn ông sao

Đây là loại lồng đèn phổ biến nhất đối với người Việt Nam trong dịp rằm tháng Tám. Không khó để bắt gặp những chiếc lồng đèn đủ sắc màu với hình dáng ngôi sao năm cánh được bao bởi một vòng tròn được bày bán ở hầu hết các cửa hàng. Loại lồng đèn này có cách tạo khá đơn giản, ban đầu được làm từ loại giấy nilon ngũ sắc và về sau này thì các nghệ nhân còn trang trí thêm các hoạt tiết, dây kim tuyến đủ màu trông bắt mắt và hợp thời đại hơn.

Hình ảnh ngôi sao 5 cánh được bao bọc bởi vòng tròn tượng trưng cho ngũ hành âm dương trong phong thủy, vì thế chiếc lồng đèn này tượng trưng cho sự cân bằng và hài hòa của các mối quan hệ trong đời sống, giữa người với người và giữa người với thiên nhiên vạn vật.

Lồng đèn cá chép

Đèn cá chép là một trong những lồng đèn truyền thống và mang nhiều ý nghĩa đối với trẻ em. Hình ảnh cá chép không chỉ gắn liền với những truyền thuyết thời xa xưa mà còn hiện diện trong đời sống của người dân Việt Nam từ bao đời nay.

Cá chép xuất hiện trong truyền thuyết vượt vũ môn để hóa rồng, là phương tiện đưa ông Táo về trời vào ngày 28 tết âm lịch hằng năm,... Vì thế chiếc lồng đèn cá chép mang ý nghĩa biểu trưng cho sự cố gắng không ngừng và vươn lên vượt khó trong mọi hoàn cảnh. Ngoài ra, lồng đèn cá chép còn được trang trí rất lung linh và lộng lẫy với giấy nilon đỏ cùng các họa tiết đủ màu khác.

Lồng đèn kéo quân

Có nguồn gốc từ Trung Hoa nên chiếc lồng đèn kéo quân này gắn liền với ý niệm tưởng nhớ đến vua Lục Đức, một người vừa tài giỏi mưu lược lại còn giàu lòng hiếu nghĩa trong xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ.

Chiếc lồng đèn mang ý nghĩa tượng trưng cho sự hiếu thảo, tình yêu thương của những người con dành cho ông bà cha mẹ.

Lồng đèn tròn

Ở Việt Nam, lồng đèn tròn là loại thường được bán suốt cả năm, giống như đèn ông sao, vì thế nó không chỉ phục vụ cho hoạt động vui chơi rước đèn của trẻ em trong dịp Trung thu mà còn được dùng để trang trí. Với hình dáng tròn và lấp lánh bởi ánh nến phát ra từ bên trong, người ta cho rằng đây là biểu tượng cho mặt trăng vào ngày rằm tháng tám, vừa tròn lại vừa sáng rực. Hiểu rộng ra thì đây còn thể hiện cho sự tôn vinh nét đẹp nhẹ nhàng của thiên nhiên (ánh trăng) cùng ước nguyện cảm tạ trời đất cho một mùa màng bội thu.

 

 
 

Hình minh họa- internet

Kim Quy st

 
Xem thêm...

Thư Gửi Người Em Saigon - Yên Sơn

Thư Gửi Người Em Saigon

Yên Sơn

 

Để hồi đáp bức thư “Lâu Ghê Mới Gặp!” (*)

Còn có khi nào mình gặp lại
Chút tình miên viễn trả hư không

 

LÁ THƯ GỬI NGƯỜI EM GÁI của Nhạc Sĩ ĐOÀN CHUẨN !! | www.cuuhocsinhphuyen.com

Kingwood, ngày… tháng… năm…

Mình đã gặp lại nhau, đi với nhau trọn một tuần lễ đầy – dù hầu hết đi với đại gia đình của anh ngoài một vài lần riêng lẽ, nhất là lần cuối cùng ngồi đối diện nhau trong quán café quen thuộc – mà vẫn không thể nói được tất cả điều thầm kín trong cùng tận đáy lòng. Nay, nhân dịp hồi đáp thư em gửi, anh mượn nó để nói hết những gì cần nói một lần rồi thôi.

