Âm nhạc

Âm nhạc (70)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Phong Trào Việt Hóa Nhạc Trẻ Sài Gòn 60s-70s

Phong Trào Việt Hóa Nhạc Trẻ Sài Gòn 60s-70s

 

nhactre_sg

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn “Phong Trào Việt Hóa Nhạc Trẻ Sài Gòn 60s-70s”, là một phong trào đã đóng góp cho nền âm nhạc Việt Nam một kho tàng nghệ thuật sáng tạo của các nhạc sĩ tiên phong từng làm mưa làm gió một thời ở nơi được mệnh danh là “La Perle De L’Extrême-Orient” (“The Pearl Of The Far East” – “Hòn Ngọc Viễn Đông”).

Nhạc Trẻ là một hiện tượng âm nhạc xuất hiện ở miền Nam Việt Nam vào đầu thập niên 1960s, ảnh hưởng bởi âm nhạc đương đại của Âu Châu và Mỹ Châu.

Nhạc kích động Âu Mỹ bắt đầu xâm nhập thị trường miền Nam vào cuối năm 1959. Giới trẻ, con của các thương gia và giới trưởng giả theo học chương trình Pháp thường nghe các loại nhạc kích động của Mỹ và Pháp. Phải đợi tới khoảng 1963-65, phong trào nghe nhạc kích động Tây phương bành trướng mạnh qua các buổi tổ chức khiêu vũ tại gia. Các danh ca của Hoa Kỳ như: Paul Anka, Elvis Presley, The Platters, của Anh như: Cliff Richard, The Shadows, The Beatles, The Rolling Stones, của Pháp như: Johnny Halliday, Sylvie Vartan, Françoise Hardy, Christophe, Dalida, vv…. là thần tượng của thanh niên nam nữ dưới 18 tuổi.

nhac-si-tien-chinh-duc-huy-billy-shane

nhac-si-tung-giang_truong-ky_jomarcel

Ban nhạc nữ đầu tiên Blues Stars năm 1969.

Ban nhạc nữ đầu tiên Blues Stars năm 1969.

Những ban nhạc trẻ kích động Việt Nam mang những tên: CBC, The Dreamers, The Uptight, The Blue Jets, The Spotlights (sau đổi thành The Strawberry Four với Tùng Giang [qua đời năm 2009], Ðức Huy [hiện ở Việt Nam], Tuấn Ngọc [hiện ở US] và Billy Shane [qua đời năm 1998] – cả 4 người này đều định cư ở US sau 30.4.1975).

 Ban_Nhac_CBC

 Một số ca sĩ Việt thích kèm theo tên ngoại quốc bên cạnh tên Việt như: Elvis Phương (hiện ở Việt Nam), Pauline Ngọc (hiện ở Ðức), Prosper Thắng (qua đời tại Pháp năm 1998), Julie Quang (hiện ở US), Carol Kim (hiện ở US), etc… Họ nổi danh với các bản nhạc ngoại quốc hát bằng lời Pháp và Anh. Những hộp đêm cho các quân nhân Hoa Kỳ mọc lên ngày càng nhiều từ 1968 trở đi nên càng khuyến khích số người hát nhạc tiếng Anh nhiều hơn nữa.

Năm 1963, Hội Ái Hữu Học Sinh của 2 trường JJ Rousseau và Marie Curie tổ chức một đêm liên hoan nhạc trẻ tại Vũ trường Đại Kim Đô với sự tham gia của nhiều ban nhạc trẻ.

Năm 1964, Đại Hội Nhạc Trẻ đầu tiên đã xảy ra tại thính đường Trường Trung Học Lasan Taberd do trường này tổ chức.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Biên (từ trái sang Vũ Xuân Hùng, Nguyễn Thế Hưng, Nguyễn Duy Biên, Vương Đình Thời-nhân chuyến đi Đà Lạt năm 1968).

 Từ trái sang: Vũ Xuân Hùng, Nguyễn Thế Hưng, Nguyễn Duy Biên, Vương Đình Thời – nhân chuyến đi Đà Lạt năm 1968).
 
Nhạc sĩ Lê Hựu Hà và Trường Kỳ (thập niên 1960s).
Nhạc sĩ Lê Hựu Hà và Trường Kỳ (thập niên 1960s).
 
ba-trai-tao_tuyet-huong-tuyet-dung-vi-van
Cuối năm 1964, rạp hát Văn Hoa tổ chức Đại Hội Kích Động Nhạc trong 5 đêm liên tục.
 

Ngày “Lễ Thánh Celcile” ở Trường Trung Học La San Taberd, 28 tháng 11 năm 1965, một Đại Hội Nhạc Trẻ khác được trường tổ chức với 17 ban nhạc trẻ tham dự.

Năm 1966, thêm một Đại Hội Nhạc Trẻ được Trường Trung Học La San Taberd tổ chức để gây quỹ cứu trợ người dân bị nạn lụt miền Tây có tất cả 23 ban nhạc trẻ tham dự trình diễn trong 6 giờ đồng hồ.

Phải đợi tới năm 1971 mới thấy xuất hiện “Đại Hội Nhạc Trẻ” được tổ chức tại “Sân Vận Động Hoa Lư” do NS Trường Kỳ (đã qua đời năm 2009 tại Montreal, Canada), Tùng Giang (đã qua đời năm 2009 tại California, Hoa Kỳ), và Nam Lộc (hiện ở Los Angeles, CA, Hoa Kỳ) đảm trách. Sự thành công mỹ mãn của “Đại Hội Nhạc Trẻ” lần này đã đẩy mạnh Nhạc Trẻ lên cao độ qua những năm kế tiếp:

– Năm 1971 tại Trường Trung Học La San Taberd với trên 10.000 khán giả tham dự.
– Năm 1974, tại Thảo Cầm Viên Sài Gòn với trên 20.000 khán giả tham dự).

Layout 1

Ca sĩ Elvis Phương_Ban Vampires-Thập niên 1960s.

Ca sĩ Elvis Phương và Ban Vampires, thập niên 1960s. 

Ca sĩ Vi Vân.

 Ca sĩ Vi Vân.

Trước sự bành trướng ồ ạt mạnh mẽ của nhạc ngoại quốc nổi tiếng vào miền Nam thời bấy giờ, khoảng năm 1972 nhạc sĩ Trường Kỳ đã chủ động mời gọi các nhạc sĩ bạn bè cùng thời với anh tham gia các buổi “Hội nghị bàn tròn” để cùng nhau thảo luận vấn đề “Việt hóa Nhạc Trẻ”. Trong số này gồm có: nhạc sĩ Nam Lộc, Vũ Xuân Hùng (anh em cột chèo với anh), Nguyễn Duy Biên (bạn nối khố từ thời Trung Học của Vũ Xuân Hùng), Tùng Giang, Kỳ Phát, etc… để rồi sau đó các nhạc sĩ này, được sự hậu thuẩn của NS Phạm Duy, đã đồng lòng (1) chuyển ngữ hoặc (2) đặt lời Việt cho các bản nhạc ngoại quốc nổi tiếng.

“Phong Trào Việt Hóa Nhạc Trẻ” được ra đời từ đây.

Cũng cùng khoảng thời gian đó ban Phượng Hoàng ra đời đưa đến cho giới trẻ một bất ngờ lý thú. Phượng Hoàng, với hai thành viên lãnh đạo Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang, chỉ trình diễn những bản nhạc do chính họ sáng tác, không dùng nhạc ngoại quốc như xưa nay, và lời ca tiếng Việt cũng do chính họ viết. Đây là ban nhạc trẻ thuần Việt đầu tiên.

Ca sĩ Bộ ba Carol Kim, Xuân Trang, Pauline Ngọc đang trình diễn cho một Club Mỹ năm 1974.

Ca sĩ Bộ ba Carol Kim, Xuân Trang, Pauline Ngọc đang trình diễn cho một Club Mỹ năm 1974.

Ca sĩ Cathy Huệ_Từ trái sang phải - Jo Marcel, Thanh Lan, Elvis Phương, Cathy Huệ tại Dancing Club Majestic, Nouméa (Tân Đảo), Nouvelle-Calédonie thuộc Pháp ngày 24-12-1974.

Từ trái sang phải – Jo Marcel, Thanh Lan, Elvis Phương, Cathy Huệ tại Dancing Club Majestic, Nouméa (Tân Đảo), Nouvelle-Calédonie thuộc Pháp ngày 24-12-1974.

ban-the-uptight-thuy-ha-tu

Những nhạc sĩ tiên phong trong Phong Trào Việt Hóa Nhạc Trẻ:

• Trường Kỳ
• Nam Lộc
• Vũ Xuân Hùng
• Nguyễn Duy Biên
• Tùng Giang
• Jo Marcel
• Lê Hựu Hà
• Nguyễn Trung Cang…

Dưới đây mình có các bài:

– Nhạc sỹ Vũ Xuân Hùng: Đã từng có một phong trào chuyển ngữ và Việt hóa nhạc trẻ
– Một thời nhạc trẻ Sài Gòn: Tưng bừng đại hội nhạc trẻ
– Một thời nhạc trẻ Sài Gòn: Học trò và ‘kích động nhạc’
– Một thời nhạc trẻ Sài Gòn: Hát trong club Mỹ
– Một thời nhạc trẻ Sài Gòn: Những ban nhạc tiếng tăm
– Một thời nhạc trẻ Sài Gòn: Phượng Hoàng, cánh chim ngược gió
– Một thời nhạc trẻ Sài Gòn: Ông vua làm đàn guitar điện ở Chợ Lớn

Cùng với 15 clips tổng hợp các buổi trình diễn của các ban nhạc trong “Phong Trào Việt Hóa Nhạc Trẻ Sài Gòn 60s-70s” để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

 

Túy Phượng tổng hợp 

 

Nhạc sỹ Vũ Xuân Hùng: Đã từng có một phong trào chuyển ngữ và Việt hóa nhạc trẻ

Nhạc ngoại lời Việt thời vang bóng: Trào lưu Việt hóa nhạc trẻ ... 

