Không gian riêng

Không gian riêng (139)

Những cái cũ và xưa nhất của Sài Gòn

Những cái cũ và xưa nhất của Sài Gòn

<><>❤️<><>

 

Bài viết sưu tầm về những công trình cổ xưa nhất của đất Sài Gòn sau hơn 300 năm được khai phá

Ngôi trường cổ nhất

 

Trường Lê Quý Đôn được xây dựng vào năm 1874, hoàn tất năm 1877 do người Pháp quản lý. Lúc đầu trường có tên Collège Indigène (Trung học bản xứ), rồi đổi thành Collège Chasseluop Laubat. Năm 1954, trường mang tên Jean Jacques Rousseau.

Năm 1967, trường được trả cho người Việt quản lý mang tên Trung tâm giáo dục Lê Quý Đôn. Từ năm 1975 đến nay đổi tên là trường Trung học phổ thông Lê Quý Đôn. Hơn một thế kỷ qua trường vẫn giữ được kiến trúc ban đầu.

Nhà máy điện xưa nhất

 

Nhà máy điện Chợ Quán xây dựng năm 1896, máy phát điện chạy bằng hơi nước có 5 lò hơi với 150m2, cung cấp dòng điện 3 pha, công suất chưa tới 120MW. Máy phát điện chính công suất 1000A/h. Hiện nay, nhà máy đã được trang bị hiện đại với 7 máy phát điện, hòa với lưới điện quốc gia cung ứng phần quan trọng cho lưới điện thành phố. Nhà máy toạ lạc tại số 8 Bến Hàm Tử (nay là đường Võ Văn Kiệt), quận 5.

Bệnh viện cổ nhất

Bệnh viện Chợ Quán xây dựng năm 1826 do một số nhà hảo tâm đóng góp, sau đó hiến cho nhà nước. Năm 1954-1957 giao cho Quân đội gọi là Viện bài lao Ngô Quyền. Năm 1974, đổi thành Trung tâm Y tế Hàn Việt có 522 giường. Tháng 9/1975, mang tên Bệnh viện Chợ Quán. Đến ngày 5/9/1989 chuyển thành Trung tâm Bệnh Nhiệt đới. Hiện nay có 610 Cán bộ-Công nhân viên và 550 giường bệnh.

 

Nhà hát cổ nhất

 

Nhà hát thành phố do kiến trúc sư người Pháp xây dựng hoàn tất vào ngày 17/1/1900. Các phù điêu bên trong được một họa sĩ tên tuổi ở Pháp vẽ giống như mẫu của các nhà hát ở Pháp cuối thế kỷ XIX. Nhà hát là nơi trình diễn ca nhạc kịch cho Pháp kiều xem.

Năm 1956, Nhà hát được dùng làm trụ sở Quốc hội, sau đó là Hạ nghị viện của VNCH. Đến tháng 5/1975 trở lại thành Nhà hát thành phố với 750 chỗ ngồi. Vào năm 1998, kỷ niệm 300 năm Sài Gòn, toàn bộ phần kiến trúc bên ngoài Nhà hát được phục chế lại như nguyên mẫu ban đầu.

Khách sạn cổ nhất

Khách sạn Continental tọa lạc tại 132-134 Tự Do (nay là Đồng Khởi), được xây dựng năm 1880 do Kiến trúc sư người Pháp thiết kế, tên khách sạn có ngay từ những ngày đầu. Sau 1975, khách sạn bị đổi tên thành Hải Âu. Đến năm 1989, khách sạn được nâng cấp, chỉnh trang và lấy lại tên cũ Continental có diện tích 3430m2, cao 3 tầng, nơi đây đã từng đón tiếp các vị tổng thống, thống đốc, nhà văn, người mẫu nổi tiếng. Ngày nay, khách sạn Continental là một trong những khách sạn đạt tiêu chuẩn quốc tế

Nhà Thờ cổ nhất

Nhà thờ Chợ Quán tọa lạc tại số 20 Trần Bình Trọng, P.2, Q.5 xây dựng từ năm 1674 và là nhà thờ cổ nhất ở miền Nam. Ngôi thánh đường nằm ở vị trí trung tâm, có kiến trúc kiểu phương Tây, lợp ngói đỏ, có thể chứa khoảng 1000 người.

Ngoài việc sinh hoạt tôn giáo, Họ đạo Chợ Quán tích cực tham gia công tác xã hội giúp đỡ người nghèo. Trải qua hơn 3 thế kỷ Nhà thờ Chợ Quán đã được trùng tu nhiều lần. Hiện nay, nơi đây có phòng khám và phát thuốc từ thiện dưới quyền quản lý của Hội Chữ thập đỏ Quận 5.

Ngôi đình cổ nhất

Một trong những ngôi đình cổ nhất của đất Gia Định xưa và xưa nhất Nam Bộ là đình Thông Tây Hội, xây dựng vào khoảng năm 1679, là chứng tích còn nguyên vẹn nhất của thời kỳ dân Ngũ Quảng kéo vào khai khẩn vùng Gò đất có nhiều cây Vắp (từ đó trở thành tên địa phương là Gò Vấp). Đình lúc đầu là của thôn Hạnh Thông – thôn khởi nguyên của Gò Vấp – sau đổi thành Thông Tây Hội (do sự sáp nhập của thôn Hạnh Thông Tây (thôn Mới) và thôn An Hội).

Đình Thông Tây Hội có vị Thành Hoàng rất độc đáo. Hai vị thần thờ ở đình là hai hoàng tử con vua Lý Thái Tổ, do tranh ngôi với thái tử Vũ Đức nên bị đày đi khai hoang ở vùng cực Nam tổ quốc và trở thành “Thủy tổ khai hoang” trong lịch sử Việt Nam; hai vị thần đó là: Đông Chinh Vương và Dục Thánh Vương. Ngôi đình còn giữ được khá nguyên vẹn về quy mô và kiến trúc, kết cấu, với những chạm khắc đặc trưng Nam bộ. Đình Thông Tây Hội thuộc P.11, Gò Vấp.

Nhà văn hóa cổ nhất

Cung Văn hóa Lao Động. Năm 1866, với tên gọi Cèrcle Spertif Saigonnais được xây dựng làm sân thể thao của quan chức người Pháp với những hồ bơi, sân quần vợt, phòng đấu kiếm và phòng nhảy đầm.

Thời VNCH, sân chơi được mở rộng hơn phục vụ cho cả giới quý tộc. Tháng 11/1975, Ủy ban Quân quản Sài Gòn–Gia Định trao toàn bộ cơ ngơi này cho Liên đoàn Lao động Thành phố để cải tạo xây dựng thành nơi tổ chức các hoạt động văn hóa thể thao và vui chơi giải trí cho công nhân lao động, lấy tên là Câu lạc bộ Lao Động, sau đổi thành Nhà văn hóa Lao Động, và rồi là Cung Văn hóa Lao Động. Diện tích 2,8ha, với 132 năm hình thành và phát triển, Cung Văn hóa Lao Động là Nhà văn hóa cổ và lớn nhất của Sài Gòn.

Công viên lâu đời nhất

Thảo Cầm Viên do người Pháp xây dựng năm 1864, nhà thực vật học nổi tiếng người Pháp Louis Pierre làm giám đốc đầu tiên. Mục đích xây dựng Thảo Cầm Viên để ươm cây giống trồng dọc các đại lộ Sài Gòn, đồng thời là nơi nuôi trồng những động thực vật vùng nhiệt đới mà các Thảo Cầm Viên của Pháp chưa có.

Năm 1865, chính phủ Nhật đã hỗ trợ khoảng 900 giống cây quý như: Chizgnamat, Goyamtz, Acamatz, Coramatz, Kayanoki, Kayamaki, Enoki, Maiki, Asoumaro, Sengni, Momi, Cashi, Kiaki, Inoki… Động vật của Thảo Cầm Viên khá phong phú như: gà lôi, sếu, cu gáy, hồng hoàng, công, hưu, nai, cọp, khỉ, chồn hương, tắc kè, rùa, cọp xám, đóm đen, gà lôi xanh, chim cú lợn…

Đến năm 1989, Thảo Cầm Viên được cải tạo, mở rộng và nhập thêm nhiều giống thú mới, trồng thêm cây quý. Hiện nay, có 600 đầu thú thuộc 120 loài, 1823 cây gỗ thuộc 260 loài và nhiều loại cây kiểng quý trên diện tích 21.352m2. Năm 1990, Thảo Cầm Viên là thành viên chính thức của Hiệp hội các vườn thú Đông Nam Á. Thảo Cầm Viên đã tròn 134 tuổi, số lượng động thực vật ngày càng tăng, nơi đây đã gắn bó với từng bước đi lên của thành phố và là một trong những công viên khoa học lớn nhất Đông Dương.

Ngôi nhà xưa nhất

Ngôi nhà có tuổi thọ lâu đời nhất còn hiện diện tại Sài Gòn nằm trong khuôn viên Toà Tổng Giám Mục Sài Gòn -180 Nguyễn Đình Chiểu, P.6, Q.3. Năm 1790, Vua Gia Long cho cất ngôi nhà này ở gần Rạch Thị Nghè làm nơi ở cho Linh Mục Bá Đa Lộc và làm nơi dạy học cho Hoàng tử Cảnh. Ngôi nhà được xây dựng bên bờ sông Thị Nghè trong địa phận Thảo Cầm Viên bây giờ.

Năm 1799, Bá Đa Lộc qua đời, ngôi nhà được giao cho linh mục khác. Từ năm 1811 đến năm 1864 ngôi nhà bị đóng cửa vì chính sách cấm đạo của triều đình Huế. Sau khi vua Tự Đức ký hòa ước với Pháp, ngôi nhà được trao lại cho Tòa Giám Mục và được di chuyển về vị trí đường Alexandre de Rhodes hiện nay. Sau đó năm 1900 Tòa Giám Mục được xây cất tại 180 đường Richaud (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu) thì ngôi nhà gỗ lại được dời về đây làm nhà thờ của Tòa Giám Mục.

Ngôi nhà 3 gian 2 chái, lợp ngói âm dương, sườn, cột bằng gỗ, khung cửa và các khung thờ đều được chạm trỗ công phu hình hoa, lá, chim thú, hoa văn. Trong các di vật còn lại của ngôi nhà có một di vật có giá trị lịch sử lớn, đó là đôi liễn gỗ có tám chữ triện khảm xà cừ là tám chữ vua Gia Long ban tặng giám mục Đá Ba Lộc, một bên là “Tứ Kỳ Thịnh Hy”, một bên là “Thần Chi Cách Tư”.

Ngôi nhà được tu sửa vào năm 1980, cách tu sửa có tính chất vá víu, cốt giữ lại những gì có thể giữ được. Trải qua hai thế kỷ ngôi nhà không giữ được nguyên trạng nhưng đây là một di tích kiến trúc mang dấu ấn lịch sử, tôn giáo và văn hóa nghệ thuật. Đây là một tài sản có giá trị mà các bậc tiền nhân đã để lại cho chúng ta, không chỉ là truyền thống – bản sắc dân tộc mà còn là bộ mặt quá khứ mang tính văn hóa kiến trúc, một khía cạnh văn minh tại một vùng đất mới mọc lên từ đầm lầy, kênh rạch.

Ngôi Chùa cổ nhất

Ngôi chùa có cảnh trí đẹp nhưng nằm ở địa điểm không tiện đi lại nên được ít người biết đến là chùa Huê Nghiêm, tọa lạc ở 20/8 Đặng Văn Bi, Thủ Đức. Chùa được thành lập năm 1721 do Tổ Thiệt Thùy (Tánh Tường) khai sáng. Tên chùa lấy từ tên bộ kinh Hoa Nghiêm. Đây là chùa cổ xưa nhất trong các chùa ở Sài Gòn nên còn gọi là Huê Nghiêm Cổ Tự.