Anh không biết là em vô ý viết lộn hay cố tình viết lộn con số thời gian? 40 năm chứ đâu phải 20 năm hả em! Rất có thể em cố tình để nghe nó nhẹ bớt những trải nghiệm đau thương trong đời sống của mỗi chúng ta; hay là để nghe cho có lý về một cuộc tình dang dở của đôi tình nhân sau một thời gian dài biệt tăm, mất bóng. Phải rồi, đâu có ai phải đau thương trong hoài vọng suốt hơn nửa đời người phải không em? Sẽ rất khó cho người ta tin một người con gái có dư điều kiện, có thừa bản lãnh, thông minh, xinh đẹp như em mà vẫn sống như một loại chùm gởi trên thân cây Việt Nam ruỗng mục 40 năm dài!

Về lời bài hát “Gửi người em gái miền Nam” Nhạc Đoàn Chuẩn, lời Từ Linh,  Phố núi và bạn bè... Chút gì để nhớ!

Vâng, chúng mình đã không gặp nhau 40 năm dài; thời gian có thể đã dài cho một số phận nhỏ nhoi nào đó. Nhìn chung quanh quán café anh cũng thấy hoàn toàn khác lạ so với khung cảnh ấm cúng, riêng tư thuở nọ. Dĩ nhiên 40 năm mọi việc đã đổi khác hơn nhiều, nhưng có quá nhiều cái đổi khác làm cho người Saigon cũ nhức nhối, làm cho anh trở thành lạc lõng, xa lạ trên chính quê hương mình. Anh có cảm tưởng mình đang ở một đất nước nào đó ở thế giới thứ ba chứ không phải chính giữa Saigon, Hòn Ngọc Viễn Đông của thời trước 1975. Cảm tạ ơn trên em không quá thay đổi theo cái xã hội bát nháo, vô cùng rối loạn nầy mặc dù chúng ta có già hơn xưa rất nhiều. Chúng ta đã gần đi trọn một cuộc đời; tóc anh đã bạc gần trắng đầu và tóc em cũng đã lốm đốm màu sương… dù anh có vẻ ngạc nhiên khi nhận ra em không có quá nhiều thay đổi như những người đàn bà trang lứa.

Anh thật sự rất ngạc nhiên đến ngỡ ngàng để biết, để nghe em kể về đời sống của riêng em. Anh dù có nằm mơ cũng không thể tưởng tượng được một người con gái giỏi giang, đầy kiêu hãnh đến cao ngạo như em lại có một cuộc đời thật lạ. Đâu có ai có thể tưởng tượng sau bao nhiêu thăng trầm, lăn lộn trong cuộc sống mà em vẫn là một người con gái trinh bạch!

Anh xin lỗi đã xỉ vả, mắng mỏ cái thằng đàn bà – Lã Quới Vỹ – đã làm hỏng đời em. Nó là ai mà dám đối xử thậm tệ với em như vậy? Anh bất cần nó là ai, nếu nó còn thô bạo như vậy anh sẽ không tha nó đâu nếu anh gặp lại. Thấy em chống đỡ yếu ớt rồi ngồi im không nói anh càng nổi giận. Anh không biết tại sao anh giận dữ như vậy nếu không phải vì tình yêu em còn sâu đậm nhường ấy. Vâng, anh còn yêu em nhiều lắm nhưng… yêu để mà yêu, để mà tiếc một thời đã qua chứ anh bây giờ đang có một gia đình hạnh phúc, một người vợ tuyệt vời, anh không đòi hỏi gì hơn và anh cũng biết em rất vui khi biết như thế.

Mặc dù em đã hai lần lắc đầu khi anh ngỏ lời cầu hôn với em năm xưa. Cho tới bây giờ anh vẫn không biết tại sao em lại làm như vậy trong khi em đã làm tất cả những gì của một người đang yêu chứ đâu phải riêng anh tự biên tự diễn, yêu đương một chiều. Bằng chứng cho đến bây giờ em vẫn còn yêu anh mới nhận lời gặp anh, đi chơi chung với đại gia đình cả một tuần lễ; nói với anh những lời tử tế, chia sẻ với anh những vui buồn của cuộc sống mà nhất quyết không nhận ở anh bất cứ một thứ gì dù anh tha thiết ước muốn giữa lúc em có bao nhiêu khó khăn giăng mắc. Em vẫn kiêu kỳ, em vẫn là em.