 Là tác giả chuyển ngữ của hàng trăm ca khúc nổi tiếng của những thập niên 60-70 tại Sài Gòn xưa. Ca khúc của Vũ Xuân Hùng đã trở nên quen thuộc với khán giả yêu nhạc…

Sau sự vụ bản quyền với ca sỹ Mỹ Tâm, nhóm PV Phununews tiếp tục có cuộc trò chuyện với nhạc sĩ Vũ Xuân Hùng tác giả của bài Anh Thì Không, để tìm hiểu thêm về gia tài âm nhạc cũng như những cuốn băng Tình Ca Nhạc Trẻ rất nổi tiếng Sài gòn thập niên 60-70 của ông.

MH – Thưa ông, được biết trước đây ông xuất thân từ một nhà giáo. xin ông cho biết nguyên nhân nào đã đưa đẩy ông từ lãnh vực giáo dục sang lãnh vực âm nhạc, sau đó ông lấn sang phần đất nhạc Trẻ, chuyển ngữ hàng trăm nhạc phẩm nước ngoài đã được các ca sĩ trong và ngoài nước trình diễn và thực hiện những cuốn Tình Ca Nhạc Trẻ nổi tiếng được đông đảo mọi người yêu thích ?

NS Vũ Xuân Hùng: Tôi xin vắn tắt là vào khoảng thời gian 1972 khi đang dạy học, tôi được ông Quốc Phong giám đốc hãng phim Liên Ảnh mời tôi về làm Tổng Thư Ký cho tờ tuần san Kịch Ảnh để cùng nhà văn Mai Thảo (chủ bút) làm mới cũng như trẻ trung hoá tờ báo Điện ảnh Ca nhạc nổi tiếng này.

Như bạn biết đó trong thập niên 60, 70 nhạc trẻ thế giới ồ ạt du nhập vào miền Nam. Giới trẻ Sài gòn thời ấy rất say mê nghe và thích trình diễn những ca khúc viết bằng tiếng Anh, tiếng Pháp.

Thậm chí những ca sĩ và ban nhạc Sài gòn lấy một cái tên nước ngoài đặt cho ban nhạc mình. Chúng tôi lo ngại sự bành trướng của cái phong trào nhạc trẻ này nên đã cùng nhà văn Mai Thảo, nhạc sĩ Phạm Duy, Trường Kỳ, Nam Lộc, Tùng Giang, Kỳ Phát, Nguyễn Duy Biên phát động một phong trào Việt Hoá Nhạc Trẻ. Với mong ước giới trẻ Việt Nam sẽ tự sáng tác và trình diễn những ca khúc trẻ nước ngoài bằng ngôn ngữ Việt Nam, bởi thế chúng tôi thường tổ chức tại Toà Soạn Kịch Ảnh các buổi “Họp mặt Bàn Tròn Nhạc Trẻ” cùng với sự tham gia của ca sĩ cũng như các ban nhạc trẻ nổi tiếng Sài gòn ngày đó để bàn về vấn đề trên.

Ban nhạc The Strawberry Four gồm Đức Huy, Tùng Giang, Tuấn Ngọc và Billy Shane (từ trái sang)

Kết quả sau đó là sự ra đời của ban Phượng Hoàng cùng những sáng tác thuần tuý, đậm chất Việt Nam của các nhạc sĩ Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang, Ban Mây Trắng (Tuấn Dũng, Trung Hành, Cao Giảng)… Đồng thời các ban nhạc, các nhóm ca cũng đã chuyển sang cái tên nghe Việt Nam hơn như: Ba Con Mèo (The Cats Trio), Ba Trái Táo (The Apple three), Ba Quả Chuông (The Golden Bells), Sao Xanh (The Blue Stars)…

Công sức đóng góp vào phong trào Việt Hoá Nhạc Trẻ là phần chuyển ngữ ca khúc từ tiếng Anh, Pháp, sang tiếng Việt của các nhạc sĩ Phạm Duy, Trường Kỳ, Nam Lộc, Tùng Giang, Kỳ Phát, Vũ Xuân Hùng, Nguyễn Duy Biên, Lê Hựu Hà, Tuấn Dũng, Trung Chỉnh…

MH – Phải chăng những cuốn băng Tình Ca Nhạc Trẻ 1,2,3 do Vũ Xuân Hùng và Nguyễn Duy Biên thực hiện cũng ra đời vào thời gian này? Thực hiện những cuốn băng đầu tiên này có những khó khăn ra sao?

NS Vũ Xuân Hùng: Vào thời gian đó tôi có suy nghĩ là muốn đẩy phong trào Việt hoá này mạnh lên hơn nữa thì phải phát hành những tập nhạc những đĩa nhạc dành cho giới trẻ, để họ có thể thưởng thức hoặc trình diễn bằng ngôn ngữ Việt nên tôi đã cùng anh Nguyễn Duy Biên, một người bạn nối khố từ thời Trung học, bắt tay vào thực hiện những cuốn Tình Ca Nhạc Trẻ.

vxh_mh6

vxh_mh8

vxh_mh9

vxh_mh10

Mỗi người chúng tôi một nhiệm vụ, Vũ Xuân Hùng nhận phần chuyển ngữ ca khúc, và mời nhạc sĩ Nam Lộc, Trường Kỳ, Lê Uyên Phương, Kỳ Phát, Tuấn Dũng, góp bài cho thêm phong phú. Sau đó chọn các ban nhạc Dreamers, CBC, Mây Trắng, Hammers và các ca sĩ nổi tiếng Sài gòn thu âm. Nguyễn Duy Biên là người bỏ tiền đầu tư nên là nhà sản xuất (Producer) và Kỹ thuật âm thanh (Sound Engineering) kiêm luôn chức phát hành (Distributor).

Rất may khi cuốn Tình Ca Nhạc Trẻ ra đời thì bà Thuý Nga và ông Tô Văn Lai của Trung tâm Thuý Nga ngày ấy thấy trẻ trung và mới lạ nên đã nhận lời phát hành đồng thời mua đứt những cuốn băng kế tiếp thứ 2, thứ 3 sau đó nên anh đã bớt mệt nhọc lo lắng.

MH – Khi chuyển ngữ những ca khúc nước ngoài và phát hành những cuốn Tình Ca Nhạc Trẻ ông có gặp vấn đề về bản quyền ?

NS Vũ Xuân Hùng: Vào những năm trước 1975, khi muốn xuất bản hay phát hành một bản nhạc hay một cuốn băng nhạc việc đầu tiên chúng tôi phải nộp bản những ca khúc chuyển lời Việt đó cho Phòng thông tin Sài Gòn để họ kiểm duyệt lời của bài hát. Sau vài ngày nếu không có vấn đề gì họ sẽ cấp phép để thực hiện việc thu âm và sản xuất.

Còn chuyện bản quyền thì thời gian đó chế độ miền Nam chưa có Luật Bảo Vệ Bản Quyền hoặc chưa gia nhập công ước Bern nên họ không đặt vấn đề xin phép. Do đó nhạc sĩ Phạm Duy, Nam Lộc, Trường Kỳ, Kỳ Phát, Lê Hựu Hà, Vũ Xuân Hùng, Nguyễn Duy Biên … chuyển lời Việt cho hằng trăm ca khúc nước ngoài mà không gặp rắc rối gì cả.

Ban nhạc The Enterprise - ẢNH: TƯ LIỆU

Còn sau năm 1975 những ca khúc chuyển ngữ của tôi được các Trung Tâm Ca Nhạc Hải Ngoại sử dụng cho các cuốn Audio và Video nên họ có trách nhiệm xin phép các tác giả nước ngoài.

Tất cả hơn 100 bài hát chuyển ngữ của tôi đều được viết trước năm 1996, khi Việt Nam gia nhập Công ước Bern và trước rất lâu khi Hội Bảo Vệ Tác Quyền Việt Nam ra đời. Hơn 100 ca khúc chuyển ngữ của tôi đã được đăng ký với Hội Bảo Vệ Tác Quyền hơn 10 năm rồi. Bởi thế việc vi phạm với tác giả bản gốc không có tính cách hồi tố.

MH – Những nghệ sĩ hải ngoại khi thể hiện ca khúc do ông chuyển lời Việt, họ có làm tròn trách nhiệm xin phép sử dụng ca khúc đó không?

NS Vũ Xuân Hùng: Không tính đến những ca sĩ ra đĩa CD riêng hoặc hát sân khấu thì các ca sĩ sống ở hải ngoại thường làm việc cho các Trung Tâm lớn như Thúy Nga Paris, Asia và những chương trình lớn họ đều thực hiện những gì cần phải làm.

Hầu như không cần phải đợi nhắc nhở. Chẳng hạn như khi tôi xem một chương trình Trung tâm Thúy Nga Paris By Night họ có sử dụng một nhạc phẩm của tôi cụ thể là cuốn số 121 có bài Hờn Ghen do tôi chuyển ngữ. Thì ngay cả khi Abum chưa ra đã có người mang tiền tác quyền đến tận nhà.

MH – Xin cảm ơn ông về buổi trò chuyện này. Chúc ông và gia đình sức khỏe, vui vẻ và hạnh phúc.

vxh_mh2

vxh_mh3

 Nhạc sĩ Nguyễn Duy Biên (từ trái sang Vũ Xuân Hùng, Nguyễn Thế Hưng, Nguyễn Duy Biên, Vương Đình Thời-nhân chuyến đi Đà Lạt năm 1968).

Từ trái sang: Vũ Xuân Hùng, Nguyễn Thế Hưng, Nguyễn Duy Biên, Vương Đình Thời-nhân chuyến đi Đà Lạt năm 1968).

vxh_mh7

vxh_mh11

vxh_mh12

vxh_mh13

Tản mạn về nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75

Tản mạn về nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75, trước biến cố tháng 4/1975, nhạc nhẹ nói chung và nhạc rock nói riêng gần như chỉ có ở duy nhứt ở Miền Nam, Sau 30/04/1975, làn sóng nhạc nhẹ tràn ra miền Bắc và dấy nên một trào lưu nhạc nhẹ rộng khắp, thu hút đông đảo thanh niên vốn trước đó chỉ tiếp xúc với những ban nhạc theo kiểu thính phòng hoặc các ban “nhạc nhẹ” đánh theo tổng phổ, năm 1954, dù người Pháp rút khỏi Việt Nam, nhạc Pháp vẫn còn hằn sâu trong sinh hoạt âm nhạc xã hội, nhưng khi người Mỹ đổ quân đến miền Nam thì nhạc Pháp cũng lùi dần nhường bước cho làn sóng văn hóa Mỹ, uối thập niên 1950 – đầu thập niên 1960 có thể nói nhạc trẻ Sài Gòn đã hình thành, nhưng nó thật sự gây được ấn tượng mạnh mẽ với công chúng trẻ là từ năm 1963.