Những ngày đầu là một ngôi chùa nhỏ được xây cất trên vùng đất thấp cách địa thế chùa hiện nay khoảng 100m. Sau đó, Phật tử Nguyễn Thị Hiên – pháp danh Liễu Đạo hiến đất để xây lại ngôi chùa rộng rãi khang trang như hiện nay. Qua nhiều lần trùng tu vào các năm 1960, 1969, 1990 mặt tiền chùa ngày nay mang dáng vẻ kiến trúc của chùa hiện đại nhưng các gian phía trong vẫn giữ nguyên kiến trúc cổ truyền, mái gian mặt tiền được cấu trúc gồm 3 lớp, nhỏ dần về phía trên.

Các đường gờ mái chạy dài xuống cuối đầu đăng đều trang trí bằng hoa văn hình cánh sen đối xứng, giữa là hình bánh xe luân pháp, đặt trên hoa sen. Mái lợp ngói ống màu đỏ, đường viền mái ngói màu xanh. Vườn chùa có nhiều cây xanh bóng mát, có 9 ngôi tháp cổ với nhiều kiểu dáng khác nhau như những cánh sen vươn lên. Những hàng cột gỗ trong chùa được khắc nổi các câu đối bằng chữ Hán màu đen kết hợp với việc chạm khắc mô típ “long ẩn vân” dùng trang trí.

Chùa Huê Nghiêm là một di tích Phật giáo quan trọng, là nơi dừng chân, sống đạo và hành đạo của nhiều vị danh tăng uyên thâm Phật pháp, có đạo hạnh và có đạo đức. Chùa cũng là bằng chứng về trình độ kiến trúc và phong tục tập quán của người Việt trên vùng đất mới khai phá, mở ra nền văn minh trên vùng đất hoang sơ.

Đường sắt đầu tiên ở thành phố

Tuyến đường sắt đầu tiên ở nước ta là đoạn đừơng sắt Sài Gòn – Mỹ Tho dài 71km, xây dựng năm 1881. Ga chính trước chợ Bến Thành, văn phòng đường sắt là tòa nhà 2 tầng chiếm cả khu đất bao bọc bởi 3 đường Hàm Nghi–Huỳnh Thúc Kháng – Nam Kỳ Khởi Nghĩa, nay là Xí nghiệp Liên hợp đướng sắt khu vực 3. Xe lửa chạy bằng máy hơi nước phải dùng than củi đốt nồi súp-de nên xe chạy khá chậm.

Vì không cạnh tranh nổi với xe đò trong việc chuyên chở hàng hóa và hành khách, đường xe lửa Sài Gòn – Mỹ Tho ngưng hoạt động từ lâu. Sau năm 1975, Ga xe lửa Sài Gòn được dời về Ga Hoà Hưng. Trên nền Ga Sài Gòn cũ ngày 8/8/1998, khởi công xây dựng Trung Tâm Văn Hoá Thương Mại Sài Gòn.

Người Việt đầu tiên viết sử Việt Nam bằng tiếng Pháp

Ông Trương Vĩnh Ký (1837-1898). Năm 1859, Pháo hạm Pháp bắn vào cửa biển Đà Nẵng và thành cũ Gia Định, triều đình nhà Nguyễn bắt buộc chấp nhận mở cửa đất nước cho tư bản thực dân Pháp xâm nhập. Trong giai đoạn lịch sử mới, người Việt Nam từng bước tiếp xúc với ngôn ngữ và văn minh mới. Trương Vĩnh Ký là một trong những người sớm tiếp xúc và hấp thụ ngôn ngữ văn hoá phương Tây đã trở thành học giả có nhiều sáng tác nhất bằng cả tiếng Pháp và tiếng Hán–Việt.

Ông là người Việt Nam đầu tiên viết sử Việt Nam bằng tiếng Pháp. Cuốn “Giáo trình lịch sử An Nam” đã được xuất bản gồm hai tập dày 462 trang. Đây thực sự là một công trình bác học biên soạn công phu dưới ánh sáng của một phương pháp luận khoa học tiến bộ so với đương thời.

Tờ báo bằng chữ Quốc Ngữ đầu tiên

Tờ “Gia Định Báo” là tờ báo chữ Quốc ngữ đầu tiên ở nước ta ra đời tháng 4/1865. Tờ báo đăng những thông tin nghị định của nhà nước và những tin kinh tế xã hội, lời bàn về thời cuộc, luân lý, lịch sử. Báo ra hằng tháng. Sau 4 năm phát hành, chính quyền thuộc địa cho phép báo phát hành hàng tuần bằng quyết định số 51 ngày 18/3/1869.

Tờ báo đầu tiên của Phụ nữ Việt Nam

Ngày 1/2/1918 tờ báo chuyên về Phụ nữ đầu tiên ra đời là tờ “Nữ Giới Chung” nhằm nâng cao trí thức, khuyến khích công nông thương, đề cao người Phụ nữ trong xã hội, chú trọng đến việc dạy đức hạnh, nữ công, phê phán những ràng buộc đối với Phụ nữ, đánh đổ mê tính dị đoan, động viên Phụ nữ quan tâm đến việc “Nữ quyền”. Muốn có vị trí ngang hàng với nam giới ngoài việc tề gia nôi trợ phải am hiểu “tình trong thế ngoài”.

Chủ bút tờ báo là nữ sĩ Sương Nguyệt Anh, con gái nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu, vốn có lòng yêu nước, yêu thương đồng bào như thân phụ nên khi làm báo Bà có ý muốn làm diễn đàn để tỉnh thức lòng yêu nước trong dân chúng. Tuy chỉ tồn tại được hơn 6 tháng nhưng “Nữ Giới Chung” cũng đã gióng lên một hồi chuông nữ quyền còn vang mãi đến ngày nay.

Cuốn từ điển tiếng Việt đầu tiên

“Đại Nam Quốc Âm Tự Vị” là cuốn từ điển tiếng Việt quốc ngữ Latinh của Huỳnh Tịnh Của gồm hai tập: Tập I xuất bản năm 1895, tập II xuất bản 1896 tại Sài Gòn. Bộ từ điển chứa nhiều từ ngữ xưa, thành ngữ, tục ngữ, từ ngữ về thảo mộc, cầm thú của Việt Nam và của miền Nam. Bộ từ điển này trở thành Từ điển Bách khoa toàn thư đầu tiên về Nam Bộ.

Người kiến trúc sư Việt Nam đầu tiên

Ông Nguyễn Trường Tộ (1828-1871) người làng Bùi Chu, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Gia đình ông theo đạo Thiên Chúa, ông giỏi chữ Nho, thông hiểu Ngũ Kinh Tứ Thư, học chữ Quốc ngữ và chữ Pháp với các giáo sĩ. Ông được giám mục Gauthier đưa sang Paris năm 1858. Ông am hiểu chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, pháp luật.

Năm 1861 ông trở về nước, tàu ghé Sài Gòn thì nơi đây đã đổi chủ, ông buộc phải làm phiên dịch cho người Pháp. Trong lúc ở Sài Gòn, ông đã đứng ra xây cất tu viện dòng thánh Phao lô (số 4 Tôn Đức Thắng). Đây là công trình xây dựng theo kiến trúc Châu Âu do người Việt Nam thực hiện tại Sài Gòn.

Công trình được xây dựng từ tháng 9/1862 đến 18/7/1864 hoàn thành gồm nhà nguyện với ngọn tháp nổi bật trên cao xây theo kiểu Gôtic, một tu viện, một nhà nuôi trẻ mồ côi và một tháp chuông. Công trình xây dựng này là kết quả nghiên cứu kiến trúc châu Âu của Nguyễn Trường Tộ khi ông ở Hồng Kông. Qua nhiều lần sửa chữa trùng tu, ngày nay tu viện thánh Phao Lô vẫn giữ được đường nét kiến trúc xưa, chứng tỏ tài năng kiến trúc của Nguyễn Trường Tộ không thua gì các kiến trúc sư người Pháp.

Người Việt Nam đầu tiên vẽ bản đồ địa lý và đồ họa Sài Gòn theo phương pháp Phương Tây

Ông Trần Văn Học, sinh quán ở Bình Dương, giỏi Quốc ngữ, Latinh và tiếng Tây Dương, được giới thiệu làm thông ngôn cho Nguyễn Ánh. Ông phụ trách việc dịch sách kỹ thuật phương Tây, đồng thời kiêm việc chế tạo hỏa xa, địa lôi và các loại binh khí. Năm 1790, Nguyễn Ánh xây thành Bát Quái. Trần Văn Học phụ trách “phác họa đường xá và phân khu phố phường”.

Ông rất có tài vẽ địa đồ, họa đồ và kỹ thuật bản đồ như: tỉ lệ, trắc địa, và vẽ gần như chính xác các thành trì và công trình. Ông được coi người đầu tiên vẽ bản đồ Sài Gòn – Gia Định theo phương pháp phương Tây.

 

Nguồn: namrom64

Kim Quy sưu tầm

Xem thêm...

Một Đời Tìm Kiếm

Kết quả hình ảnh cho Mục Tiêu Cuộc Sống photos

   Một Đời Tìm Kiếm   

    Mục Tiêu Cuộc Sống    

Người ta không sợ lầm lẫn khi qủa quyết rằng: đời sống con người là một cuộc tìm kiếm!
Sự tìm kiếm đó của con người được bày tỏ trong tính cách dự phóng của mình.
Là một hữu thể đặc biệt mà cuộc sống được phối hợp giữa ba thành tố:qúa khứ, hiện tại và tương lai. Sự kết hợp diệu kỳ ấy đã làm nên cuộc sống đầy kỳ thú và nghĩa lý của con người. Thực vậy, con người không những chỉ sống cho giay phút hiện tại mà thôi, con người còn thường lại vảng trở về qúa khứ để giải thích cho những gì đang hình thành trong hiện tại. Nhờ đặt nền tảng vào qúa khứ, toàn nhà nhân sinh của con người như được nâng đỡ bởi một nền tảng của qúa khứ, nhờ qúa khứ, con người biết mình từ đâu đến, vững tâm được gốc cội ngọn người của mình, đồng thời phóng mình vào tương lai để dự phóng cho những gì đang thành tựu trong hiện tại. Nếu qúa khứ hiến dâng cho con người một bối cảnh, một nền tảng, một nơi nương tựa, một cái gọi là nhà để lui về, thì tương lai cống hiến cho con người ánh sáng soi chiếu quảng đường đang đi tới, đồng thời đảm bảo cho giây phút hiện tại, thực chất công việc của mình. Bởi vì sống đối với con người là một sáng tạo không ngừng, mà sáng tạo cần dự phóng vào tương lai. Dự phóng và sáng tạo là hai nhân tố làm cho cuợc sống con người trở nên tươi sáng, an vui và có lý do để sống. Dự phóng(projection) và sáng tạo(creation) bắt con người phải đi tìm kiếm, mà việc tìm kiếm thứ nhất của con người chính là đi tìm kiếm chính mình trong nhãn quan của những tư duy chất vấn: con người tự hỏi mình là ai?
Kết quả hình ảnh cho Mục Tiêu Cuộc Sống photos
Đâu là gía trị của mình trên cõi đời nầy?
Đâu là những nức thang gía trị?
Nhưng câu hỏi tối hậu phải là câu hỏi: tại sao con người lại đi tìm kiếm gía trị? Nói cách khác, con người có thể sống hạnh phúc sung sướng và bình an mà không cần tìm kiếm gía trị không?
Con người đi tìm gía trị, vì chính con người là một gía trị, đi tìm giá trị tức là con người muốn tự lượng định thân mình coi thử mình có gía ti gì không? Mình có đến nỗi bị hư hỏng {bị mất gía trị,vô gía trị lắm không). Không có sự so sánh đối chiếu nầy, cuộc sống con người bắt đầu trở nên vô vị!
Kết quả hình ảnh cho Một Đời Tìm Kiếm photos