Vâng, anh yêu em hơn là anh tưởng. Vài lần nắm được tay em cũng đã làm anh rung động chơn chất, giống như thưở ban đầu. Chúng ta đã cùng bật cười thành tiếng lần nắm tay nhau dưới gầm bàn trong một nhà hàng đông khách nọ. Nói đến đây anh lại nhớ những ngày xưa thân ái quá chừng. Ba Mẹ hai bên đã coi chúng ta như chồng vợ sắp cưới mà cũng chỉ được vài lần lén lút hôn nhau khi xe lửa qua hầm Đèo Cả trong lần anh xin phép đưa em về thăm quê hương Miền Trung của anh. Những nụ hôn vụng trộm để lại men say chất ngất giữa lòng trời đêm đầy trăng sao vời vợi. Em nói đúng, em là hiện thân của một dĩ vãng tuyệt vời của chúng ta, là đại diện của một Saigon dấu yêu đã thất lạc trong anh, trong lòng những người Sagon xưa cũ. Kể từ hôm em dứt khoát lắc đầu khi anh nói với em sẽ không có lần nữa; anh cay đắng rời khỏi sân trường, rủi dong chinh chiến, rồi vận nước điêu linh đưa đến suy tàn, anh đã theo dòng người vượt thoát làn sóng đỏ bắc phương.

Người phương bắc như em đã chứng kiến 40 năm qua, đâu có ai tin vào sự hoang đường giả tưởng mỵ dân của những kẻ rao giảng giải phóng ngoài những tên đồ tể lợi dụng lớp bọc để mưu cầu lợi ích riêng tư. Ai giải phóng ai tự nó đã trả lời. Chiếm miền Nam để đưa toàn dân đến thiên đường xã hội chủ nghĩa!? Thiên đường mù đó đã chứng minh là một bánh vẽ vô duyên, trâng tráo khi dân quân miền Bắc tiến vào thủ đô Saigon. Thế giới đại đồng của họ là một bình phong cho những cướp giựt trắng trợn; tình đồng chí của họ là những bao che cho nhau giữa những lục lọi, chiếm đoạt, giết chóc, hà hiếp miền Nam. Họ hô hào Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc cho ai nếu không chỉ dành riêng cho chính họ – những người miền Bắc đói kém và gia đình cách mạng điên cuồng ăn bánh vẽ! 40 năm! Một đất nước đầy tài nguyên, không có chiến tranh; một dân tộc cần cù chịu khó, thông minh… lại đứng gần áp chót của nghèo khổ, chậm tiến. Chưa kể tới một xã hội Việt Nam càng ngày càng băng hoại; từ tình cảm con người với con người, tới học đường, văn hóa, chính trị; đến tất cả cơ quan công quyền từ anh công an đứng đường cho đến quan chức ở thượng tầng lãnh đạo!

Thôi em nhé, dẹp hết đi, mình nói chuyện hiện tại, kẻo không máu của anh lại trào ra mắt, niềm tức giận làm nghẹn cả cổi, đầu óc mụ mị, u tối thêm.

Em hỏi anh gia đình vợ con ra sao, hạnh phúc không? Anh chưa kịp trả lời thì em đã rào đón trước, “đừng có than vợ khen con như hầu hết quý vị đàn ông mà em thường gặp. Và em chỉ muốn nghe chuyện của cá nhân anh thôi.” Em à, trước nhất anh không phải những người đàn ông em đã gặp; em biết tính anh mà, nếu không thể tốt hơn thì chẳng thể nào tệ hơn so với những ngày xa em. Một tuần đi chơi chung với gia đình chắc em cũng đã cảm nhận điều đó. Dù chúng ta cũng đã có lúc ngồi riêng với nhau nhưng sao vẫn không nói được điều muốn nói đang cháy bỏng trong lòng. Cá nhân anh không có thành tích gì đặc biệt và đáng hãnh diện cho lắm. Nhưng hãy xem như chúng mình là hai người bạn thân lâu ngày gặp lại; em hỏi anh trả lời thật thà, đứng đắn để biết về nhau thôi chứ không nhằm khoe cái hạnh phúc của riêng anh trước một cuộc đời em cay nghiệt.