Một số bức ảnh cắt ra từ báo chí thời bấy giờ:

nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75 nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75 nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75 nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75 nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75 nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75 nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75 nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75

1.Âm nhạc phương tây du nhập vào Saigon

Cũng từ cái mốc năm 1963 cho đến trước ngày 30/4/1975, Sài Gòn nhộn nhịp với những đại nhạc hội. Đại nhạc hội thời ấy có hai loại: đại nhạc hội dành cho giới bình dân, biểu diễn tại rạp Quốc Thanh và rạp Hưng Đạo vào mỗi buổi sáng Chủ nhật với sự tham gia của các ca sĩ nổi tiếng thời đó như: Chế Linh, Duy Khánh… Hát nhạc kích động “bình dân” tiêu biểu có Hùng Cường – Mai Lệ Huyền, Khánh Băng – Phùng Trọng với những bản nhạc twist, agogo như Một trăm phần trăm, Gặp nhau trên phố… mà những ban nhạc rock “tinh tuyền” gọi là rock “dởm”. Ngoài ra, có một đại nhạc hội khác gọi là đại nhạc hội kích động nhạc, tiền thân của nó là những ban nhạc học sinh của trường Taberd (nay là trường Trần Đại Nghĩa – 20 Lý Tự Trọng, quận 1). Đại nhạc hội kích động thường được tổ chức tại trường Taberd, Thảo cầm viên hoặc sân vận động Hoa Lư. Đây là nơi trình diễn của những ban nhạc trẻ không hát những loại nhạc “bình dân” và trong đó có những ban nhạc rock thực thụ, giai đoạn đầu các ban nhạc trẻ nói chung chủ yếu là hát nhạc ngoại quốc bằng tiếng Anh hoặc Pháp, các ban nhạc rock thì cover lại những bản nhạc chủ yếu của Anh, Mỹ.

Thời gian cuối thập niên 1960 và nhất là vào đầu thập niên 1970, nhạc trẻ Sài Gòn có một sự chuyển biến đáng chú ý: đó là trào lưu “Việt hóa” các ca khúc Âu – Mỹ. Mở đầu cho trào lưu này có thể nói đến nhạc sĩ Vũ Xuân Hùng, anh đã chuyển soạn lời Việt cho các ca khúc được nhiều người yêu mến như: Búp bê không tình yêu (Poupée De Cire, Poupée De Son), Gõ cửa 3 tiếng (Knock Three Times), Chuyện Phim Buồn (Sad Movies), Lãng du (L’Avventura), Anh thì không (Toi Jamais) v.v… Sau đó nhiều ban nhạc, nhiều nhạc sĩ khác cũng đã soạn lời Việt cho nhiều ca khúc ngoại quốc khác, trong đó có cả nhà báo Trường Kỳ…,nhưng trong trào lưu “Việt hóa” có lẽ điều đáng chú ý nhất là các nhạc sĩ Nguyễn Trung Cang và Lê Hựu Hà, với ban nhạc Phượng Hoàng, đã đi một bước xa hơn là sáng tác những ca khúc nhạc trẻ Việt Nam đầu tiên với những bài hát đi vào lòng người như Hãy ngước mặt nhìn đời, Tôi muốn… đặt nền móng đầu tiên cho những ca khúc nhạc trẻ Sài Gòn, về các ban nhạc trẻ, một trong những ban nhạc gây ấn tượng nhất đó là Strawberry Four gồm Tuấn Ngọc (guitar), Đức Huy (guitar), Tiến Chỉnh (bass, trước đó là Billy Chane), Tùng Giang (trống). Đây được xem là ban nhạc “nhà giàu” với những chiếc đàn, amplie Fender làm “lé mắt” dân chơi nhạc, trên sân khấu họ toàn bận complet lịch lãm và nhất là tạo được “danh giá” khi Trawberry Four là ban nhạc Việt Nam đầu tiên và duy nhất được lên đài truyền hình Mỹ (phát tại Sài Gòn).

2.Phong trào nhạc ‘HIPPY’ theo mô hình Woodstock 1969 và Đại hội nhạc trẻ Hoa Lư & Trường Lasan Taberd

Nhạc rock đã xuất hiện trong bối cảnh của nhạc trẻ Sài Gòn như trên. Tuy nhiên, lịch sử nhạc rock Sài Gòn có liên hệ mật thiết đến sự có mặt của quân đội Mỹ, những club mọc lên như nấm của người Mỹ tại Sài Gòn đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành lực lượng nhạc rock, nhất là từ năm 1965 khi người Mỹ có mặt thật đông đảo tại “hòn ngọc Viễn Đông” và các tỉnh phụ cận. Đây cũng là giai đoạn chuyển hướng mạnh mẽ nhất của nhạc trẻ Sài Gòn, và là thời điểm xuất hiện khá nhiều ban nhạc chơi rock Mỹ, khác với trước đó dân chơi nhạc và nghe nhạc vẫn còn yêu chuộng những ca khúc trữ tình của các nhạc sĩ Việt Nam như Đặng Thế Phong, Dương Thiệu Tước… và các ca khúc Pháp, tuy nhiên dấu mốc phát triển của rock có thể kể đến sự kiện đại nhạc hội kích động nhạc do”Trường Kỳ-Nam Lộc- Tùng Giang” tổ chức sau khi lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm … Đại hội kích động nhạc này được tổ chức tại Đại Thế giới (nay là Trung tâm Văn hóa Q.5) vào năm 1963, qui tụ hầu hết các ban nhạc trẻ đang hoạt động tại Sài Gòn thời ấy và đây cũng là một tiền đề để sau đó những đại hội kích động nhạc được tổ chức thường xuyên ,những ban nhạc “thuần” rock như “The Peanuts Company,The Black Caps, The Rockin’ Stars, The Interprise, Les Pénitents, The Crazy Dog, CBC…” ,trong đó The Rockin’ Stars và The Black Caps được xem như những ban nhạc rock đầu tiên của Sài Gòn, thì hai ban nhạc “The Peanuts Company và CBC được xem là 2 ban nhạc “đệ nhất kích động nhạc” thời ấy”.

 

Thêm vài hình ảnh:

nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75 nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75 nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75 nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75 nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75 nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75 nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75 nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75 nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75 nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75 nhạc trẻ Miền Nam Việt Nam trước 75

3.Nhạc Rock và những bản tình ca thuần việt

Ca sĩ Elvis Phương thành viên của Rockin’ Stars cho biết: “Ban nhạc thành lập năm 1960 với thành viên: Nguyễn Trung Lang (bass guitar), Nguyễn Trung Phương (rythm guitar), Jules Tampicanou (lead guitar), Đặng Hữu Tòng (tenor saxophone), Lưu Văn Hùng (trống) và Elvis Phương (ca sĩ). Năm 1961 có thêm 2 thành viên mới là Jean jacques Cussy va Nicole. Cuối naăm 1961 có thêm ca sĩ Billy Shane. Ban nhạc The Black Caps ra đời vào cuối năm 1960 với: Thanh Tùng (guitar), Paul Doãn (ca sĩ)… Phong trào nhạc trẻ hình thành trong giới học sinh của trường trung học Jean Jacques Rousseau (nay là trường cấp 3 Lê Quý Đôn), vì vậy hai ban nhạc này đa số là học sinh của Jean Jacques Rousseau chỉ có Nicole là của Marie Curie và Billy Shane là của Taberd”.

Các ban nhạc rock trước giải phóng chủ yếu là cover các bản nhạc rock Mỹ, cũng có một số ca khúc được những “rocker” Việt sáng tác, nhưng chủ yếu là viết lời bằng tiếng Anh để trình diễn trong những club của Mỹ”. Ban nhạc Phượng Hoàng của Nguyễn Trung Cang và Lê Hựu Hà ra đời khá trễ (1970). Tuy nhiên đây có thể nói là một ban nhạc “Việt hóa” triệt để: sáng tác ca khúc Việt cho rock, hát lời Việt và cái tên cũng “thuần Việt” giữa vô vàn các tên ban nhạc bằng tiếng Anh đang hiện hành. Ca khúc rock viết bằng tiếng Việt của Nguyễn Trung Cang, được nhiều người biết đến đó là bản Mặt trời đen, đây có thể xem là bản nhạc rock Việt đầu tiên khá tiêu biểu của giới rock Sài Gòn.

 

Kim Phượng sưu tầm & tổng hợp

 

Nhạc ngoại lời Việt thời vang bóng: Trào lưu Việt hóa nhạc trẻ ... 

 

 

 

 

 

Xem thêm...

Ca sĩ Ngọc Lan – Huyền thoại có một không hai

Ca sĩ Ngọc Lan

Huyền thoại có một không hai

Ca sĩ Ngọc Lan

Ngọc Lan tên thật là Lê Thanh Lan, có tên Thánh là Maria, sinh ngày 28/12/1956 tại Nha Trang. Cô là người thứ năm trong gia đình có 8 người con, cha của cô, ông Lê Đức Mậu, đã từng phục vụ trong binh chủng Truyền tin. Khi còn ở Việt Nam, cô đã từng theo học ở trường Lý Thường Kiệt, vùng Hốc Môn, ngoại ô Sài Gòn.

Năm 1980 Ngọc Lan vượt biển đến Laemsing, Thái Lan, và sau đó định cư tại Minnesota, Hoa Kỳ. Hai năm sau, cô thực sự bắt đầu sự nghiệp ca hát ở California. Lê Thanh Lan bước vào thế giới ca nhạc với cái tên Ngọc Lan vì tên thật của cô trùng với ca sĩ Thanh Lan đã nổi tiếng từ trước 1975 tại Sài Gòn.

Qua sự giới thiệu của ca sĩ Duy Quang, cô đã hát tại một số quán cà phê nhạc và các buổi biểu diễn văn nghệ nhỏ. Cố ca sĩ Duy Quang đã từng kể lại: “Tôi đã nghe lại một số bài hát của Ngọc Lan và thấy là những bài đó rất tuyệt vời, tôi nghĩ là tôi sẽ không quên được Ngọc Lan trong trái tim của tôi”.