Con Người và Những Nức Thang Gía Trị

Trong số các tạo vật dưới vòm trời, con người được coi là một hữu thể đặc biệt, đặc biệt vì có hồn thiêng và trí tuệ. Với hồn thiêng, con người có khả thể mơ ước thần linh! Nhờ có lý trí, con người biết tư duy, lý giải những bí mật của vũ trụ bao la đang vây phủ lấy con người! Chính nhờ tri thức tương đối, con người vươn mình lên biên giới của tri thức tuyệt đối, để chất vấn, để thách đố và đối diện với những vấn nạn liên quan đến Thượng Đế! Con người vì thế được gọi là "Nhân linh ư vạn vật"! Trong lúc các tạo vật khác chỉ biết sống theo cái bản năng phú bẩm tiềm tàng trong bản chất tự nhiên của chúng, chỉ có con người, và con người thôi mới có thể siêu việt trên thiên nhiên và chế ngự được cả thiên nhiên. Cái cao cả của con người, tuy đang bị vũ trụ bao la vây phủ, ý thức được sự kiện mình đang bị đề bẹp bởi vũ trụ, trong khi đó, vũ tru bao la chẳng nhận biết ra chính mình. Con người không những chỉ nhận ra được chỗ đứng của mình trong vũ trụ, mà còn vươn tới sự hiểu biết về nguyên nhân tác thành nên vũ trụ. Tuy là một tạo vật thật bé nhỏ, hay nói theo ngôn từ của nhà tư tưởng Pascal, con người chỉ là một cây sậy khẳng khiu, nhưng là một cây sậy biết suy tư( Pascal, Les Penseés). Nhờ ở nét suy tư độc đáo nầy, con người đã làm chủ được vũ trụ bằng cách đặt vũ trụ vào cái thế giới đối tượng của tiến trình tư tưởng.
Từ cái ưu thế có hồn thiêng và tri thức, con người trở thành triều thiên của vũ trụ được Thượng Đế tạo dựng. Tuy được ưu thế đứng cao trên vòm trời chót vót của tri thức, con người phải dấn thân trong vũ trụ vói một số kiếp hẫm hiu hơn các tạo vật khác: đối diện với một cái gì đó đang giang dở, chưa hoàn thiện. Con người vì thế suốt cuộc đời không ngừng đi tìm kiếm. Bởi vì con người hơn các tạo vật khác nhờ có linh hồn và tri thức, cho nên con người cũng phải đương đầu với nhiều nước mắt khổ đau hơn các tạo vật khác. Được cấu tạo hai yếu tố linh thiêng và vật chất, cho nên con người mang trong mình hai cuộc sống, hai vận mệnh: một cuộc sống thể chất, và một cuộc sống thuộc về thần linh. Con người được mô tả có chân đạp trái đất, nhưng lại có đầu đội trời cao: một đàng con người phải lấp đầy những đòi hỏi của phần vật chất, đàng khác, thần linh mời gọi con người phải siêu việt trên vật chất để hướng vọng về trời cao, quê hương của thần linh.Nỗi khổ đau của con người là sự giằng co, tranh chấp giữa hai biên giới thần-nhân. Con người một đàng nghe theo tiếng gọi trái đất, nhưng đàng khác, không được quên lời mời gọi của trời cao, nếu con người muốn sống đầy đủ ý nghĩa cuộc nhân sinh có ý nghĩs cao cả.
Kết quả hình ảnh cho hấp lực của tình yêu photos
Qua cuộc sống trần gian, con người không những lo chu toàn nghĩa vụ với thân xác thuộc thế giới vật chất , nhưng cũng phải chu toàn nghĩa vụ đối với linh hồn. Vật chất, linh thiêng, trần gian và thần linh vốn mang bản chất trái ngược, nếu không muốn nói là thù nghịch, mâu thuẫn. Huyền nhiệm của con người tìm thấy trong cái hiện thể nghịch lý mâu thuẫn đó. Con người tự mang trong bản chất của mình một mâu thuẫn to lớn. Định mệnh con người là sống làm sao để dung hòa sự mâu thuẫn ấy. Trên kia có lần nói tới biện chứng pháp của Hegel, theo đó mọi hữu thể đều mang trong mình sự mâu thuẫn nội tại. Muốn có sự thăng tiến, mội hiện hữu phải tự chối bỏ chính bản thân hiện tại để vươn tới một thực trạng khác cao cả toàn vẹn hơn, và cứ như thế toàn thể vũ tụ thăng tiến, xoay vần không ngừng. Áp dụng nguyên tác biện chứng pháp trên vào hiện thực của con người, thì qủa thực mỗi sinh linh mang theo trong mình một mâu thuẫn lớn lao là tự chối bỏ chính mình, nếu muốn vươn lên, muốn siêu việt hóa, thăng hóa lên, bay cao hơn lên trong sự toàn thiện. Đời người , vì thế là một cố gắng không ngừng để siêu việt hóa, để thăng hóa. Muốn tiến nhanh trên đường siêu việt hóa và thăng hóa, con người không bao giờ có thể ngừng lại, toại nguyện trong cuộc tìm kiếm Chân-Thiện-Mỹ.
Một hình ảnh đơn sơ hy vọng sẽ làm sáng tỏ những đều vừa phát biểu trên về thực tại con người không bao giờ yên nghĩ, mà luôn luôn phải lên đường hành trình tìm kiếm: Con sư tử hay con cọp, sau khi lao lư vất vả đi kiếm mồi, một khi tìm được con mồi rồi, chúng say sưa với miếng mồi và rồi quyên hết mọi sự .Một khi đã say mồi, con vật cảm thấy thỏa mãn, chúng yên nghĩ vui thú, quên đi tất cả! Chúng sẽ ngũ ngon yên giấc dưới ánh sao mờ bên bờ suối! Có thế thôi, tất cả chấm tậm, an bình, thỏa thích…
Loài người không như thế, trái lại, sau một đời tìm kiếm, sau khi chiếm hữu được những gì thèm khát mong muốn, sau khi thỏa mãn những gì trái tim mong đợi, con người không an nghĩ trong yên bình, nhưng con người bắt đầu tư duy, thổn thức, mưu toan sắp đặt, bày biện kế hoặch cho những gì chưa có. Tại sao con người không bao giờ an nghĩ, thỏa mãn, sung sướng hoàn toàn? Thưa vì con người có bản chất suy tư, sống được định nghĩa là suy tư, mà suy tư là đi tìm kiếm. Bao lâu con người hết suy tư, hết mơ mông, hết dự phóng về tương lai, hết tìm kiếm, con người cũng hết thú vị làm người. Sống không mơ, không dự phóng là như đã chết! Nhưng con người mơ ước những gì?
Hãy hỏi con người suốt trên giòng sử đông tây, kim cổ, xem con người đi tìm kiếm những gì?
Phải chăng đối tượng tìm kiếm của con người được thâu trọn trong hai chữ Hạnh-Phúc ?
Kết quả hình ảnh cho hấp lực của tình yêu photos

Con Người và Vấn Đề Hạnh Phúc

Cụm từ "hạnh-phúc" nghe thật xưa, xưa như biến cố xuất hiện của con người trên trái đất, nhưng chúng ta không thể không bàn tới, bởi vì đó lại là chính vấn đề then chốt của con người, nó đã, đang và sẽ muôn đời là vấn đề của con người. Không thể hiểu được con người mà không thấu đáo ý nghĩa của hai chữ hạnh phúc!
Hạnh phúc, vấn đề độc đáo của con người, vì thế nó đã làm hao tổn biết bao bút mực, làm nhức nhối biết bao trái tim, đã gây băn khoăn cho bao nhiêu đầu óc miệt mài suy nghĩ! Nhưng hai chữ hạnh phúc vẫn mãi mãi môn đời ám ảnh con người sống trên dương thế! Bao lâu còn có con người sống trên đời, bấy lâu người ta còn băn khoăn khác khoải vì hai chữ hạnh phúc! Hạnh-phúc và con người bám sát, quấn quít lấy nhau, ôm ấp ràng buộc vào nhau như một định mệnh bất khả chia lìa tựa như hình với bóng.
Con người mong ước những gì? Mơ mộng những gì? Tìm kiếm gì trên cõi đời nầy?
Câu hỏi mới nghe ra như viễn vông phi lý nhưng nếu xét cho kỹ đó cũng là câu hỏi căn bản mà con người thỉnh nên tự đặt ra cho chính mìng. Bởi vì một khi con người không còn biết mình tìm kiếm hoặc mơ ước gì nữa, cuộc sống vũng bổng dưng trở thành vô nghĩa lý hoặc thừa thãi!
Thực ra ước mơ của con người trên đời vô cùng phức tạp, mỗi con người có một thứ mơ ước riêng tư không mơ ước của ai giống ai.Có muôn vàn thứ ước mơ, nhưng nếu gom góp ước mơ của con người trên thế gian nầy lại, từ cổ chí kim, từ đông sang tây, từ nam chí bắc, ước của của nhân loại có lẽ chỉ thu tóm vào một thứ duy nhất thôi: tức là con người ước mơ được sống hạnh phúc, tránh các thứ khổ đau sầu muộn! Thực vậy, sinh vào đời, mang số kiếp người, sống thân phận làm người giữa cuộc đời, con người không mong gì hơn là sống sung sướng hạnh phúc, thoát đau khổ!
Nhưng đáng buồn thay! Giấc mơ hạnh phúc không êm đềm như giòng sông thu! Càng sống lâu trong cuộc đời, càng có nhiều kinh n ghiệm về cuộc sống, con người cảm nghiệm nhiều khổ đau hơn hạnh phúc. Con người càng kiếm tìm hạnh phúc, hạnh phúc càng tung cánh cao bay biền biệt! Thay vì chiếm đoạt được hạnh phúc như một sở hữu đặc thù của mình, con người pải luôn luôn đối diện với thực tế đau khổ. Không thể có hạnh phúc mà không cảm nghiệm đau khổ! Cũng như người đi hái hoa hồng, phải đương đầu với gai gốc của loài hồng, vì không có bông hồng nào mà không có gai nhọn bao bọc chung quanh. hạnh phúc và đau khổ vì thế quấn quít lẫn nhau, ôm ấp lấy nhau và bao hàm lẫng trong nhau. Nói cách khác, khổ đau và hạnh phúc, niềm vui và nước mắt là hai mặt của thực tại cuộc nhân sinh! Còn hơn thế nữa, khổ đau định nghĩa cuộc sống con người! Hai chữ khổ đau đã trở nên đồng nghĩa với số kiếp người! Khổ đau đã trở thành đề tài vô tận trong kho tàng văn chương nhân loại, đã khơi nguồn phong phú cho triết lý và đạo học của loài người!
Kết quả hình ảnh cho Một Đời Tìm Kiếm photos
Nói về cuộc đời khổ sầu, Thi sĩ Chế lan Viên đặt bút viết những câu thơ bất hủ:
" Tôi có chờ đâu, có đợi đâu
Đem chi xuân đến, gợi thêm sầu!
Với tôi tất cả như vô nghĩa
tất cả không ngoài nghĩa khổ đau!
Ai đâu trở lại mùa thu trước,
nhặt lấy cho tôi những lá vàng,
với của hoa tươi muôn cánh rã,
về đây đem chắn nỗi thu sang"!
Mùa xuân tượng trưng cho niềm vui và là biểu tượng của hạnh phúc, nhưng ai đã từng nếm mùi vị của hương xuân, đã từng thưởng thức hương xuân chắc cũng đồng ý với thi nhân về cái chóng tàn dối trá cuả mùa xuân trần thế. Cái mà hôm nay ta trông ngóng đợi chờ, thì ngày mai nó đã phai mầu, đã tàn lụi, dã từ ta ra đi lặng lẽ dưới sự chèn ép não nề của thời gian. Niềm hy vọng , vì thế đã biến thành ảo vọng.
Nói về đời người như gắn liền với khổ đau, ngạn ngữ Pháp có câu:
"Con người là kẻ học nghề:
mà thầy là nỗi âu sầu đớn đau!
Không ai hiểu nổi mình đâu!
nếu chưa nếm những giọt sầu đắng cay!
Nếu muốn biết cuộc đời con người sung sướng và khổ đau chênh lệch mực nào, ta thử đem lên cân đo xem nặng nhẹ thế nào: ta sẽ ngạc nhiên thấy "cuộc đời niềm vui chỉ có hai chục mà nỗi khổ sầu đến tám muơi"!
Kết quả hình ảnh cho Mục Tiêu Cuộc Sống photos
Bàn về thực chất đau khổ cuộc đời, Đức Phật Thích Ca đã không ngần ngại kết luận:" Đời là bể khổ ", " Nước mắt của chúng sinh nơi trần thế góp lại thành tứ hải đại dương". Triết lý nhà Phật, từ đó đã xây dựng trên tiêu đề của khổ đau: đời là đau khổ, và đau khổ cuộc khởi nguyên từ bốn nguồn gốc gọi tà "tứ khổ", tức là : "Sinh, Lão, Bệnh, Tử": con người khổ vì phải sinh ra trên cõi đời, trở nên gìa nua tuổi tác là nguồn sinh ra khổ , bệnh tật là khổ và , cuối cùng, chết là cái khổ to lớn khó vã hồi. Tử tiền đề khổ ầy, Đức Phật đã dày công tìm kiếm phương phaáp cho nhân trần trốn thoát khổ đau, phương pháp thoát khổ ấy là diệt dục, vì dục là căn nguyên của "Tứ Khổ"!
Phương pháp diệt dục thoát khổ của đạo Phật đã xuất hiện trên thế giới trên bốn nghìn năm, nhưng con người vẫn tiếp tục sống khổ đau, nước mắt nhân loại vẫn ngấn chảy dài trên số kiếp người. Những học thuyết, những triết lý mới khác lại ra đời đối diện với khổ đau của con nhân loại!
Vấn đề được dặt ra nơi đây không phải là tìm giải quyết vấn đề đau khổ nhưng là tìm xem liệu con người có thể sống hạnh phúc sung sướng trên trần gian nầy chăng?
Tại sao con người lại khát mong hạnh phúc?
Phải chăng hạnh phúc chỉ là một ảo mộng? Hay nói khác đi, phải chăng khi đặt khát vọng hạnh phúc trong tâm hồn nhân loại, Thượng-Đế đã đánh lừa con người, để suốt đời chạy đuổi theo một bong ma hư ảo?
Tại sao con người không thật sự hạnh phúc sung sướng trong cuộc đời?
Có con đường nào đưa nhân loại tìm về chân hạnh phúc không?
Nhưng câu hỏi chính yếu vẫn là những câu hỏi liên quan đến hai chữ hạnh phúc, chẳng hạn như làm sao chiếm hữu và bảo toàn được hạnh phúc?
Con đường nào đưa ta vào hạnh phúc?