Theo em biết đó, ngày cuối Tháng Tư 1975 anh đã phải chạy mất dép, bỏ lại cả gia đình cha mẹ anh chị em. Được bà Mẹ nuôi người Mỹ bảo trợ anh ra khỏi trại tỵ nạn sau vài tuần lăn lóc mất định hướng. Ra khỏi trại tỵ nạn ngày Thứ Bảy, sáng Chủ Nhật bà dắt đi nhà thờ để cảm tạ Chúa, Thứ Hai đi làm bán thời gian với một người bạn nhà thờ của Bà ấy… Kể từ đó, cuộc đời anh với bao nhiêu thăng trầm, nghiệt ngã… vì anh có nghề ngỗng gì đâu ngoài nghề học trò và nghề làm lính chiến! Anh đã cố gắng tối đa trở lại trường, vùi đầu vào sách vở, vừa đi làm vừa đi học, để không có thì giờ trống nghĩ ngợi, thương nhớ và lo lắng về gia đình vốn không có một tin tức nào, không biết trôi nổi ở đâu. Ba năm sau anh lập gia đình với một cô bạn học chung trường, chung lớp khi được tin Ba Mẹ anh chị em vẫn được bình an, chỉ tội cho anh Ba đã bị chúng nó đày ải trong các trại tù gọi tên cải tạo lâu dài.

Mãỉ tới năm 1980, vợ chồng anh mới xong đại học và cùng lúc chào đón đứa con trai đầu lòng; ba năm sau thêm một cô nương xinh xắn. Hai vợ chồng lại lao đầu vào thương mại nhưng không thành công cho lắm sau sáu năm xoay trở đủ chiều. Anh muốn có bốn đứa con cho vui nhà vui cửa nhưng trời chỉ cho có ba đứa. Cậu con trai út cách chị nó 6 tuổi. Hiện tại lũ nhỏ đã khôn lớn, đứa nào cũng đã học xong bốn năm đại học, riêng con bé học lên tới Cao học về Quản trị Tài chánh và cũng là đứa duy nhất đã an bề gia thất. Riêng anh đã nghỉ hưu vài năm rồi trong khi bà xã còn vài năm nữa mới chịu nghỉ.

Em nhắc lại bài thơ của em anh đã đọc thuộc lòng cho em nghe hôm sum họp. Em biết tại sao anh thuộc lòng bài thơ không có gì đặc sắc đó so với vô số bài viết giá trị của em không? Chắc em đã biết nhưng anh muốn một lần nói ra cho nhẹ lòng. Đó là vì anh ghen, anh tức, anh tự ái. Em từ chối lời cầu hôn của anh để rồi làm thơ cho mấy thằng Mi, thằng Thức! Thằng Mi dở dở ươn ươn sao sánh bằng anh được; còn thằng Thức thì hết bồ ny tới bồ khác, đâu phải túyp người của em! Cho đến sau nầy anh mới nghiệm ra rằng em chỉ cố tình trêu chọc anh một cách vô tâm, hoặc cố ý thử lòng anh vậy thôi… ai ngờ sự thiếu chín chắn, thiếu kiên nhẫn của anh đã làm nên cảnh chia ly lâu dài. Suy đi nghĩ lại chỉ có anh mới xứng đáng làm người yêu, làm chồng của em thôi – không phải anh hợm mình như em biết đó – nhưng tại sao em cương quyết chối từ? Nếu em nói còn ham chơi, còn tiếc thời con gái, muốn tự do thêm một thời gian nữa sao em không thẳng thắn nói với anh? Anh sợ mất em chứ anh cũng đâu có gấp muốn lập gia đình! Lứa tuổi đôi mươi lo thân chưa được thì làm sao nuôi vợ nuôi con hả em? Tất cả chỉ vì anh quá yêu em và sợ mất em. Anh sợ mất em, đơn giản chỉ có thế thôi!