Trong những buổi đầu đi hát hình như Ngọc Lan chỉ nhắm vào mục đích kiếm thêm tiền phụ giúp gia đình đồng thời trang trải việc học hành. Ba đêm cuối tuần đầu tiên trong cuộc đời ca hát tại quán Hoài Hương cô nhận được thù lao $35 nhưng sau một thời gian “hành nghề tay trái” cô đã từng có ý định bỏ nghề ca hát để về phụ gia đình bán hamburger.

Một lý do khác nữa có thể là Ngọc Lan cảm thấy thanh quản của mình không cho phép cô hát nhiều. Có lẽ cũng vì thanh quản “có vấn đề” nên giọng ca của Ngọc Lan trở nên đặc biệt, không giống một ca sĩ nào. Giọng của Ngọc Lan qua thanh quản phát ra những âm thanh trong trẻo, phần nào được thể hiện qua giọng mũi.

Nhiều người còn ví Ngọc Lan hát tự nhiên như… “giọng hát trẻ thơ”, hát như nói chuyện, hát dễ dàng như ta thở. Giọng ca đặc biệt đó không có âm vực sâu và cũng không có độ ngân dài hay độ luyến láy phong phú như phần đông các ca sĩ khác. Thế nhưng, người nghe vẫn cảm nhận được sức hút của giọng hát mỗi khi Ngọc Lan cất tiếng. Thêm vào đó là sự quyến rũ của ngoại hình với mái tóc uốn quăn, lọn nhỏ được đánh rối một cách khéo léo khiến khán giả hoàn toàn bị Ngọc Lan chinh phục.

Ca sĩ Ngọc Lan

Người ca sĩ nào cũng cần hội đủ cả hai yếu tố Ngoại hình và Giọng hát mới đủ sức chinh phục khán giả. Thanh và Sắc kết hợp với nhau để biến ca sĩ thành hình tượng của công chúng, kém “sắc” thì chỉ hát qua làn sóng điện hay ghi âm trên đĩa hát… đó là những trường hợp ca sĩ “hẩm hiu” tựa như anh đánh cá Trương Chi có tiếng sáo tuyệt vời nhưng ngoại hình lại xấu xí trong truyện dân gian Trương Chi-Mỵ Nương.

Một fan hâm mộ Ngọc Lan mô tả: “Cô có một làn da trắng nõn nà như lai người Tây Phương. Khuôn mặt trái soan, sống mũi dọc dừa, cặp mắt bồ câu luôn đượm nét u buồn ướt mi và miệng viền trái tim. Lông mày rậm với mái tóc uốn cong dài và dầy làm tăng vẻ đẹp của một tuyệt sắc giai nhân…”

Ngọc Lan đạt đến đỉnh cao trong sự nghiệp âm nhạc khi cộng tác với Trung tâm Mây Productions. Những đĩa CD mang tên Ngọc Lan ồ ạt ra mắt người hâm mộ đến độ Mây Productions phải đánh số thứ tự, khởi đầu là CD Ngọc Lan 1 mang tựa đề Như Em Đã Yêu Anh được thực hiện năm 1989, tiếp đến là Ngọc Lan 2: Mặt Trời Bên Kia Mùa Hạ (1991)…

Có đến hơn một chục CD mang tên Ngọc Lan phát hành độc quyền với Mây Productions với giá bán lẻ từ $9.95 đến $12.95 vì lý do đĩa hát của Ngọc Lan “ăn khách” và trung tâm này trả tiền cát-sê cao cho ca sĩ. Đến năm 2001, Mây Productions bị phá sản vì nạn… sang băng đĩa lậu.

 

Cuối thập niên 80 người nghe và xem ca nhạc tại hải ngoại khao khát sự xuất hiện của những khuôn mặt mới, giọng ca mới sau một thời gian cảm thấy bị “bội thực” vì những tên tuổi đã thành danh tại Sài Gòn trước năm 1975 như Khánh Ly, Khánh Hà, Tuấn Ngọc, Duy Quang, Sĩ Phú, Elvis Phương…

Không ai phủ nhận tài năng của Ngọc Lan nhưng một trong những yếu tố giúp cô ca sĩ này thành công lại còn tùy thuộc vào thời điểm xuất hiện để được coi là “người mở đầu một một trường phái” như nhạc sĩ Trần Thiện Thanh đã ca tụng. Trường phái đó còn được gọi là “dòng nhạc hải ngoại” với sự góp mặt của Don Hồ, Kiều Nga, Lưu Bích, Linda Trang Đài… qua nhạc trữ tình, kể cả New Age, New Wave, Jazz, Rock, Pop và cả Rap sau này.

Từ năm 1987 Ngọc Lan trở thành một trong những “ca sĩ hàng đầu tại hải ngoại” và vị trí này được lập lại liên tiếp trong 4 năm. Một lý do khác nữa giải thích cho sự thành công của Ngọc Lan là khả năng hát những bản nhạc ngoại quốc bằng tiếng Pháp, tiếng Anh hoặc những bản nhạc nước ngoài được chuyển ngữ sang tiếng Việt.

Ngọc Lan đã thành công với các bản nhạc Pháp như Vivre pour toi, mourir pour toi (Tất cả cho anh), La Maritza (Dòng sông tuổi nhỏ), Mal de toi (Đau đớn riêng em), Il pleut sur Bruxelles (Tình đến rồi đi), Je ne purrais jamais t’oublier (Mưa trên biển vắng), Tombe la neige (Tuyết rơi)… Bên cạnh đó là những bản nhạc tiếng Anh cũng được Ngọc Lan khai thác như Love is blue (Tình xanh), Whenever you come to me (Khi anh gần em), Prisoner (Đọa đầy)…

 

Trong ca khúc Pháp, Joe le taxi, Ngọc Lan cho thấy ngoài giọng ca điêu luyện, diễn xuất tươi trẻ, cô còn là một vũ công “có hạng” bên những vũ công chuyên nghiệp trên sân khấu. Cô biểu diễn những bước cha-cha-cha, rumba, mambo thật điệu nghệ, không thua gì những vũ nữ trên sàn nhảy.

Nữ ca sĩ Kiều Nga (em gái Elvis Phương) kể lại những kỷ niệm khi song ca với Ngọc Lan. Đó là lần hai người hát chung bài Toi jamais (Anh thì không) của Mây Productions (khi đó gọi là Hollywood Night) được nhạc sĩ Vũ Xuân Hùng viết lời Việt với nội dung so sánh những người đàn ông:

“Anh ta cho xe hơi với nữ trang,
thêm kim cương với áo lông…
Anh thì không… 

Anh ta luôn âu yếm em
nhưng sao em không nhớ nhung,
không rung động… 

Thế gian, nghìn đàn ông giống nhau,
trọn đời anh giống như đàn ông khác.
Vì đã yêu, thì dù anh thế nào,
vạn lần em vẫn thứ tha cho người…”

Vào cuối bài, cả hai cô ca sĩ được các nam vũ công “công kênh” trên vai. Khi đó, Kiều Nga kể lại, trong lòng thật sự hai cô chỉ lo bị rớt xuống đất… rồi lại còn lo áo đầm quá bó quá có thể bị sút đường chỉ thì đúng là… bể dĩa.

 

Một đặc điểm nữa rất ít người để ý là trong một số bài hát Ngọc Lan trình bày ngoài kỹ thuật hòa âm, phối khí còn có giọng hát bè rất điêu luyện của những người giấu mặt, đứng sau lưng người ca sĩ chính. Họ là những người “thầm lặng” góp phần thành công cho những bài hát được Ngọc Lan lựa chọn.

Cũng vào thời kỳ “vàng son” này cô cũng được mời lưu diễn khắp năm châu. Tại Úc Châu, chương trình Đêm Ngọc Lan là một thành công “ngoài sức tưởng tượng” theo đánh giá của báo Chiêu Dương (ngày 14/9/1990):

“Qua 3 đêm trình diễn tại Sydney và Melbourne, 2 thành phố lớn nhất của Úc Châu, nữ ca sĩ Ngọc Lan đã thành công rực rỡ. Tất cả các show đều đông nghẹt khán giả, hơn 400 khán giả đã phải ra về vì hết vé tại Bankstown Town Hall (Sydney). Tại Melbourne, hơn 1500 khán giả đã phải đứng để xem Ngọc Lan trình diễn.
Hơn 300 khán giả phải ra về vì Hall không còn sức chứa! Có thể nói nữ ca sĩ tài sắc vẹn toàn Ngọc Lan đã làm nên “lịch sử” vì hơn 8 năm nay, từ lúc có các chương trình ca nhạc tại Úc Châu, đây là Show đông đảo khán giả nhất đã dành cho nữ ca sĩ Ngọc Lan”.

Ngọc Lan còn ở lại Úc thêm một tuần “ngoài kế hoạch” để thực hiện Dạ Vũ Ngọc Lan Giã Từ Úc Châu, những người tổ chức giải thích: “Thể theo lời yêu cầu của nhiều vị khán giả chưa xem đuợc các đêm trình diễn vừa qua vì hết vé, nữ ca sĩ số 1 Ngọc Lan quyết định ở lại Úc Châu thêm một tuần nữa…”. Đây là một hiện tượng “cháy vé” có một không hai trong giới ca nhạc tại hải ngoại.

Ký giả Tô Kiều Phương viết về Ngọc Lan: “Đó là một tiếng hát mật ngọt, một tia nắng vàng, một cơn mưa hạ… đã đi sâu vào lòng từng người và từng gia đình Việt Nam chúng ta”.

Có thể nói, Ngọc Lan thành công ở nhiều thể loại nhạc cũng như dòng nhạc. Theo một số người sưu tầm nhạc, cô đã trình bày trên 800 ca khúc và thực hiện được xấp xỉ 40 video clip. Con số hạn chế về video được chính cô giải thích là “do bản tính nhút nhát trước ống kính”.

Mãi đến năm 1992 mới đánh dấu việc thu hình trực tiếp đầu tiên của Ngọc Lan trên sân khấu ca nhạc qua chương trình Hollywood Night 1 với ca khúc Mưa trên biển vắng. Cũng trong dịp này, MC Nam Lộc có một cuộc phỏng vấn chính thức đầu tiên được thực hiện tại Irvine, CA, vào tháng 10/1992.