ĐỐI TƯỢNG HẠNH PHÚC

Hai chữ "hạnh phúc" thoạt nghe thật giản dị, rất thân thương và như một cái gì gần gủi với con người, nhưng khi ta cố gắng tìm hiểu, xác định, phân tích, lý giải, nó bổng trở nên mông lung, mờ ảo tựa như những giọt sương mai, tuy lóng lánh dưới ánh sáng tuyệt vời bình minh, hay như làn sương mờ ban mai, "bước đi sẽ đứt, động hờ sẽ tan". Cũng vậy, thật khó mà định nghĩa được "hạnh phúc", bởi vì nó đổi thay dưới thiên hình vạn trạng, mỗi người hiểu nó một cách khác tùy theo tuổi tác, trình độ, hoàn cảnh xã hội, môi sinh, giáo dục, truyền thống văn hóa và ảnh hưởng của đạo giáo, tín ngưỡng!
Kết quả hình ảnh cho Tình photos

Tình

Mỗi lứa tuổi quan niệm hạnh phúc khác nhau, tuổi trẻ quan niện hạnh phúc là "tình yêu", khi yêu và được yêu là khi con người có hạnh phúc, Dĩ nhiên hai chữ hạnh phúc ở đây thường cảm nghiệm trong lãnh vực "tình aí", "tình dục"! Bởi thế, người trẻ hăm hở bước vào đời, nhìn cuộc đời với lăng kính mầu hồng của tình yêu: đời thật đẹp, thật rực rỡ huy hoàng, người trẻ xông xáo vào đời, tìm sống giây phút huy hoàng ấy của tình yêu, vì họ đồng ý với thi sĩ Xuân-Diệu:" Thà một phút huy hoàng rồi chết lịm, còn hơn le lói suốt ngàn năm"! Tình yêu được tuổi trẻ cảm nghiệm n hư một mãnh lực quyền uy làm cho họ yêu thương bám sát lấy cuộc đời. Thi nhan đã diễn tả hương vị tuyệt vời say đắm của tình yêu bằng những ngôn từ diễm tuyệt:
" Ta muốn ôm cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu!
Ta muôm thâu trong một cái hôn niều:
Và non nước và cây và cỏ rạng!
Cho chếnh choáng mùi hương, cho rộn ràng ánh sáng,
Cho đê mê thanh sắc của thời tươi,
Hởi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi"!
Xuân-Diệu
Nhưng tình yêu là gì mà nó chiếm đoạt cả trái tim tuổi trẻ và án ngự cả linh hồn con người. Khi phải định nghĩa lý giải tình yêu, chúng ta thấy bàng hoàng bâng khuân, mịt mùng như đối diện với một thứ huyền thoại:
" Làm sao định nghĩa được tình yêu:
Có nghĩa gì đâu một buổi chiều,
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt
bằng mây bàng bạc, gío hiu hiu"!

Xuân Diệu
Thi sĩ Hàn Mặc Tử đã lắng nghe trong yên lặng tuyệt vời của tiếng nước hồ reo, và nhìn thấy trong lời run của tơ liễu ý nghĩ của yêu thương:
" Ai hãy làm thinh, chớ nói nhiều,
Hãy ngh dưới đay nước hồ reo,
Và nghe tô liễu run ttrong gió
Và để nghe Trời giải nghĩa yêu"!

Hàn Mặc Tử
Con người đi tìm tình yêu như một đối tượng của hạnh phúc, nhưng lại không hiểu tình yêu là gì, càng không thể nắm chắc nó bền vững lâu dài! Bởi vì "tình yêu đến, tình yêu đi ai nào biết, trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt"!Vì thế, thi sĩ Hồ Zdếnh đã phải than :
" Em tôi ơi! Tình có nghĩa gì đâu?
Nếu là không lưu luyến buổi ban đầu,
Thủa ân ái mong manh như nắng lụa;
Ong bướm ngập ngừng, cỏ hoa lần lựa!
Nếu trót đi em hãy gắng trở về
Đời mất vui khi đã trọn câu thề,
Tình chỉ đẹp khi hãy còn dang dở!
Thư viết đừng xong, thuyền xuôi chớ đỗ,
Cho nghìn sau hờ hững với nghìn xưa!

Hồ-Zdếnh
Thi nhân cảm nghiệm sâu thắm thực chất nét đẹp của tình yêu ngay trong cái mong manh, dòn mỏng, dang dở chóng qua. Vì thế người ta thường ví tình yêu và cánh hoa hồng: cánh hoa hồng đẹp, nmột nét đẹp kiêu sa huyền diệu khó diễn tả bằng ngôn từ nhân loại! Nhưng cái nét đẹp huyền diệu ấy lại là sự chóng tàn phai của nó! Hoa hồng đẹp vì nó chóng phai tàn, sự chóng phai tàn làm nên tính cách đặc thù của sự hiện hữu của hoa hồng. Vậy yêu hoa hồng, ta phải yêu luôn cả sự chóng phai tàn đó. Hoa hồng không những chóng phai tàn mà còn đi liền vói gai gốc! Vì thế đời có câu:
"Hồng nào lại không gai. Tình nào mà không phai"!
Có tình, cảm nghiệm tình yêu, con người vẫn chưa thể dừng lại, vì cuộc sống không đơn thuần như trái tim yêu thương khờ dại của tuổi trẻ! Tình yêu không cho phép con người trốn chạy thực tại cuộc đời: con người không thể sống bằng tình yêu thôi, còn nhiều thứ nhu cầu khác trong cuộc sống. đặc biệt là như cầu tiền bạc. Tình yêu không thể nuôi sống bằng nước lã, cũng như bông hồng không thể tươi nếu không có nước. Thực tế cuộc đời mà con người bắt buộc phải đối diện đó là tiền bạc, không có nó, tình yêu không thể tồn tại lâu dài. 
Kết quả hình ảnh cho Tiền photos

Tiền

Ai đã đi vào cuộc sống, đã bôn ba xuôi ngược trên chợ đời, đã tranh đua với số kiếp với người đời, mà đã không một lần cảm nghiệm cái mãnh lực của đồng tiền? Đồng tiền nối liền với khúc ruột của con người, nó cũng chính là cái căn cơ của buồn vui sướng khổ của nhân loại? Cũng chính đồng tiền đã đưa đảy con người tới thành công hay thất bại, được thiên hạ nể vì, nhân nhựợng hay khinh khi coi thường! Vì hế tiền bạc đã biến thành một thứ quyền lực vô song ảnh hưởng trên cuộc sống con người. Thế sự thăng trầm, con người thay lòng đổi dạ, xã hội đảo điên, luân thường đạo lý bị xáo trộn, tất cả cũng vì ảnh hưởng của đồng tiền. Vì thế, qua dòng lịch sử nhân loại, nhiều bậc thánh hiền, các nhà mô phạm, đặc biệt là các tôn giáo đã đưa ra niều lời, nhiều giáo thuyết nhằm răn dạy, cảnh cáo và cải hóa lòng người. Theo truyền thống tu trì trong đạo công giáo, có ba lời khấn dựa trên ba nhân đức chủ yếu của bặc tu dòng: đó là “đức khó nghèo, đức vâng lời và khiết tịnh”. Trong ba nhân đức nấy, lời khấn giữu đức khó nghè là quan trọng hơn cả, bởi vì, cũng theo truyền thống tu đức theo tinh thần Phúc Âm của Chúa Cứu-Thế, cần khắc chế lòng tham lam mê say vật chất, đặc biệt là tiền bạc. Kinh-Thánh dạy:" lòng ham mê tiền bạc là mẹ sinh ra muôn vàn tính hư nết xấu khác"!
Theo lý thuyết nhà Phật: "tham-sân-si" là ba kẻ thù của con người. vậy muốn khởi công tu thân tích đức, conngười, nhất là kẻ tầm"Đạo", cần khước từ và chế ngự lòng tham! Tham lam là đầu mối sinh ra dục vọng. Vậy muốn thoát khổ con người cần diệt dục, mà muốn diệt dục, cần phải chế ngự, tận diệt lòng tham, vì lòng tham của con người vô đáy!
Tiền bạc không những làm hư con người, không những làm cho con người trở nên mù quáng mà thôi, nó còn làm cho nhân loại đi lạc vào sa đoạ!
Người đời thường bị tiền bạc lung lạc, thay trắng đổi đen, hoặc trở nên kiêu căng ngạo nghễ, khinh dễ đồng loại cũng vì cậy vào mãnh lực của đồng tiền.
Hãy lần mở tranng văn học sử, để nghe Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nhận định về thế lực đồng tiền đối với con người:
" Còn bạc còn tiền, còn đệ tử, Hết cơm hết gạo hết ông tôi"
Kết quả hình ảnh cho Tiền photos
Tiền bạc không những ảnh hưởng sâu đậm trên cộc sống con người thôi đâu, nó còn làm sai lạc cả nhân quần xã hội, thế thái nhân tình cũng vì thế mà đảo-điên cuồng loạn. Văn hoà Nguyễn Công Trứ để lại bài thơ nổi danh như sau:
"Thế thái nhân tìng gớm chết thay,
Lạt nồng trong chiếc túi vơi đầy,
Hễ không điều lợi khôn thành dại,
Đã có đồng tiền dở cũng hay!
Khôn khéo chẳng qua ba tấc lưỡi,
Hẳn hoi không hết mọt bàn tay,
Suy ra cho kỹ chi hơn nữa,
Bạc qúa vôi mà mỏng qúa mây"!

Nguyễn Công-Trứ
Biết cử dụng, đồng tiền là tên đầy tớ tốt, nhưng ngược lại, nó là ông chủ khắc nghiệt, khó tính, là căn nguyên của mọi thay đổi xáo trộn cho xã hội loài người, nhà thơ Quốc-Nghệ đã viết lên sự thật chua cay đó bằng những lời thơ châm biếm như sau:
"Bạc ác chi mi lắm rứa tiền,
Mi làm nhân loại hóa ra điên!
Mi tô mặt nạ đen ra trắng,
Mi xé ân tình thẳng hóa xiên!
Mi gác luân thường vào một xó,
Mi đưa nhân nghĩa xếp ai bên!
Mi làm nhân loại đua tranh mãi,
Bạc ác chi mi lắm rứa tiền!???