Hôm gặp em lần cuối trước khi rời Việt Nam, anh ao ước em có thể tới phi trường tiễn anh đi; vậy mà em lắc đầu. Lại lắc đầu! Anh cũng biết sự chia tay nào cũng buồn bã nhưng kinh nghiệm cái lắc đầu của em lần đó, anh sợ mình không đủ thời gian để chờ đợi thêm 40 năm nữa. Anh cố nài nỉ để nghe em nói “nếu có bao giờ anh thong dong tự tại một mình, anh thu dọn về đây sống với em những ngày tháng cuối đời.” Anh nói, “em chọc anh thôi chứ em cũng thừa biết là anh yêu vợ thương con đến nhường nào.” Em cười mỉm rồi cúi mặt để cho nước mắt lã chã rơi.

Em kể anh nghe giai thoại hài của bạn Ngọc nào đó của em – Chuyện “Lâu ghê mới gặp”. Mới đầu nghĩ lại anh bật cười khan một mình. Nhưng rồi, từ từ anh mới nghiệm ra… giai thoại cười của em kể dường như đầy ẩn dụ cay đắng đối với hoàn cảnh của chúng mình, của em. Thôi em à! Chuyện chúng mình đã là như thế, dù muốn dù không cũng nên chấp nhận thôi. Tình cảm anh với em cũng giống như tình cảnh Ba Má Ngọc. Họ cãi nhau, ly dị, nhưng trong lòng vẫn còn yêu nhau. Kịp đến khi nhận biết thì mọi chuyện đã muộn màng. Anh biết em vẫn còn yêu anh lắm và anh cũng đã nói với em “anh còn yêu em nhiều hơn anh tưởng”, nhưng số phận đã an bài cho mỗi chúng ta có riêng một lối về.

Xin hãy xem nhau như là một người bạn thân mến hơn bất cứ một người bạn thân mến nào. Mai sau – nếu không là 40 năm kế tiếp – chúng ta lại có dịp hạnh ngộ nhau lần nữa, dù chỉ để ngồi bên nhau, ngó nghiêng mà giải bày những u uất trong đời nhau như chúng ta đã làm trong mấy lần riêng lẽ vừa qua. Hãy nói với nhau bằng tất cả chân tình câu “Lâu ghê mới gặp” mà không cần phải tủi buồn, cay đắng gì thêm, em nhé.

Thương quý,

Yên Sơn

(*) Chú thích: Trích đoạn bài viết “Lâu Ghê Mới Gặp” của Nguyễn Thị Minh Ngọc:

“Bạn đồng nghiệp tấu hài của Ngọc gặp nhau cứ chào: “Chà! Lâu ghê mới gặp!” rồi ré lên cười từng cơn trước khuôn mặt bẽn lẽn với một chút gì hạnh phúc của má nó. Thấy em ngơ ngác, tụi nó kể:

– Cô Ngân biết không, đêm qua lúc nhắc tụi em nhớ đến dự lễ 49 ngày của Ba nó, Ngọc có kể hai giai thoại trong ngày ba nó mất.

Giai thoại một, ai cũng biết ba má nó ly dị nhau đã lâu. Hình như ba nó bị một tình địch hành hung lén, nặng tới độ phải đưa vào bệnh viện cấp cứu trong trạng thái hôn mê. Chỗ ông nằm tấp nập các cô vô thăm. Khi má đưa tay lên mũi của ông xem hơi thơ, ba nó bỗng cắn chặt ngón tay bà như muốn nói một điều gì rồi… ông tịch luôn. Các cô khóc rộ lên, bị má nó trừng mắt: “Câm ngay mấy con đĩ chó kia, chồng tao phải để tao khóc trước!” Khi các bà kia tạnh im phăng phắc xong, má nó mới bung người ra khóc như một người lĩnh xướng, các bà Hai, bà Ba, bà Tư mới nỉ non làm dàn đệm đồng khóc bè theo.

Giai thoại hai, má nó lãnh phần tắm rửa thi thể cho ba nó. Xong phần tay chân mặt mũi, xong đến cổ, thân mình, bụng… tới chỗ “đàn ông” nhất, bà khựng lại vài giây rồi thở ra, có lẽ với một chút ngậm ngùi: – “Chà! Lâu ghê mới gặp!”

 

-------

 Yên Sơn
Xem thêm...
Theo dõi RSS này