Nam Lộc hỏi cô có ý định đóng phim hay không? “Ngọc Lan rất muốn có cơ hội để phát triển khả năng của mình trên mọi lĩnh vực. Thứ nhất là để thỏa mãn đam mê nghệ thuật của chính mình. Thứ hai là Ngọc Lan hy vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ nào đó trong nghệ thuật thứ 7 của Việt Nam…”

Được hỏi về mẫu người đàn ông “lý tưởng” của mình, Ngọc Lan đã khiến khán giả ngạc nhiên với câu trả lời: “Có lẽ Lan nghĩ là nhân vật Dũng trong tác phẩm Đọan Tuyệt của Khái Hưng… Ở nhân vật Dũng, Ngọc Lan tìm thấy một người đàn ông sống có lý tưởng, có mục đích cao cả. Ngoài tình cảm mà Dũng dành cho người yêu của mình, anh còn có một tình cảm bao la dành cho quê hương, tổ quốc….”

Nhạc sĩ Nhật Ngân, tác giả bản dịch lời bài hát Mưa Trên Biển Vắng hồi tưởng: “Kỷ niệm mà tôi nhớ nhiều nhất là khi đưa bài ‘Mưa Trên Biển Vắng’ cho cô Ngọc Lan hát, đó là một bài nhạc nước ngoài mà trung tâm May Productions đưa tôi viết lời. Khi viết lời xong, Ngọc Lan nói: ‘Anh viết bài này mang hẳn tâm sự của em nên em nghĩ đây là bài hát anh viết riêng cho em…’ Ban đầu tôi cứ nghĩ Ngọc Lan nói là để gây cảm tình với tôi, nhưng sau đó thật sự Ngọc Lan đã hát bài đó rất là… “tới”… tôi nghĩ đó là tâm sự thật của Ngọc Lan”.

 

Trong bản nhạc Xin Thời Gian Ngừng Trôi cũng của nhạc sĩ Nhật Ngân người ta thấy Ngọc Lan xuất hiện với mái tóc vấn cao, khác hẳn hình ảnh mái tóc “rối bời” buông xõa. Trang phục của cô là một bộ “xường xám” xẻ hai bên với họa tiết lá trúc màu đen. Ngọc Lan đã tiếp cận khán giả bằng một phong cách trình diễn mới, trang phục lạ và những lời ca não nuột:

“Sao thời gian cứ trôi mau.
Sao rượu nồng bỗng chua cay.
Sao tình còn đang ngất ngây say,
mà chợt nghe sầu ngăn cách. 

Anh ơi uống đi anh,
giọt đắng thấm tràn khóe môi.
Lệ nào chớ rơi, đường khuya vắng, âm thầm đi về”.

 

Trong Hollywood Night 2 (tại Irvine, CA, này 18/8/1992) Ngọc Lan trình diễn Và Con Tim Đã Vui Trở Lại của nhạc sĩ Đức Huy trên một sân khấu dàn dựng khác lạ: chỉ vỏn vẹn 6 cây khô trụi lá, thân cây màu trắng làm nổi bật chiếc váy maxi màu đỏ. Rồi xuất hiện cảnh hai em bé mặc áo trắng tượng trưng cho thiên thần cầm nến đi trên một lớp khói. Người ta liên tưởng đến một hình ảnh tôn giáo mà người nhạc sĩ đã gửi gấm qua ý nghĩa tìm lại được đức tin và sự cứu rỗi:

“Và bây giờ, ngày buồn đã qua,
nhiều lỗi lầm cũng được thứ tha.
Tình yêu đã đến trong ánh nắng mai,
xóa tan màn đêm u tối,
cho tôi biến đổi tâm hồn thành một người mới… 

Tôi sẽ không sợ hãi gì
vì Người gần bên tôi mãi…
Và con tim đã vui trở lại…”.

 

Trong cuộc phỏng vấn tiếp sau bài hát, MC Trần Quang đã hỏi cơ hội nào, hoàn cảnh nào đã đưa đẩy Ngọc Lan thành một ca sĩ? Ngọc Lan cho biết mỗi người có một “nghiệp dĩ”… từ một tình cờ này nối tiếp một tình cờ khác nên ngày hôm nay cô đã trở thành một ca sĩ mang tên Ngọc Lan.

Trong video Mùa Hè Năm Ấy của nhạc sĩ Khúc Lan, MC Trần Quang có nêu một trường hợp giả định: người yêu của Ngọc Lan không cho cô đi hát nữa, cô sẽ xử trí làm sao? Ngọc Lan đã lần lượt đưa ra những giải pháp: đầu tiên là năn nỉ (có rất nhiều cách nhưng không tiện nói ra!), rồi dùng “vũ khí tối hậu của người đàn bà: năn nỉ bằng nước mắt”, nếu vẫn không thành công thì… “anh à, nếu anh không cho đi hát nữa thì Ngọc Lan sẽ… chết”.

Trở lại với Ngọc Lan, tháng 12/1994 cô kết hôn với Mai Đăng Khoa, tức nhạc sĩ Kevin Khoa, chơi keyboard trong ban nhạc Bolero. Ban nhạc này hiện diện trên video Paris By Night 15 vào năm 1992. Theo nguồn tin chưa được kiểm chứng thì Kevin Khoa trẻ hơn ca sĩ Ngọc Lan khoảng 4 tuổi và đây là cuộc hôn nhân đầu tiên của ca sĩ Ngọc Lan.

Từ đó trở đi, cô vẫn tiếp tục sinh hoạt văn nghệ nhưng không còn mạnh mẽ như những năm đầu thập niên 90 vì sức khỏe không cho phép. Ngọc Lan thỉnh thoảng vẫn còn xuất hiện trong các băng video cho các trung tâm ca nhạc như Hollywood Nights, Asia nhưng hầu hết là các clip quay ngoại cảnh thay vì trên sân khấu.

Năm 1993 không thấy Ngọc Lan xuất hiện nhưng một năm sau người yêu nhạc lại thấy cô trong chương trình mang tên Ngọc Lan và thính giả thương yêu tại Anaheim. Khán giả tinh ý nhận xét thấy cô có phần nào suy sụp tinh thần và tiếng hát của cô không còn như xưa.

Trong năm 1996, trong lần thu hình trong cuốn video 12, Việt Nam Niềm Nhớ, của trung tâm Asia tại Toronto, trước hàng ngàn khán giả, Ngọc Lan phải có người nắm tay đưa lên sân khấu. Người ta giải thích có hai nguyên nhân cho sự suy sụp đó: bệnh tình của bản thân cô và sự qua đời đột ngột của người chị gái trước đó không lâu. Trên trang Facebook, Bác sĩ Lê Trung Ngân tiết lộ một số điều về bệnh tình của Ngọc Lan:

Vào khoảng năm 1999 tại Việt Nam có tin đồn Ngọc Lan đã qua đời vì chứng bệnh Diabetic [tiểu đường], nên nghệ sĩ Nam Lộc đã dành một cuộc phỏng vấn cho vợ chồng Ngọc Lan trong chương trình truyền hình của đài Văn Nghệ VN Television vào một sáng thứ Bảy.

Có nhiều lời đồn về bệnh tình của Ngọc Lan khi thấy mắt cô bị kém thị lực. Nhưng sự thật cô bị bệnh thuộc dạng “The Demyelinating Diseases” mà trong danh từ y khoa Medical Term là M.S. có nghĩa là Multiple Sclerosis – bệnh này phá hỏng hệ thống thần kinh, làm cho các vỏ bao bọc dây thần kinh bị hủy hoại – đây là một loại bệnh hiện chưa có thuốc chữa, chỉ dùng thuốc Prednisone để kéo dài thời gian – y khoa không biết nguyên nhân từ đâu – bệnh này hiếm thấy ở người Á Châu và Phi Châu, và thường có tỉ lệ cao đối với phụ nữ.

Ngày 6/3/2001 Little Saigon TV phát đi bản tin: “Một trong những tiếng hát đã đi sâu vào lòng giới yêu âm nhạc, ca sĩ Ngọc Lan vừa từ trần ngày 6/3/2001, lúc 8g25 sáng, tại bệnh viện Vencor, hưởng dương 44 tuổi…”. Ngày 10/3/2001, Đài truyền hình Văn nghệ Việt Nam đã tường thuật lễ tang ca sĩ Ngọc Lan vào lúc 10g sáng tại thánh đường Holly Spirit tức nhà thờ Thánh Linh.

Gần 1.000 chỗ ngồi bên trong giáo đường và hàng trăm người phải đứng bên ngoài tham dự buổi lễ. Còn có hàng trăm người đã đến thẳng nghĩa trang The Good Shepherd Cemetery (Nghĩa trang Chúa Chiên Lành) tại thành phố Huntington Beach để đợi chờ tiễn đưa người ca sĩ khả ái, đa tài và hiền hậu.

Nguồn: Tác giả Nguyễn Ngọc Chính

---------------

Ngọc Lan sưu tầm

Xem thêm...