Quốc-Nghệ

Kết quả hình ảnh cho hấp lực của tình yêu photos
Khi nói về hấp lực của tình yêu, vẫn còn một mức độ nào đó của tuổi tác, của giai tầng xã hội, của ảnh hưởng của trình độ giáo dục văn hóa đạo đức, nhưng mãnh lực và sự hấp dẫn của tiền bạc hình như có tính cách phổ quát, không biên giới, không bến bờ, nghĩa là lòng ưa thích tiền bạc nơi con người, thời nào cũng thế, bất phân đông tây kim cổ, không phân chia ranh giới giữa trẻ gìa, nam nữ. Mang thân phận làm người, không ai thoát khỏi vòng cương tỏa và sự lôi cuốn của tiền bạc, nhất là con người trong xã hội tân tiến hiện đại.
Kết quả hình ảnh cho lực của tình yêu photos
Thực vậy, con người trong thế giới ngày nay, đặc biệt con người trong các nước tân tiến, nơi mà gía trị con người được lượng gía theo mức độ chiếm hữu và hưởng thụ, nghĩa là người nào giàu có, hưởng thụ nhiều, hưởng thụ sang, đượ c coi như kẻ thành tượu hạnh phúc sung sướng trên đời. Trái lại, người nghèo, ít tiền, có ít phương tiện, ít hoặc không được hưởng thụ, bị coi như người bất hạnh khốn cùng! Vói não trạng tôn thờ chiếm hữu và hưởng thụ ấy, tiền bạc đượx nâng lên hàng chúa tể, lý tưởng cho con người tôn thờ sùng bái! Không lạ gì khi nghe người đời ca tụng tiền bạc bằng mỗt thứ ngôn đaáng lẽ pải dành cho Thiên-Chúa, tôn giáo, lý tưởng cao cả:
"Đồng tiền là tiên, là Phật
Là sức bật của tuổi trẻ,
là sức khỏe của tuổi gìa,
là cái đà danh vọng,
là chiếc lọng che thân,
là cán công chân lý"!
Trong Tân Ước, Chúa Kitô đã nghiêm nghị cảnh cáo con người về lòng mê say vật chất, nhất là khuynh hướng tôn thờ tiền bạc, Chúa phán:
"Không ai có thể làm tôi hai chủ, một là Thiên Chúa hay là tiền bạc: một là mến chủ nầy mà ghét chủ kia. Vậy không thể vừa tôn thờ Thiên Chúa vừa tôn thờ tiền bạc được"
Nemo potest duobus dominis servire: aut enim unum odio habebit et alterum diliget, aut unum sustinebit et alterum contemnet; non potestis Deo servire et mammonae. (Mt. 6, 24)
Chúa không kết án kẻ có nhiều tiền bạc, nhưng Ngài dạy họ phải vươn lên trên sự lôi cuốn của tiền bạc, vì con người sinh ra trên đời để tìm kiếm và tôn thờ Thiên Chúa và chu toàn nghĩa vụ của công lý. Trách vụ tiên quyết của con người sinh ra làm người là chu toàn thánh ý của Thiên Chúa, mà thánh ý muốn chúng ta tìm kiếm "Nước Trời "như lời Ngài phán dạy:" Tiên vàn hãy tìm kiếm Nước-Trời và thực thi công chính, mọi sự khác sẽ ban cho các con"
« Quaerite autem primum regnum Dei et iustitiam eius, et haec omnia adicientur vobis (Mt. 6, 33)
Nơi khác, Ngài khuyên các môn đệ phải biết lợi dụng của cải trần gian nư phương thế để chiếm hữu "Nước-Trời:" Các con hãy dùng của cải trần gian mà mua sắm phần thưởng trên trời, nơi không bị mối mọt làm hư hỏng cũng chẳng sợ trộm cướp cưỡng chiếm"!" của các con ở đâu, thì lòng các con ở đó!
Chiếm được Nước Trời, mới là mục tiêu của con người tại thế, cũng là cơ nghiệp vĩ đại nhất mà con người có thể vui hưởng muôn đời, so với phần thưởng muôn vĩnh hằng trường cửu trên trời, của cải trần gian chỉ là một thứ hào nhoáng chóng qua chóng hết, bởi vì, Chúa phán:" được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn, nào có ích gì"?!
Enim prodest homini, si mundum universum lucretur, animae vero suae detrimentum patiatur? Aut quam dabit homo commutationem pro anima sua? "(Mt 16-26...)
Kết quả hình ảnh cho Danh Vọng photos

Danh Vọng

Để được sống còn và hưởng thụ, con người cần tìm kiếm và tích lũy tièn bạc của cải cho mình, nhưng con nguời vẫn không ngường tại đó! Con vật khi đã no mồi, nó thảnh thơi vui hưởng thoải mái vui chơi và nghĩ ngơi, con người, trái lại, sau khi tận hưởng no say thỏa thích rồi, bắt đầu suy tư thao thức! Con người tìm kiếm gì nữa, mong ước gì nữa, khát vọng nữa những gì ? Thưa con người muốn được người đời biết đến, muốn được thời danh, được người đời cúi đầu kính trọng, nói cách khác, con người còn thèm khát thêm một đều nữa, đó là danh vọng!
Tự bản chất, con người tự được phú bẩm xã hội tính, hay nói theo triết Hiện Sinh, thì con người là tạo vật sinh để sốn tre3n đời và sống với những con người khác. Cuộc sống, đối với con người, vì theé, là sống với những con người khác, được cảm thông và được chấp nhận bởi những người chung quanh. Hạnh phúc là khi con người được người khác chia sẻ với và đồng ý với mình. Thành công trên đời với con người là gì, nếu không phải là những tài nang của mình được xã hội loài người chấp nhận. Vậy được biết đến, được chấp nhận, được chia sẻ bởi xã hội đã nằm sẵn trong bản tính của con ngưòi.
Danh vọng, hay được người đời nhìn nhận tài năng của mình, kính trọng, nể vì là một khao khát thâm sâu của mỗi sinh linh. Khởi nguyên của danh vọng theo ngôn từ của triết gia Nietzsche là chính ý muốn thống trị tngười khác(the Will to Power). Ý muốn thống trị nầy bàng bạc khắp nơi như linh hồn của thế giới, đặc biệt sâu đậm trong con người. Mỗi con người sinh ra trong trần thế bị chi phối, dun dủi bởi ý muốn nầy, như một động lực hướng dẫn hành động, như nguyên ủy, như tiềm lực thôi thúc con người trong mọi hoạt động. Vì thế mỗi con người là một trung tâm điểm của ý muốn thống trị nầy, cuộc hiện hữu của con người trên đời, cũng vì thế được bày tỏ, được biểu trưng và phác họa như một ý muốn thống trị cả vũ hoàn. Dưới sức thúc đẩy của ý muốn nầy, con người cố lướt thắng mọi trở ngại, đạp trên mọi chông gai thẳng tiến coi cuộc hành trình không giới hạn. Dẫu con người ý thức được hiện thực là mình bị kiềm chế bởi xã hội và bởi những con người khác, nhiều khi là tù nhân của đám đông, của dư luận, của luật lệ và sức mạnh của kẻ khác, tuy nhiên, nhờ ý muốn thống trị nầy, con người không sợ mà vươn thẳng tới mục tiêu mình mong muốn! Ai đã lớn lên trong cuộc đời mà không hề có lần khát mong được danh thành công tọai như Nguyễn Công Trứ:
"Đã mang tiếng ở trong trời đất,
Phải có danh gì với núi sông",
Trong lúc trần ai, ai dễ biết,
rồi ra mới rõ mặt anh hùng"!
Hoặc oai phong lẫm liệt hơn trong hai bài thơ "Phận làm trai, và Chí làm Trai":
" Có trung hiếu, nên đứng trong trời đất,
không công danh thà nát với cỏ cây,
chí tang bồng hồ thỉ dạ nào khuây,
Phải hăm hở ra tài kinh tế.
Người thế, trả nợ đời là thế,
của đồng lần thiên hạ tiêu chung,
riêng nhâu hai chữ"anh hùng"!
..............................................
Đã hẳn rằng ai nhục ai vinh,
mấy kẻ biết anh hùng khi vị ngộ!?
Cũng có lúc mưa dồn sóng vỗ,'
Quyết ra tay buồm lái với cuồng phong,
chí những toan xẻ núi lấp sông,
làm nên tiếng phi thường đâu đấy tỏ,
đường mây rộng thênh thênh cử bộ,
Nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo,
Thảnh thơi thơ túi rượu bầu"!
Nguyễn Công Trứ
Dẫu có tài ba phi thường, dẫu có được vang danh lưu thế, con đường công danh sự nghiệp không phải là không gặp cuồng ba sóng gío, niềm sung sướng hạnh phúc pha lẫn nước mắt và đọa đày, bởi vì:
"Ra trường danh lợi vinh liền nhục!
Vào cuộc trần ai khóc lẫn cười!
Kết quả hình ảnh cho hấp lực của tình yêu photos

Tìm Tuyệt Đối Giữa Lòng Tương Đối

Tình-Tiền và Danh-Vọng như trình bày trên là ba đối tượng của hạnh phúc con người. Ba thứ hấp lực nầy dẩy đưa cuộc sống của con người làm ảnh hưởng cả hướng đi của lịch sử nhân loại. Tóm lại, con người ước mong, tìm kiếm và chiếm hữu cho được Tình-Tiền-Tài, nhưng khi chiếm hữu được rồi, khi hưởng thụ được rồi, hỏi con người có được hạnh phúc sung sướng hay không? được thỏa mãn và an nghĩ bình yên không?
Nếu ta đọc kỹ lịch sử để coi cuộc sống của những danh nhân, những vị đã vang danh lưu thế, những người được tôn sùng là thần tượng, được thiên hạ cho là sung sướng nhất trên đời, hỏi họ có thực được hạnh phúc hay không?
Hay ta trở vào cuộc nhân sinh hiện tại hỏi những con người đang hưởng những gì mà ta mong muốn, hỏi họ có được mãn nguyện về những gì họ chiếm hữu và hưởng thụ không?
Câu trả lời là không!
Biết bao con người thời danh, sau khi chiếm hữu tất cả, hưởng thụ tất cả, cảm nghiệm cuộc sống trống vắng, thiếu thốn, tẻ nhạt, vô vị, chán ngán, thất vọng. Trong thế kỷ của chúng ta, biết bao ngững người thời danh đã chọn tự tử để kết thúc cuộc sống mà họ cảm nghiệm vô vị, và vô nghĩa! Tai sao thế?
Và cả chúng ta nữa, sớm hay muộn, rồi cũng có một ngày nào đó, vào một thời điểm nào đó trong cuộc sống, sau bao nhiêu tranh đầu cam go, sau bao nhiêu tháng năm miệt mài trong gian khổ tìm kiếm, chiếm hữu, thu tích để có những gì ta mong muốn ước mơ,! Một ngày nào đó, chúng ta cảm thấy tâm hồn mình trống rỗng, thiếu nghèo nàn, băn khoăn, cảm nghiệm vị cay đắng sững sờ tràn chảy trong trái tim tăm tối bơ vơ, khi thấy rằng mình đã uổng công phí cả một đời đi tìm những ảo vọng trong một ốc đảo đầy mộng ảo!
Hình như có cái gì đó bất ổn đang thao thức trong tim? Hình như có nỗi lo âu nào đó đang canh cánh bên lòng? Hình như ước mong hạnh phúc chỉ là một giấc mơm, một giấc mơ thừa thãi, phi lý!
Nói thế, không có nghĩa chúng ta bi quan hóa cuộc đời! Những cảm nghiệm trên thật đúng đắn và cũng là khởi đầu cho một giai đoạn mới của con người đi truy tầm vào chân hạnh phúc!
Kết quả hình ảnh cho Trong Thế Giới Vô Thường photos