Nguyễn Bính, Nhà thơ bình dân Si Tình và Lãng Mạn

NGUYỄN BÍNH

Nhà thơ bình dân Si Tình và Lãng Mạn

NGUYỄN CAO CAN

~~~~<❤️>~~~~

Theo Wikipedia: Nguyễn Bính sinh ngày 13-2- 1918, tức mồng ba Tết năm Mậu Ngọ với tên thật là Nguyễn Trọng Bính tại xóm Trạm, thôn Thiện Vịnh, xã Đồng Đội (nay là xã Cộng Hòa), huyện Vụ Bản, tỉnh  Nam Định 

Cha Nguyễn Bính tên là Nguyễn Đạo Bình, làm nghề dạy học, còn mẹ ông là bà Bùi Thị Miện, con gái một gia đình khá giả. Ông bà sinh được ba người con trai là Nguyễn Mạnh Phác  (Trúc Đường), Nguyễn Ngọc Thụ và Nguyễn Bính.

Bà Miện bị rắn độc cắn rồi mất năm 1918 , lúc đó bà mới 24 tuổi. Để lại cho ông Bình ba đứa con thơ, khi đó Nguyễn Mạnh Phác mới sáu tuổi, Nguyễn Ngọc Thụ ba tuổi và Nguyễn Bính mới sinh được ba tháng. Đúng như câu thơ ông viết:

Còn tôi sống sót là may
Mẹ hiền mất sớm trời đày làm thơ

Ông mất ngày 20 tháng 1, 1966 (47 tuổi) tại Hà Nam Ninh

--------------

Ai đọc thơ của nhà thơ Nguyễn Bính mà không thấy cái độc đáo của hồn dân tộc đã ấp ủ trong thơ của ông, hay nói cách khác Nguyễn Bính đã đưa hồn dân tộc vào thi ca Việt nam hiện đại. Ông là người đã góp công rất lớn vào nền văn học Việt Nam, những câu thơ giản dị, bình dân đã làm cho người đọc, khi đọc lên chỉ một lần đã thấy lòng mình lâng lâng giao cảm, dễ đọc, dễ mến và nhất là dễ thuộc. Nhưng có ai ngờ được rằng Nguyễn Bính lại có một cuộc sống lãng mạn và giang hồ giống như thơ của ông.

Nguyễn Bính thi sĩ lãng mạn và giang hồ.
 
Nguyễn Bính tên thật là Nguyễn Trọng Bính, Bút hiệu của ông là Nguyễn Bính, sinh năm 1918 tại xóm Trạm, thôn Thiên Vịnh, xã Đồng Đội nay là xã Cộng Hoà, huyện Vụ Bản thuộc tỉnh Nam Định. Ông mồ côi mẹ lúc mới lên ba, do đó bố ông có một bà kế mẫu, nhưng nhà vẫn nghèo nên ông được bên ngoại đưa về nuôi nấng dạy dỗ tại thôn Vân Tập cũng cùng xã Đồng Đội.


Cậu ruột Nguyễn Bính là ông Bùi Trình Khiêm lãnh trách nhiệm nuôi nấng ông. Được biết ông Bùi Trình Khiêm là một nhà nho có tiếng trong vùng thời đó đã tham gia vào phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, ông Khiêm cũng là thầy giáo dậy ông Trần Huy Liệu. Nhờ  người cậu giỏi hán văn mà Nguyễn Bính có môi trường tiếp xúc sớm với chữ nghĩa, thi phú và nghệ thuật

Khi Nguyễn Bính được mười ba tuổi đã làm kinh ngạc về tài thi phú của mình nhân vào dịp lễ hội Phủ Giầy (Nam Định) thường tổ chức vào tháng Ba Âm Lịch hằng năm, trong lễ hội năm này có tổ chức cuộc thi thơ.

Năm đó ban tổ chức chọn đề thi là " Hãy tả cảnh chọi gà trong ngày lễ hội"  Đề tài vừa ra, ông lấy bút giấy viết liền, chỉ chưa đầy nửa thời gian của ban tổ chức ấn định Ban Giám Khảo đã thấy Nguyễn Bính đã lên nộp bài thi. Mọi người đều ngạc nhiên nhất là những vị trong Ban Giám Khảo. Bài nộp của Nguyễn Bính dài hơn ba trang giấy , kể ra như vậy là ông đã viết khá dài. Sau  khi Ban Giám Khảo xem xét và cân nhắc, đã quyết định trao giải thưởng hạng nhất cho bài thơ của nhà thơ Nguyễn Bính.


Liền ngay đó BGK đã dùng loa phóng thanh đọc bài thơ  được giải nhất ở giữa sân đình cho mọi người nghe. Nghe xong, tức thì hàng ngàn người đang tham dự lễ hội có mặt,  đều nhất loạt vỗ tay hân hoan chúc mừng nhà thơ thiên tài Nguyễn Bính, có những cặp thanh niên còn cao hứng công kêng Nguyễn Bính lên vai, làm chàng trai NB vừa mới lớn được nhìn từ trên cao hơn người xuống nhìn ngắm những cô gái đang đi dự lễ hội một cách hãnh diện và thoải mái, trái lại những cô gái xuân xanh mơn mởn đang ước tấm chồng nhìn lên anh thi sĩ đầy cao ngạo mà ước muốn được lấy chàng làm chồng . . .

Em như cô gái hãy còn xuân
Trong trắng thân chưa lấm bụi trần
Xuân đến, xuân đi, hoa mận nở
Gái xuân giũ lụa trên sông Vân Lòng xuân lơ đãng, má xuân hồng
Cô gái xuân mơ chuyện vợ chồng
Đôi tám xuân đi trên mái tóc
Đêm xuân cô ngủ có buồn không?

Bài thơ "Gái Xuân" trên mà NB mô tả một nàng thôn nữ diễm kiều đang mơ mộng thật nhiều, cô đang mơ một tấm chồng, si tình một chàng trai nào đó có thể là thi nhân Nguyễn Bính chăng? Nên chàng hỏi "Đêm xuân cô ngủ có buồn không?" Từ ngày chàng được đám đông vỗ tay tán thưởng  sau cuộc thi ở Phủ Giầy năm ấy, NB lại càng cao hứng để sáng tác những vần thơ trữ tình làm nhiều người say mê, các cô thiếu nữ thì mê mẩn si tình như trong bài Chờ Nhau dưới đây:

Láng giềng đã đỏ đèn đâu
Chờ em ăn dập miếng giầu em sang
Đôi ta cùng ở một làng
Cùng chung một ngõ vội vàng chi anh
Em nghe họ nói mong manh
Hình như họ biết chúng mình với nhau.
Ai làm cả gió đắt cau,
Mấy hôm sương muối cho trầu đổ non.

Trong câu ' em nghe họ nói mong manh, hình như họ biết chúng mình với nhau ' quả tình là thi vị và lãng mạn, không còn nề nếp gia phong cổ hủ trai gái thụ thụ bất thân như ông bà ta thường nói.  Tuy thế nhưng với bài Cô Hàng Xóm  mà NB mô tả rằng nhà chàng ở cạnh nhà nàng mà vì lễ giáo nên còn hơi e ngại.

 

 

Nhà nàng ở cạnh nhà tôi,
Cách nhau cái dậu mùng tơi xanh rờn.
Hai người sống giữa cô đơn,
Nàng như cũng có nỗi buồn giống tôi.
Giá đừng có dậu mùng tơi,
Thế nào tôi cũng sang chơi thăm nàng.

Cho nên chàng chỉ dám nhẹ nhàng nằm mơ thôi:

Tôi chiêm bao rất nhẹ nhàng...
Có con bướm trắng thường sang bên này.
Bướm ơi! Bướm hãy vào đây!
Cho tôi hỏi nhỏ câu này chút thôi...
Chả bao giờ thấy nàng cười,
Nàng hong tơ ướt ra ngoài mái hiên.

Cảnh mưa thì thật buồn, nhà thơ NB mô tả như sau:

Tầm tầm giời cứ đổ mưa,
Hết hôm nay nữa là vừa bốn hôm.
Cô đơn buồn lại thêm buồn,
Tạnh mưa bươm bướm biết còn sang chơi?

Chàng gửi hồn cho bướm trắng để chịu tang khi biết nàng đã thành người thiên cổ. NB quả là một người si tình và lãng mạn, mặc dầu chàng chưa hề mặt mặt cầm tay nàng lấy một lần mà đã nghẹn ngào, đau sót và  nói rằng mình đã yêu nàng. Thật đúng là chàng vừa si tình lại hết sức lãng mạn.

Hỡi ơi! Bướm trắng tơ vàng!
Mau về mà chịu tang nàng đi thôi!
Đêm qua nàng đã chết rồi,
Nghẹn ngào tôi khóc... Quả tôi yêu nàng.

Kết luận một điều làm người đọc ngỡ ngàng sau  khi nàng chết, NB còn mơ tưởng rằng  nếu hồn trinh của Cô Hàng Xóm còn ở trần gian thì hãy nhập vào bướm trắng để qua với chàng thì sung sướng biết bao!.

Hồn trinh còn ở trần gian?
Nhập vào bướm trắng mà sang bên này!

Rồi,  một  câu chuyện thú vị và si tình khác của Nguyễn Bính nữa mà nhiều người còn nhắc tới:  Số là năm ấy ông vừa tròn mười bốn tuổi Nguyễn Bính đi dự hội Phủ Giầy một lễ hội mà ông rất mê từ thuở nhỏ. Hôm đó ông đang ngồi xem hát hầu đồng bóng, khi thoáng thấy một cô gái trạc tuổi ông  đi ngang qua.

Cô bé người cao ráo mặc áo cánh sen thắt lưng hoa lý trông rất xinh. Cô ấy đi cùng với một người đàn bà  có lẽ là mẹ nàng.  Vẻ đẹp sắc nước nghiêng thành, lạ lùng như nàng vừa thoát ra từ bức tranh Tố Nữ treo ở tường trong phòng khách của một vị quan mà ông đã được xem khi đi thăm ông quan ấy với người cậu, vội vàng ông chạy theo cốt nhìn cho bằng được khuôn mặt cô nàng, rồi ông ngơ ngẩn như người mất hồn khi diện kiến. Cả ngày hôm ấy, ông cứ đi theo hai mẹ con nàng, ông theo cả vào chùa trong để lạy cùng lạy, khấn cùng khấn với hai mẹ con nàng đến nỗi ông quên cả thời gian mãi cho đến chiều.

Gió chiều cầu nguyện đâu đây,
Nắng chiều cắt đoạn một ngày cuối thu.
Sư già quét lá sau chùa,
Để thiêu xác lá trước giờ lên chuông.

Si tình đến thế nên ít có người sánh kip. Ngoài việc lãng mạn si tình, NB còn được dân gian coi như một vị thần dùng thơ để bói toán nên người cùng thời đặt cho ông danh hiệu là 'chú bé thần đồng ', nhiều lời đồn đãi thêu dệt khiến nảy sinh ra nhiều chuyện bất ngờ .

 