Trong Thế Giới Vô Thường

Mơ ước hạnh phúc mà con người cảm nghiệm trong đời là thực thụ và lành mạnh, chứ không phải là ảo tưởng. Chính Thiên Chúa đã gieo ước mơ hạnh phúc nơi trái tim con người khi Ngài cho mang thân phận làm người và đi vào hiện hữu. Những đối tượng của hạnh phúc như tiền-tình và danh vọng là những đối tưọng thực chứ không phải gỉa tướng. Ảo vọng là ở thái độ lầm tưởng của con người về cái nhìn vào thế giới. Con người đả quên là mình đang sống trong một thế vô thường, những gì con người mơ ước, tự bản chất có một gía trị, nhưng là gía trị tương đối. Sai lầm ở chỗ con người ôm lấy những gía trị tương đối mà nhận làm tuyệt đối. sống trong òng một thế giới vô thường, nghĩa là hữu hạn, chóng qua, thay đổi, nhất thời mà con người lầm tưởng rằng thế giới nầy và những đối tượng trong thế giới là tuyệt đối, vĩnh hằng. Những đối tượng hạnh phúc mà con người ảm nhiệm hôm nay có một gía trị tương đối, có tính cách nhất thời, giai đoạn giúp con người xử dụng chúng như những phương tiện, như người dùng chiếc đò để qua sông, một khi qua được bên kia bờ sông rồi, hãy bỏ chiếc đò để lên bến bờ chân thực. Con người không làm thế, trái lại, ôm lấy những thứ tương đối mà ngỡ là tuyệt đối vĩnh viễn: con người đã có thái độ lầm, ôm ấp những thứ tương đối trong lòng vô thường mà ngỡ là mình đã qua được sông Chân Lý Vĩnh Hằng!
Tóm lại, con người đã bám lấy phương tiện mà quên đi mục đích, đã bám lấy chiếc đò mà quên bước sang bên kia bờ bến mong đợi, cũng như Lý Thái Bạch thủa xưa nhảy xuống ôm bóng trăng dưới nước mả ngỡ là mình đang thiệt sư ôm măặt trăng! Khi Thiên Chúa tạo dựng nên con người và đặt vào lòng thế giới, Ngài đặt trong trái tim con người khát vọng hạnh phúc là để con người đi tìm chân hạnh phúc ở trên Trời, nơi quê hương vĩnh cữu. Con người thay vì hướng lòng về trời cao, thay vì đi tìm Chân-Thiện-Mỹ, là chính Thiên Chúa, Đấng Tạo-Hóa, Người Cha yêu thương, cùng đích của nhân nloại, con người lại ôm chặt lấy nhiên giới, thế giới hiện tượng của thay đổi của biến động của vật chất tương đối mà quên đi quê hương đích thực của mình. Nói khác đi, con người bám chặt vào chiếc đò, mà quên đi bờ bến bên kia, đó là lý do tại sao, sau khi chiếm hữu và hưởng thụ những đối tượng tình-tiền-danh vọng, con người cảm thấy thiếu thốn, chán chường âu lo và cay đáng. Thánh Augustinô đã cho ta một bằng chứng hùng hồn veề những cảm nghiệm cuộc đời của Ngài: sau một cuộc đời phiêu lưu tìm kiếm và hưởng thụ trong sa đoạ, Augustinô đã tìm được ánh sáng cứu rỗi và Ngài đã kêu lên những tiếng chân thật của một linh hồn khát khao chân lý và bình yên chân chính, Ngài viết lại trong cuốc sách tự thú những lời đáng qúi nầy:" Linh hồn tôi thao thức xao xuyến cho đến khi được yên nghĩ trong Chúa là Thiên Chúa chân thực của tôi"!( Confessions )
Kết quả hình ảnh cho Hạnh Phúc và Nước Mắt photos

Hạnh Phúc và Nước Mắt

Không thể chối bỏ được khát vọng hạnh phúc đang nung nấu trong trái tim con người, một trái tim luôn tìm kiếm, kêu van, luôn thét gào, luôn đòi hỏi, ngóng trông được lấp đầy, được thỏa mãn, được yên hàn, như thuyền tìm về bến đậu! Nhưng cũng không thể chạy trốn được nước mắt của khổ sầu đang bám sát thân phận làm người trong cuộc đời!Làm sao dung hòa được một đàng là khuynh hướng cố hữu, một đàng là thực tế phũ phàng của cuộc nhân sinh?
Một đàng khát mong kiếm tìm hạnh phúc, một đàng phải chuốc lấy chén đắng phiền muộn của cuộc sống?
Phải chăng Con Tạo có thói quen đánh ghen con người, như lời thơ Kiều của đại văn hào Nguyễn Du:
" Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng!
Lạ gì bỉ sắc tư phong,
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen"
Khổ đau sầu muộn không riêng gì cho phận má hồng, nhưng cho chung tất cả con người, với tư cách là người sinh ra trên cõi trần ai!
Lamartine, một thi hài thời danh của Pháp, cho rằng con người phải khổ đau nơi trần thế, bởi vì con người là thiên thần gãy cánh, những trích tiên bị đày đọa dưới trần gian:
"Bordée dans sa nature,
infinie dans ses voeus
l' home c'est un dieu
qui se souvient des cieux"
" Hình hài tuy hữu hạn,
thị dục vẫn vô cùng,
người là tiên đọa lạc,
vẫn ước nhớ thiên cung"!
(Lời Việt Sảng-Đình dịch)
Đức Phật Thích Ca nhìn đau khổ như là thực thể oan khiên của nhân loại, đời là khổ, thực chất cuộc đời không gì hơn là cái bể khổ định mệnh. Chỉ có một con đường duy nhất muốn thoát khổ, con người phải tiêu diẹt mầm mống của nó tức là dục vọng, mà muốn diệt dục, có một cách hiệu nghiệm nhất, tức là thoát khỏi cuộc đời, vì đòi là cái vòng Luân-Hồi của khổ đau.
Kết quả hình ảnh cho cuộc sống trần gian photos
Thật ra, khổ đau chẳng phải vì Trời đày đọa con người, hay tại vì cuộc đời như số kiếp ác nghiệt, mà căn cơ của nước mắt sầu muộn là tại nơi ta, nơi ý-hệ, nơi tri thức, nơi cảm quan và hoài niệm của mỗi con người. Nói tóm lại, tại sự nhầm lẫn của mổi con người! Nói là nhầm lẫn, thực thế, con người được sinh ra, làm kiếp người trong môt thế giới vô thường, trong đó có những bậc thang gía trị: nghĩa là con người được bao vây, được mời gọi, được dun dủi, được cảm kích, rung cảm bởi những đối tượng, tự chúng có giá trị, nhưng là giá trị tương đối. Con người đang đối diện với những gía trị tương đối mà cứ ngỡ đó là những gì tuyệt đối, cố bám sát vào, cố ôm chặt lấy những tương đối cho như là tuyệt đối. Đàng khác, con người đang sống trong một thế giới vô-thường, đổi thay, biến chuyển, có đó rồi không đó: "sắc tức thị không, không tức thị sắc" mà tưởng chừng mình đang sống trong cõi vĩnh hằng, bất biến, đời đời viên mãm! Đau khổ khởi nguyên từ cái lầm to lớn đó! Đáng lẽ con người xử dụng những gì tương đối như phương tiện giúp cho đi tìm gía trị tuyệt đối, sống trong vô thường là để vươn chuẩn bị, sửa soạn, để vươn tâm hồn lên cõi vĩnh hằng! Con người đã khọng làm như thế, mà tráo biến tương đối thành tuyệt đối, vô thường làm vĩnh hằng! Con người quên rằgn cuộc đời là một hành trình là mỗi người chỉ là một lữ khách cô đơn! Nói cách khác, con người đau khổ vì đã quên đi tính cách tại thế của mình! Quên rằng trần gian là chốn lưu đày, mà cõi Trời mới là quê hương Vĩnh Cữu!
Kết quả hình ảnh cho Đức Phật  photos vo thuong
Tuy thế gian vô thường và cuộc hiện sinh và những đối tượng hạnh phúc trên trần gian có tính cách tương đối, nhưng tự bản chất không ảo tưởng, không phi lý, bởi vì cuộc đời tại thế là cơ hội duy nhất, là phương tiện duy nhất cho con người phải vượt qua để đạt tới những gì tuyệt đối trên cõi vĩnh hằng. Thế nên, cuộc hiện sinh trần thế, với những gì tương đối của nó vớn cần thiết và hữu ích cho con người. con người không thể tìm được Tuyệt-Đối mà không phải vươn qua cuộc đời vô thường và tương đối nầy! Đó cũng là ý của Thiên Chúa khi sáng tạo ra vũ trụ nhiên giới, và con người hiện sinh hữu hạn nầy! Con người cần qua trần gian mà về quê hương Vĩnh-Phúc là Nước-Trời. Con người thất vọng và cảm nghiệm khổ đau, bởi vì đã quên đi thân phận làm người hữu hạn, sống trong lòng những tương đối giữa một thế giới vô thường! Con người phải bước qua Vĩnh Hằng bằng con đường vô thương, và chỉ đạt tới Tuyệt Đối qua ngã đường tương đối. Tương đối và vô thường có phận vụ như chiếc đò dùng để qua sông Tuyệt-Đối và cõi Vĩnh-Hằng là "Đáo-Bỉ-Ngạn", là Bên-Kia-Bến-Bờ, nói theo ngôn từ nhà Phật. Tuy vô thường và tương đối của những gía trị trần gian, nhưng vô cùng cần thiết cho con người, thiếu nó, con người không thể đạt tới cùng đích của đời mình.
Những giọt nước mắt, những sầu muôn của cuộc sống hiện tại là cần thiết, và như điều kiện tất yếu để con người có thể đạt đến chân hạnh phúc. Vậy chấp nhận nước mắt cũng là thái độ đương nhiên để cảm nghiện được niềm hạnh phúc vô biên của ngày mai nơi quê hương vĩnh hằng! 
Kết quả hình ảnh cho Thực Tại Và Ảo Tưởng photos

Thực Tại Và Ảo Tưởng

Bàn về vấn đề hạnh phúc và đau khổ của con người mà không đề cập đến" ảo tưởng và thực tại, thật là một thiếu sót đáng tiếc. Con người sống trên đời, hành trình giữa cuộc đời cũng giống như người lữ hành trong sa mạc! Sau những ngày dài lê bước chân miệt mài trên cát nóng bỏng, người lữ khách cảm thấy mệt mỏi kiệt sức và khát nước! Tâm trí người lữ khách bị ám ảnh bởi một nhu cầu: có thức ăn, nước ống và được nghĩ ngơi. Từ não trạng ước muốn thèm khát đó, con mắt của người lữ hành tìm kiếm về phía trước và họ đã thấy hình ảnh của những ốc-đảo “Oasis", thiên đàng mà họ mong muốn! Nhưng than ôi! Những "ốc-đảo" kia chỉ là những gỉa tướng, những huyền hoặc do trí tưởng mù loà tạo nên để đánh lừa lữ khách mà thôi. Nếu không qúa đặt nặng niềm hy vọng vào những thiên đàng"ốc-đảo", chắc người lữ hành đã không đến nỗi tuyệt vọng, khổ đau, để còn bảo toàn sinh lực cho cuộc hành trình!
Cũng thế, mang thân phận làm người, bị bao vây bởi những gía trị tương đối, giữa cuộc đời trôi nổi vô thường, nay có mai không, đổi thay không ngừng, chúng ta lại mộng tưởng nắm chắc được tuyệt đối vĩnh hằng, ngỡ là mình đã chiếm được thiên đàng hạ giới! Đó là căn cơ gây nên khổ đau, tạo nên thất vọng và khơi ngườn những đắng cay phiền muộn. Những đam mê , những cuồng vọng làm phát sinh những khái niệm, những vọng tưởng, những thâm tín sai quấy làm lêch lạc cái nhìn đúng đắn và đường hướng chân thực đưa ta đối dieện với thực tại của cuộc sống và định mệnh trần gian của ta: con người là lữ khách cô đơn và cuộc đời chỉ là một cuộc hành trình gian khổ, là chốn lưu đày đang tiến về miền "đất-hứa".
Hạnh phúc chân thực là khi ta nhận chân được gía trị lữ hành của mình, nghĩa là nhận chân được gía trị tương đối của cuộc sống trần gian và những hạnh phúc tương đối ta tìm được suốt dọc cuộc hành trình. Cuộc đời ta không chỉ là hôm nay và bây giờ thôi, còn có một cái gì nữa đang đến, sẽ đến, đang và sẽ chờ đợi chúng ta. Có một lời nào đó đang vang vọng trong sâu thẳm lòng của mỗi người rằng: đừng bỏ cuộc, đừng ngường bước tìm kiếm, đừng thôi bước hành trình, những hạnh phúc, những vui thú trần gian sẽ chóng qua, sẽ tàn lụi, đừng đặt hết trái tim và ý chí vào đó, hãy tiếp tục hành trình, những cảm nghiệm hạnh phúc trần gian chỉ là những bông hoa dại, những quán trọ phù sinh bên đường! Biết phân biệt, chân nhận được sự khác biệt giữa quê hương và chốn lưu đày, mái ấm gia đình và quán trọ, mới là thái độ sáng suốt của người lữ khách!