Lúc đầu người ta nhờ NB gà thơ cho những cuộc thi có hát đối đáp vì ông có tài đối ứng tức thì, nên thường bên nào có ông giúp thì đều thắng cuộc thi, làm đối phương tức giận. Tuy nhiên cũng nhờ tài đó mà ông được dân chúng ngưỡng mộ, thời đó dân trí còn thấp kém nên đã có người tôn ông lên đến tột đỉnh vinh quang, có người ngờ rằng ông là người của "cõi trên" hiện xuống vì do sự sùng kính quá đáng  mà thành mê tín, tin rằng thơ NB là thơ Tiên, được giáng nhập vào cậu bé thần đồng chứ chẳng phải là thơ của người bình thường sáng tác.

Thậm chí đến nỗi  người muốn dựng vợ gả chồng cho  con cái, hay những cặp trai gái gặp đường tình duyên trắc trở, hoặc làm ăn xui xẻo v.v. đều đến nhờ "Câu" cho thơ "Tiên"!  "Cậu" tuỳ theo hoàn cảnh của thân chủ lại cho thơ "Tiên".
 
Một lần kia, gia đình nông dân nghèo có một cô gái vừa tuổi cập kê, một thanh niên con nhà giầu ở làng kế bên  đến hỏi xin cưới làm vợ. Nhưng phiền một nỗi nàng đã có một người yêu khác trong làng, người này tuy nghèo nhưng như cô nhưng cách ăn nết ở cũng khá. Gia đình cô gái phân vân không biết quyết định ra sao cho phải nên đã tìm đến "Cậu"  Cậu" liền lấy bút giấy viết ra "dòng thơ phán bảo" như sau:

"Của dẫu nhiều nhưng vẫn chẳng nên
Phù vân, giả dối chẳng lâu bền
Tình em đâu phải trao thiên hạ
Dành để trai làng mới đẹp duyên"

Thế là gia đình người thiếu nữ đành nghe lời thơ Tiên của Cậu  gả cô cho trai làng, mà từ chối gả cho chàng thanh niên làng bên giầu có. Một  chuyện thật độc đáo là có một anh chàng hành nghề đạo chích nghe nhà Thơ NB có thơ Tiên linh hiển lắm nên cũng tìm đến xin thơ Tiên và được Nguyễn Bính "giáng" cho mấy câu thơ, đọc xong thơ Tiên thì anh đạo chích bỏ luôn nghề ăn trộm. 

Trở lại nàng Tố Nữ mà NB gặp ngày trẩy hội  Phủ Giầy, hết ngày lễ hội thì chàng còn tò tò theo nàng nhiều ngày nữa, chàng luôn luôn đi theo bên  nàng cho đến ngày thứ tư, chàng lén dúi được vào tay cô Tố Nữ một mảnh giấy có mấy câu thơ sau:

"Em ở cõi trần hay cõi tiên?
Phủ đền nhang khói nức hương em
Xin đi chầm chậm cho theo với
Lộc Thánh dâng người một trái tim".

Cô gái Tố Nữ nhanh nhẹn cầm lấy mảnh giấy nhưng nàng thẹn thùng ngó lơ đi nơi khác. Tuy vậy chỉ cần như thế là chàng đã mãn nguyện sung sướng tràn ngập trong lòng rồi. Như thế phải chăng Nguyễn Bính đã là một thi sĩ thật lãng mạn và si tình.

Cuộc tình vẫn chưa chấm dứt, nàng sau đó đã theo mẹ về quê và chàng tìm cách đi theo cho đến tận nơi  nàng ở. Tuy nhiên có lẽ mối tình đầu này kết quả chỉ đẩy đưa tới đó mà thôi bởi vì chỉ chừng ba tháng sau thì gia đình nàng  đột ngột bán nhà chuyển đi nơi khác, thế là người tiên Tố Nữ của chàng đã biến mất, nhưng hình ảnh nàng Tố Nữ  trẩy hội Phủ Giầy đầu chít khăn nhung mỏ qụa, có lúc nàng thả tóc đuôi gà thật xinh vẫn luôn ám ảnh trong tâm hồn chàng thi nhân Nguyễn Bính, một bóng hình khó lạt phai.

Nguyễn Cao Can
 
--------
Kim Quy sưu tầm

 

Nguyễn Bính & Những Bài Thơ Tình Bất Hủ Được Phổ Nhạc (Pre 75)

 

 

Xem thêm...

“Việt Nam! Việt Nam!” Giấc mơ thống nhất lòng người

Bài hát “Việt Nam! Việt Nam!” của nhạc sĩ Phạm Duy:

Giấc mơ thống nhất lòng người

Kỷ niệm 30-4-1975-30-4-2020

 

Khi được hỏi “Thích bài nào nhất của Phạm Duy?”, hầu hết những người yêu nhạc ông đều nhắc đến bài “Tình Ca”. Có người gọi bài hát ấy với tên khác là “Tiếng nước tôi” hoặc “Tôi yêu tiếng nước tôi”, câu hát đầu tiên của bài ấy.

Từ “Tình Ca” đến “Việt Nam, Việt Nam”

“Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời”, câu hát ấy, mười nốt nhạc đầu tiên của bài nhạc ấy, từng được một cơ sở thương mại ở trong nước mua với giá 100 triệu (tính ra là 10 triệu cho một nốt nhạc), được xem là mười nốt nhạc Việt có giá thương mại cao nhất từ trước đến nay.

Đã từng có một đêm nhạc Phạm Duy tổ chức tại Huế (16/9/2012) với tên gọi là “Phạm Duy – Tôi Yêu Tiếng Nước Tôi”. Xa hơn nữa, một đêm nhạc Phạm Duy khác được tổ chức tại Singapore (17/10/2010) cho cộng đồng người Việt ở đấy cũng với tên gọi là “Tôi Yêu Tiếng Nước Tôi”. Bài hát rất được yêu thích và gắn liền với tên ông khiến ông được xem là người nhạc sĩ viết về tình tự dân tộc, về tình yêu quê hương hay nhất.

“Tình Ca” là bài hát mang nhiều “chất Phạm Duy” nhất. “Tình Ca” là một “tình yêu tổng hợp”, là bản tình ca lớn nhất của Phạm Duy: bản tình ca của đất nước. Với lớp người trẻ, bài hát ấy là bài học lớn về lòng yêu nước, yêu tiếng Việt, yêu người Việt, yêu lịch sử dân tộc Việt.

Bài hát không dễ thuộc lời, thế nhưng mọi người đều hát được câu hát đầu của bài hát ấy. Như thế cũng đủ. “Nếu một trăm năm nữa”, tác giả bài hát nói, “người ta vẫn hát bài ‘Tình Ca’ với câu ‘Tôi yêu tiếng nước tôi’, thì 999 bài còn lại người ta có quên đi cũng được”.

Câu nói ấy cho thấy không chỉ người yêu nhạc Phạm Duy mà chính Phạm Duy cũng yêu bài hát ấy hơn cả. Thậm chí, khi nói về cái chết, ông cũng nhắc tên bài hát ấy, “Mộ tôi sẽ nằm trên môi những người hát ‘Tình Ca’. Cứ mỗi lần có ai hát bài này, tôi tin là mình đang được tái sinh trong lòng họ”.

Bài hát được yêu thích nhưng không dễ hát và càng không dễ hát chung với nhau. Muốn hát chung một bài nào của Phạm Duy, người ta đi tìm một bài khác.

“Tình Ca” là bài hát đầu tiên trong số chín ca khúc đầu tiên của Phạm Duy được Cục Nghệ thuật Biểu diễn (thuộc Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) ở trong nước cấp phép phổ biến sớm nhất (21/7/2005), hai tháng sau ngày nhạc sĩ Phạm Duy chính thức hồi hương.

Tôi nhớ, có lần nhạc sĩ Phạm Duy chia sẻ tin vui thêm một đợt những ca khúc của ông được cấp phép phổ biến, tôi nói rằng có một bài tôi thực sự mong cho ông, hơn bất cứ bài nào khác, sẽ được phép lưu hành. “Bài gì?” ông hỏi. Tôi nói, “Việt Nam, Việt Nam”. Ông im lặng. Tôi nói thêm là tôi chờ cái ngày bài hát ấy được hát vang vang khắp mọi miền đất nước, hát vang vang trong màn kết thúc một chương trình nhạc Phạm Duy. Ông im lặng. Tôi gửi ông nghe/xem cho vui ít màn trình diễn bài hát ấy ở nước ngoài trước và sau ngày ông về nước. Ông im lặng. Tôi hiểu được sự im lặng ấy, và không nhắc tên bài hát ấy nữa.

 

Vì sao bài hát ấy, bài “Việt Nam, Việt Nam”, vẫn chưa được cấp phép? Có gì “lấn cấn” chăng?

Bài hát có những lời lẽ khơi dậy lòng nhân ái, tình yêu thương đồng loại và những giá trị phổ quát của các quyền làm người trong một đất nước tự do dân chủ.

Việt Nam đem vào sông núi
Tự Do, Công Bình, Bác Ái muôn đời
Việt Nam không đòi xương máu
Việt Nam kêu gọi thương nhau
Việt Nam đi xây đắp yên vui dài lâu…

Việt Nam ta nguyền tranh đấu cho đời
Tình Yêu đây là khí giới
Tình thương đem về muôn nơi
Việt Nam đây tiếng nói đi xây tình người…

Bài hát có nhịp điệu khỏe khoắn, tiết tấu mạnh mẽ, nghe phấn chấn, thúc giục tựa những bước chân hăm hở xốc tới, rất thích hợp để hát hợp ca, đồng ca trong những cuộc họp mặt, xuống đường, tuần hành.

Bài hát có nhạc điệu trang nghiêm, hùng tráng với lời ca khơi dậy tinh thần yêu nước, mang tính cách của một bài quốc ca. Nhiều người vẫn nhớ rằng “Việt Nam, Việt Nam” từng hơn một lần được đề nghị làm bài quốc ca Việt Nam Cộng Hòa (thay cho bài “Tiếng gọi công dân” của Lưu Hữu Phước). Bài hát “Việt Nam, Việt Nam” vì thế, rất “gần” với bài quốc ca của miền Nam ngày trước.

Những điểm ấy là “nhạy cảm” và là không thích hợp chăng?

“Việt Nam, Việt Nam” là một chung khúc (cách gọi của nhạc sĩ Phạm Duy), là một kết thúc có hậu cho bản trường ca “Mẹ Việt Nam” (1964) của Phạm Duy. Là chung khúc nhưng “Việt Nam, Việt Nam” vẫn thường được trình diễn như một bài hát riêng, độc lập. Chung khúc ấy thể hiện những ước mơ, khát vọng của người dân Việt về một vận hội mới về trên quê hương, cho đất nước yên bình, cho không còn những cách chia, cho người biết thương người.