    Thánh Ca | Sống Trong Niềm Vui - Video    

-    LM Nguyễn Sang      

Thiên Đàng Chớm Nở Nơi Dương Thế

Nói rằng bản chất trần thế là vô-thường, giá trị cuộc đời là tương đối không có nghĩa là phủ nhận những niềm vui, những hạnh phúc mà con người cảm nhiệm trong cuộc sống! Vâng có những niềm vui sướng hạnh phúc thật sự trong đời, bởi vì Thiên Chúa vẫn hiện hữu trong lòng trần thế, bởi vì thiên đàng đang chớm nở ngay giữa cõi nhân gian,và tuyệt đối đang ngự trị trong lòng tương đối, vĩnh hằng đang nẩy mầm giữa chốn vô thường! Thái độ của con người là phải nhập cuộc, là mở rộng vòng tay ôm trọn cuộc đời như một thử thách, như một chiến đấu, một chạy đua có nghĩa lý, có mục đích! Bởi vì số kiếp của con người ngày mai ra sao là tuỳ thuộc vào thái độ tích cực phấn đấu của con người trong hiện tại. Như Chúa Kitô Cứu-Thế đã đi vào đời bằng cách sinh ra trong gia đình nhân loại nghèo khó khốn khổ, Ngài đã hành trình thực thi sứ mệnh cứu thế bằng cuộc tử nạn, sau cùng Ngài đã sống lại khải hoàn về trời vinh quang, thì con người chúng ta cũng bắt chước Chúa, sinh vào cuộc đời, chấp nhận thân phận làm người, với những nỗi vui buồn sướg khổ, những thành công thất bại, cuối cùng ta cũng chịu đóng đinh con người cũ, con ngườ thế tục của mình vào thập gía, chịu mai táng trong phận mộ, chết đi cho thế gian, cho xác thịt cho tội lụy đọa đày, để rồi sống lại với Chúa Kitô về Quê trời trong quang vinh của Thiên Chúa!
 
       Rev.Nguyễn Quốc Hải, Ph.D      


Kết quả hình ảnh cho Một Đời Tìm Kiếm photos
Kết quả hình ảnh cho hấp lực của tình yêu photos
 
                    Quỳnh Nga sưu tầm và tổng hợp                    

                         Ảnh minh họa (Internet)                           
 
Kết quả hình ảnh cho cuộc sống trần gian photos
Kết quả hình ảnh cho cuộc sống trần gian photos
Xem thêm...

Diễn hành ‘Xuân Đoàn Kết’ tại Garden Grove, Mùng Hai Tết

Cuộc diễn hành Tết lần thứ tám do Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nam California sẽ mang chủ đề “Xuân Đoàn Kết” sẽ diễn ra vào Chủ Nhật, 26 Tháng Giêng, nhằm ngày Mùng Hai Tết Canh Tý 2020, từ 9 giờ sáng đến 12 giờ trưa. Sau lễ an vị quốc tổ và chào cờ Mỹ-VNCH là phần mở màn chưa hề có trong lịch sử diễn hành Tết. Ông Phát Bùi cho biết “Xuân Đoàn Kết” sẽ mở màn với màn nhào lộn trên không trung vô cùng đẹp mắt và người tham dự sẽ phải há mồm kinh ngạc. “Ba người ‘Navy SEAL’ sẽ nhảy dù từ độ cao 13,000 ft xuống khu vực diễn hành,”. Đây là lần đầu tiên cuộc diễn hành của cộng đồng được tổ chức vào ngày Mùng Hai kể từ năm 2013 đến 2019.

Cuộc diễn hành “Xuân Đoàn Kết” (với tên tiếng Anh là Power of Unity) xoay quanh đề tài 45 năm người Việt tị nạn Cộng Sản tại Hoa Kỳ.

Diễn Hành Tết Little Sài Gòn 2020 - California - Tết Parade 2020

     Diễn hành ‘Xuân Đoàn Kết’ tại Garden Grove, Mùng Hai Tết    

GARDEN GROVE, California – Cuộc diễn hành Tết do Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nam California tổ chức mang chủ đề “Xuân Đoàn Kết” bắt đầu lúc 9 giờ 30 phút sáng Chủ Nhật, 26 Tháng Giêng, nhằm ngày Mùng Hai Tết Canh Tý 2020, và kéo dài đến 12 giờ trưa. Diễn hành bắt đầu từ Bank of America trên đường Westminster từ phía Đông đường Brookhurst rồi hướng đến đường Taft.
Từ 6 giờ sáng cho đến khoảng 2 giờ chiều, đại lộ Westminster từ đường Brookhurst đến đường Euclid sẽ bị đóng và sẽ ảnh hưởng đến các đường phố trong khu vực lân cận, gồm một phần của đường Taft từ Westminster đến đường Woodbury. Đây là lần đầu tiên cuộc diễn hành của cộng đồng được tổ chức vào ngày Mùng Hai kể từ năm 2013 đến 2019. Và đây cũng là cuộc diễn hành thứ hai diễn ra tại Little Saigon vào Tết Canh Tý, sau cuộc diễn hành trên đại lộ Bolsa, vào sáng Mùng Một Tết, 25 Tháng Giêng 2020. Dưới đây là một số hình ảnh về cuộc diễn hành này.

Xe lam và xe gắn máy Vespa nhắc nhớ về một thời Sài Gòn xưa. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Xe Taxi một thời Sài Gòn trước 1975. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Xe kéo theo trực thăng. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Loại xe của quân đội Mỹ xuất hiện trong đoàn diễn hành. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Đoàn của Phật tử chùa Liên Hoa. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Đoàn xe mô tô của các thành viên Câu Lạc Bộ Mô Tô của người Việt ở Little Saigon. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Rước tượng Đức Đại Vương Trần Hưng Đạo. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Xe hoa mang biểu tượng Chiến Sĩ Cộng Hoà. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Một màn văn nghệ do các thiếu nữ trình diễn. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Đoàn diễn hành của CLB Tình Nghệ Sĩ. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Trường trung học Pacifica tham gia diễn hành. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Đoàn diễn hành của thành phố Anahiem. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Toán rước quốc kỳ VNCH và Hoa Kỳ dẫn đầu đoàn diễn hành. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Ban Tổ Chức và quan khách cắt băng khai mạc diễn hành. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Trong lễ khai mạc, lúc 10 giờ 23 phút tiếng pháo nổ giòn và múa lân, báo hiệu cuộc diễn hành bắt đầu. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Lễ chào quốc kỳ VNCH và Hoa Kỳ. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Các Dân Cử gốc Việt tham dự lễ khai mạc. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Bắt đầu bằng lễ an vị quốc tổ. (Hình: Văn Lan/Người Việt)
Các phóng viên và người dân chờ đợi phút khai mạc diễn hành. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

   Đoàn Văn Sinh sưu tầm   

(Văn Lan/Người Việt)

 
 
Xem thêm...

Xuất Hành Đầu Năm Canh Tý 2020

Kết quả hình ảnh cho Xuất Hành Đầu Năm canh ty 2020 photos

  Xuất Hành Đầu Năm Canh Tý  

Hình ảnh có liên quan

Tết Nguyên Đán năm nay Canh Tý nhằm vào thứ Bảy 25 tháng 1 năm 2020. Có  khoa cho rằng phải chờ đến ngày Lập Xuân 4 tháng 2 năm 2020, năm Canh Tý mới thực khởi đầu. Thế nhưng, xưa nay theo tục lệ, người Việt Nam chúng ta lại coi trọng ngày Tết Nguyên Đán và cho rằng mùng 1 Tết Nguyên Đán mới là ngày đầu năm chứ không phải căn cứ vào ngày đầu của Tiết Lập Xuân. Ngày này Đinh Mão. Đinh hành Hỏa và Mão hành Mộc. Mộc sinh Hỏa là Chi Sinh Can là Nghĩa Nhật. Nguời Hoa cho rằng đầu năm mà gặp ngày Đinh Mão là ngày Lục Lang Vương chọn đăng quang trị vì thiên hạ thì hẳn phải là ngày Tốt. Lại thêm Đinh Mão Nghĩa Nhật thì năm Canh Tý chắc hẳn thiên hạ ăn nên làm ra. Người người, nhà nhà sẽ an vui hạnh phúc… Thế nhưng, Dich Lý lại cho rằng năm Tý mà gặp ngày Mão thì Mão với Tý sẽ Hình nhau. Ngày đầu năm mà bị hình là báo hiệu điềm xấu cho cả năm. Vì vậy, mọi người phải hết sức cẩn trọng và phải biết năm Canh Tý này bị Hình nên không còn có thể luận là năm tốt lành được. Theo kinh nghiệm của người xưa, gặp năm xấu, tai họa sẽ đến nhiều là do tác động của các sao Sát. Khoa Cổ Dịch cho rằng Ngũ Hoàng Đại Sát mới chính là sao sát uy lực nhất. Ngũ Hoàng đến đâu, gây tai họa đến đó. Tiếp là Đại tướng Quan, kế đến là Tam Sát gồm Kiếp sát, Tai sát và Tuế sát. Khoa Tử Vi còn khuyên phải tránh thêm một số sao hay gây họa như Thái Tuế, Đại sát, Tuế Hình, Tuế Phá, Tang Môn… Nên nhớ tất cả mọi Khoa đều bắt nguồn từ Dịch. Người Xưa làm Dịch không phải để Bói như nhiều người thường nghĩ. Dịch là để Xu Cát Tỵ Hung. Thấy Hung mà không tránh, thấy Cát mà không theo thì chắc chắn Họa sẽ vào thân và nếu như thấy Họa đến mà vẫn không tránh được, thì thánh nhân đã làm DỊCH có ích gì?
 
81416977_488053831828166_526112633103843328_n
 
1/ Xuất hành Phương Bắc
Năm nay Canh TÝ, phương Bắc là phương của Thái Tuế đương ngụ, bên cạnh còn có Đại sát. Ngay từ ngày xưa, thiên hạ đã biết Thái Tuế đang phương nào là phải tránh xa phương ấy. Vậy nên những người làm ăn, buôn bán, sản xuất kinh doanh…. thì đầu năm nay, Canh Tý, không nên chọn hướng Bắc xuất hành mà mong cầu Tài, Lộc.
 
Tuy nhiên, Thái Tuế là Vua, là Hoàng Đế trị vì trong Năm mà mọi người đều phải né tránh vì sợ vướng họa vào thân thì làm gì có Tứ Trụ Triều đình gồm đủ mặt Khanh Tướng, Công Hầu ? Vị nào, tự thấy mình chính nhân quân tử, đủ nghị lực, biết trách nhiệm gánh vác giang sơn, làm ích cho nước, làm lợi cho nhà - Đặc biệt những vị ra tranh cử - nên mạnh dạn chọn phương Bắc xuất hành đầu năm Canh Tý 2020, để cầu cho đường Công Danh, Hoạn Lộ được thênh thang…
 
Kết quả hình ảnh cho Xuất hành Phương Bắc photos
 
2/ Xuất hành Phương Đông Bắc.
Sao Thiên Trù, anh em kết nghĩa của Tuế Lộc, đang tại Đông Bắc là phương  Đương Vận của Hạ Nguyên này. Thiên trù là Lộc do tích lũy, kế thừa, chứ không phải Lộc do may mắn, trời cho. Vị nào xưa nay vẫn còn ôm hoài bão sẽ được ông bà cha mẹ chia cho mình một phần gia tài thì đầu năm nên chọn Đông Bắc xuất hành.
 