Trả lời câu hỏi “Vì sao cái tựa bài hát không là ‘Việt Nam’ mà lại hai lần ‘Việt Nam, Việt Nam’?” tác giả bài hát nói: “Vì nước Việt Nam mình bị chia làm hai, thành ra có hai ‘Việt Nam – Việt Nam’. Nếu chỉ có một Việt Nam thôi thì tốt hơn. Trong khi tôi xưng tụng một nước Việt Nam như vậy, ‘Tình yêu, đây là khí giới’, thì hai bên vẫn còn nghi kỵ nhau, vẫn còn chưa bắt tay nhau”.

Sau ngày ông qua đời, một bài báo trong nước (Thanh Niên, 30/1/2013) có đề tựa “Nhạc sĩ Phạm Duy: Tâm nguyện cuối đời” phổ biến một lá thư của ông (không đề ngày) gửi đến “giới chức có thẩm quyền” xin cấp phép cho phổ biến ca khúc “Việt Nam, Việt Nam”. Thư có đoạn:

“Tôi nghĩ rằng tôi có quyền nuôi một nguyện vọng đóng góp vào sinh hoạt âm nhạc trong nước bằng một ca khúc có tính chất xưng tụng nước ta nhan đề ‘Việt Nam, Việt Nam’ sáng tác từ 1960, rút trong trường ca ‘Mẹ Việt Nam’, là một tổ khúc kêu gọi sự đoàn kết dân tộc dưới bóng Mẹ Tổ Quốc thiêng liêng và độ lượng. Sau đây là ca khúc đó… (lời ca bài ‘Việt Nam, Việt Nam’). Tôi mong có ngày ca khúc này được phép phổ biến.” (thư kèm một CD gồm hai bài hợp ca “Việt Nam, Việt Nam”)”.

Một lá thư khác, cũng theo bài báo ấy, dài đến mười trang của Giáo sư Trần Văn Khê (6/2012), người bạn cố tri của ông, nội dung đề nghị cấp phép phổ biến hai trường ca của Phạm Duy là “Con đường cái quan” và “Mẹ Việt Nam” (kết thúc bằng chung khúc “Việt Nam, Việt Nam”). Thư có đoạn:

“Tâm nguyện của Phạm Duy đối với quê hương là một tâm nguyện trọn vẹn… Tôi ước mong chính phủ, Bộ Văn Hóa xem xét đến trường hợp hai tác phẩm trường ca của Phạm Duy để giúp cho hai tác phẩm rất sâu sắc, nhân văn này được phổ biến đến đại chúng toàn quốc, giúp cho tư tưởng rất đẹp trong lời nhạc, lời ca đi sâu vào lòng người dân…

Với hai trường ca này, Duy đã nói về một Việt Nam hoàn toàn chung nhất, vẽ nên một bức tranh Việt Nam đầy đủ địa lý tới văn hóa, từ chiều dài lịch sử đến bề sâu tâm hồn, từ tư tưởng triết lý đến quan niệm nhân sinh… để thấy rằng Việt Nam đẹp đến nhường nào, từ trong nội tại tâm hồn đến cảnh vật bên ngoài, luôn lấp lánh cái bóng dáng hòa bình, yêu thương, nhân ái, người vì người, sống chết cho nhau”.

Cả hai lá thư với lời lẽ thiết tha ấy đều “thư đi” mà không có “tin lại”.

Mỗi năm lại có thêm một vài đợt duyệt xét, có thêm một ít ca khúc của Phạm Duy được cấp phép phổ biến (gồm cả những bài một thời được xem là rất “nhạy cảm”, như “Bên cầu biên giới”, “Mùa thu chết,” “Tìm nhau”…). Không có bài “Việt Nam, Việt Nam”.

Đợt cấp phép mới nhất, mười ngày trước khi người nhạc sĩ qua đời, có thêm tám ca khúc Phạm Duy được cho phép lưu hành trên cả nước. Vẫn không có bài “Việt Nam, Việt Nam”. Bài hát vẫn biệt vô âm tín. Người nhạc sĩ vẫn tiếp tục chờ đợi, chờ đợi trên giường bệnh. Nỗi đợi chờ trong câm lặng, trong khắc khoải, mỏi mòn, như người ngồi đợi hoài những giấc mơ không bao giờ đến.

“Việt Nam, Việt Nam”, bài hát ấy hoặc được duyệt rất sớm, hoặc rất muộn, hoặc chẳng bao giờ, vì không thích hợp, vì khá “nhạy cảm”; hoặc hơn thế nữa, vì “dị ứng”, như cách nói ở trong nước.

“Chung khúc” nào cho Việt Nam – Việt Nam?

Ít hôm sau ngày nhạc sĩ Phạm Duy mất, ở Mỹ người ta tổ chức một đêm nhạc để tưởng nhớ ông. Một người bạn ở Nam Cali gọi cho tôi, nói “Nếu ông ở đây thì tối nay tôi rủ ông đi nghe nhạc, một chương trình nhạc đặc biệt, chỉ phổ biến trong thân hữu”. “Nghe nhạc Phạm Duy phải không?” tôi hỏi.

Người bạn hỏi lại “Sao biết?” Tôi nói, “Nhạc Phạm Duy thì người ta vẫn hát, vẫn nghe từ bao nhiêu năm nay và vẫn đang hát, đang nghe chứ đâu phải đợi cho đến lúc ông ấy nằm xuống mới đi nghe”. Tôi không rõ những “thân hữu” trong đêm nhạc ấy gồm những ai ai, và vì sao lại “chỉ phổ biến trong thân hữu”.

Theo lời người bạn kể, một “tiết mục” khá ấn tượng trong đêm “Phạm Duy, Ngàn Lời Ca” ấy: kết thúc chương trình, không ai bảo ai tất cả mọi người đều cùng đứng lên và cùng cất cao tiếng hát bài “Việt Nam, Việt Nam”. “Cảm động nhất là màn cuối ấy”, người bạn nói.

Vì sao lại “cảm động”? Phải chăng vì những cảm xúc rưng rưng pha trộn: vì cảm thương cho con người nghệ sĩ lắm tài hoa mà cũng nhiều nghiệt ngã, cho đến những năm tháng cuối đời vẫn cứ nuôi mãi một “giấc mộng dài”.

Hoặc vì cảm thương cho thân phận đất nước mình dân tộc mình, cho những kiếp người nổi trôi, những số phận lênh đênh không bờ không bến. Hoặc vì bài hát gợi nhớ về những năm tháng xa xôi, những tháng năm tươi đẹp nhất của một thời tuổi trẻ và của những ước mơ trong veo về một ngày hòa bình trên quê hương đổi mới… Người nhạc sĩ già đã nhắm mắt xuôi tay, “người tình già” đã đi về đầu non. “Việt Nam, Việt Nam”, bài hát ấy, tiếng hát ấy, như một giấc mơ rạn vỡ.

Một trùng hợp ngẫu nhiên, ít hôm sau đó, vào những phút cuối của đám tang người nhạc sĩ, trong lúc người người đứng vây quanh huyệt mộ, trong lúc những nắm đất, những bông hoa đủ màu sắc thả xuống nắp áo quan, một tiếng nói cất lên, “Chúng ta hãy hát bài Việt Nam, Việt Nam”.

Rồi một giọng hát cất lên, “Việt Nam, Việt Nam nghe từ vào đời…” Rồi những giọng hát khác cất lên, cất lên, hòa quyện vào nhau. Những câu hát bật ra, bài hát bật ra, càng lúc càng lớn. Những nắm đất, những cánh hoa vẫn liên tục thả xuống… Người ta chọn bài hát ấy để nói lời chia tay người nhạc sĩ.

Việt Nam, hai câu nói bên vành nôi…
Việt Nam, hai câu nói sau cùng khi lìa đời…
Tình Yêu, đây là khí giới
Tình thương đem về muôn nơi
Việt Nam, đây tiếng nói đi xây tình người

Ở ngoài nước, kết thúc đêm nhạc tưởng niệm người nhạc sĩ, người ta cùng hát với nhau bài “Việt Nam, Việt Nam”. Ở trong nước, kết thúc đám tang người nhạc sĩ, người ta cùng hát với nhau bài “Việt Nam, Việt Nam”.

“Việt Nam, Việt Nam” từng là một trong những bài hát cộng đồng khá phổ biến trên môi tuổi trẻ, sinh viên, học sinh ở miền Nam tự do một thời nào. Bài hát vang lên trong những sân trường, lớp học, trong những đêm không ngủ, trong những ngày lên đường, xuống đường rực lửa đấu tranh. Mọi người vừa hát vừa vỗ tay rất nhịp nhàng, rất khí thế, rất sôi nổi. Bài hát ấy, nhiều năm sau lại vang lên bên huyệt mộ người nhạc sĩ trong một ngày cuối đông. Người ta đã hát cho ông nghe bài hát bao năm ông hằng chờ đợi, bài hát ông gửi vào những tâm huyết, tâm nguyện, tâm tình. Ông còn mong gì hơn nữa!

Bài chung khúc ông viết cho “Mẹ Việt Nam”, cho dân Việt Nam và cho tâm nguyện của riêng ông cách nay nửa thế kỷ, chung cục trở thành “bài hát tiễn đưa” ông về lòng Đất Mẹ, như là những gì thuộc về ông nay chính thức trả về ông, cho ông mang theo làm hành trang của “những gì sẽ đem theo về cõi chết”.

“Việt Nam, Việt Nam”, bài hát ông viết ra từ thời chiến như gửi đi một thông điệp của thương yêu và hòa giải, của thống nhất đất nước và thống nhất lòng người. Thông điệp ấy đến nay người ta vẫn chưa sẵn sàng đón nhận.

Nếu có “thống nhất” được điểm nào thì chỉ là “hai phía” đều gọi ông là “cây đại thụ” của làng nhạc Việt. Sau ngày cây đại thụ ấy bật gốc, cả hai phía ấy và cả những người yêu ông và ghét ông, đều nói rằng cả trăm năm nữa cũng khó mà có được một tài năng âm nhạc nào như ông.

Người ta vẫn hay gọi một văn nghệ sĩ tên tuổi là “tác giả”, theo sau là tên tác phẩm phổ biến nhất, ý nghĩa nhất và được yêu chuộng nhất. Cách gọi ấy gọi được cả “tác giả và tác phẩm”.

Phạm Duy, tôi chắc nhiều người sẽ gọi ông là “Tác giả Việt Nam, Việt Nam”.

 

Tác giả Lê Hữu

Kim Quy st

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này