Cần biết thêm tại Đông Bắc năm nay xuất hiện Tang Mã, Cô Thần lại còn Đường phù với Thiên Không. Nếu được ráp lại thành một bức tranh vẽ cảnh đưa tiễn người đi về cõi Tịnh. Tranh chắc hẳn sẽ có màu xẩm rất buồn. Vậy nên, phương này dù Đương Vận cũng phải đắn đo suy nghĩ thật kỹ, trước khi quyết định chọn, để đầu năm nay xuất hành hái Lộc Thiên Trù.
 
Hình ảnh có liên quan
3/ Xuất hành Phương Đông.
Năm nay Thất Xích nhập trung cung.
Ngũ hoàng sẽ bay về phương Đông
 
Thông thường, Đông cung Chấn phối với Tây Bắc cung Càn, mọi sinh lực khí tại 1 trong 2 nơi này sẽ rơi vào hư không. Sinh khí mà bị rơi vào hư không, tiêu tan bèo bọt thì tai họa lập tức sẽ ập đến. Chẳng khác chi trong người không có kháng thể, chỉ cần vết thương rất nhỏ cũng sẽ bị xé thành to. Năm nay Càn Tây Bắc số 6 cùng với Thất Xích của Vận 8 Hạ Nguyên tạo thành Tam Ban Liền số. Càn đã được thông Khí Tam Ban thì sẽ thôi, tạm thời không còn phối với Đông để trở thành đầu mối gây nên tai họa như mọi lần. Gia đình nào không may rơi vào Lỗ Đen bởi Chấn-Càn bấy lâu nay phài chịu muộn phiền, làm ăn khó khăn, gia dạo bất an, công danh trắc trở, bệnh tật triền miên, thì năm nay có thể an tâm mặt này. Thế nhưng coi chừng tránh được vỏ dưa lại gặp ngay vỏ dừa. Chấn phương Đông không còn phối với Càn nhưng lại trở nên cực kỳ nghiêm trọng vì Đại sát sẽ gây ra bởi Ngũ Hoàng hung hãn.
Cũng cần nhắc lại, Tý Mão Hình nhau, cho nên Tuế Hình cũng đang cùng với Ngũ Hoàng bay tới phương Đông. Vậy nên năm nay, tuyệt đối tránh xa phương này, nhất định không chọn phương Đông xuất hành hái Lộc.
 
Kết quả hình ảnh cho Xuất hành Phương Bắc photos
 
4/ Xuất hành Phương Đông Nam.
Người xưa, đầu năm xuất hành cầu Tài cầu Lộc, không bao giờ chịu chọn hướng Tuần Triệt. Phương nào bị Tuần Triệt coi như phương đó hoàn toàn bế quan tỏa cảng, không lui, không tới.  Thế nhưng, nhìn kỹ lại, Tuần Triệt chưa hẳn xấu. Dịch dạy rằng
 
Tuần không nào ấy vô dùng. Cát thời tất ứng, dầu Hung bất thành.
Hoặc: Lại nói đoạn Tuần không mới lạ. Tuần có Chân có Giả ai hay?
Sinh phò vượng tướng tốt thay. Hết Tuần thì lại ra tay vẫy vùng.
 
Đúng vậy, cho dù bị Tuần nhưng Thái Tuế tại Tý thì Quan Phù tại Thìn. Phương Đông Nam năm nay đủ bộ Long Trì, Quốc Ấn. Bên cạnh còn có Tuế Đức với Nguyệt Đức toàn sao Cát – Cát thời tất ứng - thì không thể bỏ sót phương này được. Vị nào chính nhân quân tử, đủ tài đức, có trách nhiệm để gánh vác đại sự, đều nên chọn phương Đông Nam xuất hành đầu năm cầu Danh cầu lợi.
Nói lại cho rõ, phương Đông Nam ngoài Tuần không án ngữ, còn có Thiên La, Ngũ Quỷ, Phá Toái và Kiếp Sát canh giữ nghiêm ngặt. Trước khi quyết định chọn phương Đông Nam xuất hành cần phải tự mình nhận thấy có đủ Tài Đức và sẵn sàng gánh vác trọng trách hay không rồi mới quyết định.
 
Kết quả hình ảnh cho Xuất hành Phương Bắc photos
 
5/ Xuất hành Phương chính Nam.
Phương này toàn sao xấu tụ về: Sát.  Phá, Hao, Khốc, Hư… Điểm sơ qua, mới xướng đến cái tên thôi, cũng đã đủ sợ. Cho dù có nhờ Triệt mà bớt ít nhiều Hư Hao Sát Phá… thì cũng không thoát khỏi vòng ảnh hưởng tai hại của Nhị Hắc.
Nhị Hắc đến đâu reo rắc Bệnh Tật và muộn phiền nơi ấy. Vậy nên, đầu năm nay Canh Tý, xuất hành thì tuyệt đối tránh xa phương này để khỏi vạ lây để rồi phải Khốc cả năm.
 
6/ Xuất hành Phương Tây Nam.
Tây Nam cung Khôn gồm Mùi với Thân.
Tại Mùi các sao Đà La với Tuế Sát bị giới hạn bởi Long Đức và Triệt Lộ, Tại Thân Phi Liêm… Lưu Hà đang cùng với Bạch Hổ tam hợp với Thái Tuế đã bảo vệ Tuế Lộc không   rơi rớt chia nhầm cho kẻ tiểu nhân. Tất cả sách vở năm nay đều viết Nghênh Tài tại Tây Nam là vì Tuế Lộc đang ngụ tại Phương này mà quên không nói rõ Bạch Hổ đang phục ngay cổng vô ra. Vậy nên những người làm ăn buôn bán, kinh doanh sản xuất, không lươn lẹo, ma mãnh hay cạnh tranh bất chính thì có thể mạnh dạn chọn phương này Cầu Tài, Cầu Lộc.
 
Hình ảnh có liên quan
 
 
 
 
 
7/ Xuất hành Phương Tây.
Tại phương này, năm nay Đào Hoa, Thiên Hỷ bên cạnh là Phượng Các, nhị hợp với Hồng Loan đầy đủ bộ sậu Đào Hồng Hỷ để cơ hội cho Nam thanh Nữ tú thành cặp thành đôi, thành lứa.  Đại tướng Quân cùng với 1 thành viên dữ dằn nhất của của bộ Lục Sát là Kình Dương đang lảng vảng nơi này. Nhưng, cho dù có dữ dằn mấy đi nữa mà đứng cạnh Thiên Đức và Phước Đức thì cũng đành phải đóng hiền, vô hại.
Năm nay Thất xích chi phối toàn khắp, Cửu Tử bay đến Tây và vẫn trong Vận 8 cho nên phương này được Tam ban liền số 7,8,9. Khí hoàn toàn Thông.
Lại còn, ngày đầu năm Canh Tý, bắt đầu chữ Đinh hành Hỏa. Theo dấu chân đi của Tài Thần, mới rõ biết Thần Tài cũng đang tại phương này. Vậy nên phương Tây là phương Tốt nhất để đầu năm chọn xuất hành cầu mong cho gia đạo an khang, hạnh phúc, tấn quan, tiến chức, được Tài, được Lộc và dồi dào sức khỏe… Đặc biệt vị nào lâu nay vẫn còn độc thân nhớ ngày mồng 1 Tết Nguyên Đán năm Canh Tý này nhất định phải nhắm  hướng Tây mà xuất hành
 
Hình ảnh có liên quan
 
8/ Xuất hành Phương Tây Bắc.
Năm nay phương Tây Bắc cũng được Thông Khi nhờ Tam Ban Liền số 6,7 8. Lại còn, Lưu Niên Văn Tinh là Lộc đứng sau Lộc Tồn cũng đang tọa tại nơi này. Vậy nên, vị nào làm ăn, buôn bán, kinh doanh sản xuất, chỉ mong sao cho mọi sự tốt lành, ăn nên, làm ra thì có thể chọn Tây Bắc xuất hành hái Lộc đầu năm
Tóm lại, năm nay Canh Tý 2020 là năm bị Hình, không phải là năm Tốt lành như một số sách đã viết. Vậy nên mọi người cần phải cẩn thận. Ngày đầu năm, theo tục lệ xưa nay, người Việt thường chọn hướng xuất hành để mong cầu gia đạo an khang, sức khỏe dồi dào, tăng quan tiến chứa, làm ăn kinh doanh phát đạt thì cần nhớ kỹ:
 
- Tránh xa phương Đông để khỏi bị Đại Sát của Ngũ Hoàng.
- Tránh xa phương Nam để khỏi phải bị Khốc, Phá, Hư, Hao….
- Vị nào ra tranh cử nên chọn hướng Bắc là hướng Thái Tuế đang ngự.
- Vị nào có đủ Tài Lực muốn cầu Danh, năm nay mong được tăng Quan, tiến Chức thì nên chọn hướng Đông Nam. Nơi đây đã được bày sẵn Long Trì đủ Ấn đủ Phù.
 
Kết quả hình ảnh cho Xuất hành Phương Bắc photos
- Vị nào muốn Cầu Tài Lộc có thể chọn 1 trong các hướng sau đây:
Hướng Tây và Tây Nam là 2 hướng rất Tốt để cầu Tài cầu Lộc. Hướng Đông Bắc Đương Vận hơi buồn nhưng bù lại được hưởng gia tài do ông bà tổ tiên để lại.
- Vị nào còn độc thân có thể chọn Hướng Tây. Chọn hướng này thì Tình Tài có đủ.
- Vị nào làm ăn kinh doanh buôn bán chỉ mong cầu sao cho gia đạo bình an thì nên chọn Tây Bắc xuất hành đầu năm.
Các giờ Hoàng Đạo để xuất hành.
Giớ Tý: Từ giờ Giao thừa cho đến 1 giờ sáng.
Giờ Dần – Mão: Từ 3 giờ cho đến 7 giờ sáng.
Giờ Ngọ - Mùi: Từ 11 giờ sáng cho đến 3 giờ chiều.
Giờ Dậu: Từ 5 giờ chiều cho đến 7 giờ tối.
Năm Mới, kính chúc mọi người sức khỏe dồi dào, An Khang, thịnh vượng và HY VỌNG ĐA PHƯƠNG DIỆN THÀNH CÔNG.
 
Thầy Phong thủy Quảng Đức
Thầy phong thủy Quảng Đức  đã hành nghề phong thủy từ trên 40 năm nay.  Khách hàng của Ông ở khắp các tiểu bang trên nước Mỹ và nhiều quốc khác ở Á Châu và Âu châu. Ông đã nhiều lần được các các cơ sở thương mại ở Pháp, Anh mời sang để coi phong phủy cho các cơ sở thương mại của họ.  Từ lâu mỗi khi cần xem phong thủy, người ta vẫn tin vào các thầy phong thủy người Tàu nhưng trước đây Ban quản trị National Memorial Park ở Falls Church, Virginia đã chọn mời một thầy phong thủy người Việt Nam thay vì người Tàu để làm cố vấn về phong thủy cho họ.
 
Thầy Quảng Đức tại National Memerial Park Falls Church, Virginia
Xuat Hanh Dau Nam2
(Hình trích từ tờ Washington Post)
 
Tuy rất bận rộn về công việc nhưng Ông vẫn dành thì giờ để xuất hiện trên đài SBTN,  đài Á Châu Tự Do, đài phát thanh Tiếng Nước Tôi ở Arizona.v.v  để trả lời các câu hỏi của khán, thính giả.  Ông cũng thường xuyên mở các lớp học ở California giảng dạy về phong thủy.
 
 
Xem thêm...
Theo dõi RSS này