Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1241)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (23)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (115)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (243)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

Người Khách Đi Xe - Thảo Lan

Truyện ngắn của một Tháng Tư buồn 
Người Khách Đi Xe
Thảo Lan



Trung chạy xích lô cũng hơn ba năm nay. Thời buổi khó khăn, gốc là lính Quốc Gia nên chỉ có chạy xích lô là dễ dàng cho Trung kiếm tiền phụ giúp gia đình nhất. Trung cũng không đủ tiền vốn để mua một chiếc xích lô mà phải mướn xe chạy từng ngày. Thường Trung chạy từ sáng sớm đến tối mịt mới đem trả xe. Hôm nay cuốc xe cuối của Trung là đưa một người khách về một con hẻm ở gần Cổng xe lửa số 6. Con hẻm khá hẹp mà một bên là dãy nhà gạch còn một bên là khu nghĩa trang hoang vắng. Khi quay trở ra thì có một người đàn ông đứng ở ven đường vẫy tay gọi xe. Mặc dù đã mệt mỏi vì cả ngày chạy bao nhiêu cuốc xe rồi nhưng sẵn có khách gọi nên Trung cũng ghé lại hỏi:
– Đi về đâu vậy anh?
Người thanh niên cũng cỡ trạc tuổi Trung có gương mặt khắc khổ và hơi xanh xao dưới ánh đèn yếu ớt từ các ngôi nhà gần đó chiếu ra không đủ soi rõ mặt. Người thanh niên cất tiếng.
– Anh chở tôi ra xa cảng miền Tây được không?

Từ đây đến đó khá xa nhưng dù sao cũng tiện hướng đi về nhà Trung nên anh nhận lời. Sau khi hai bên đồng ý giá cả thì người thanh niên lên xe cho Trung chở. Trung ngạc nhiên vì người thanh niên tướng tá cũng cao ráo tuy có hơi gầy nhưng không ngờ lại nhẹ như vậy. Mặc dù đã là cuối ngày nhưng Trung vẫn đạp xe băng băng như không hề chở ai đằng trước. Suốt thời gian lên xe người khách không hề lên tiếng và cứ ngồi yên lặng gần như không cử động. Lúc này Trung cũng mệt nên cảm thấy như thế cũng may khỏi phải bắt chuyện với khách. Thật sự khi chạy những cuốc đường dài gặp khách vui vẻ nói chuyện rôm rả cũng khiến Trung cảm thấy con đường được rút ngắn đi nhiều. Tuy nhiên đôi khi gặp khách nhiều chuyện nói huyên thuyên nhiều quá thì Trung cũng không thích lắm.

Đến nơi người khách xuống xe trả tiền rồi bỏ đi. Đến lúc này Trung tự dưng thấy ớn lạnh trong người. Anh nghĩ có lẽ mình lao lực quá sức nên muốn cảm nên cố gắng đạp xe thật nhanh về trả xe cho chủ rồi về nhà ăn uống qua loa, tắm rửa rồi đi nằm. Ngày hôm sau, sau khi ngủ qua một giấc thì Trung cảm thấy khỏe khoắn như bình thường. Trước khi rời nhà để đi lấy xe, anh sực nhớ nên móc ví đưa gần hết số tiền chạy được ngày hôm qua cho mẹ để làm tiền chợ. Trung chỉ giữ lại một ít để dằn túi cũng như để phòng xa phải thối tiền lại cho khách.

Sáng chạy vài vòng các đường phố trên Sài Gòn Trung mới gặp được người khách mở hàng kêu anh chở vào Phú Nhuận. Khi móc tiền ra để thối lại cho khách Trung mới chợt nhận thấy trong mớ tiền trong ví của mình có một tờ tiền vàng mã. Trung ngạc nhiên lắm. Tối đó khi về nhà anh hỏi mẹ xem trong mớ tiền mình đưa ban sáng có thêm tờ tiền vàng mã nào không. Bao lâu nay tiền Trung đưa về thỉnh thoảng có ngày mẹ anh vẫn cất để dành chứ không đụng đến nếu trong nhà không thiếu hụt. Mỗi ngày mẹ Trung vẫn ngồi lê la vài tiếng ngoài chợ bán quần áo cũ để kiếm thêm chút đỉnh. Hơn nữa em gái Trung làm công nhân dệt nên cũng ít nhiều phụ giúp được gia đình. Tiền Trung chạy xích lô mẹ anh thường hay cất giữ để dành sau này có việc gì trọng đại, như cưới vợ cho anh chẳng hạn, thì còn có món để chi tiêu.

Khi nghe Trung hỏi lúc đó mẹ anh mới mở tủ ra kiểm lại chỗ tiền anh đưa hồi sáng. Bên trong mớ tiền đó cũng có vài tờ tiền vàng mã. Hai mẹ con thẫn thờ chưa hiểu chuyện gì thì Trung đã lên tiếng.
– Vậy là hôm qua có đứa nào nó lừa đưa tiền vàng mã cho con rồi. Thiệt tình cái thời buổi gì mà cứ lừa lọc người ta tùm lum. Riết rồi không ai dám tin ai nữa.

Mấy hôm sau trong một cuốc xe cuối ngày chở khách về xa cảng miền Tây, Trung gặp lại người khách hôm trước. Lúc đó Trung đang trên đường dự tính về trả xe thì có người thanh niên đứng dưới gốc cây sao lớn bên vệ đường vẫy. Trung tắp xe vô lề hỏi:

– Đi về đâu anh Hai?
– Cho tôi về đường Thiệu Trị khúc cổng xe lửa số 6.

Đến lúc này thì Trung mới nhận ra người khách mà anh chở cách đây mấy hôm từ khu cổng xe lửa số 6 về đây. Một phần người thanh niên ban đầu đứng dưới gốc cây lớn nên ánh đèn đường không chiếu tới. Mãi khi người thanh niên lên tiếng anh mới nhận ra cái giọng khàn khàn nhất là cũng vẫn bộ quần áo lính cũ sờn rách mà rất ít người dám mặc nguyên bộ vào thời đó. Như Trung cũng vẫn còn giữ vài bộ đồ lính ngày xưa của mình nhưng thường trong lúc đạp xích lô anh chỉ mặc hoặc quần hoặc áo chứ ít khi mặc nguyên bộ.


(Hình minh họa)
(Sáng 30/4/1975 - Lúc này, hầu hết các binh lính VNCH đã cởi bỏ hết quân phục và súng đạn. Nhưng khoảng 10 giờ 30, trên đường phố SàiGòn lại xuất hiện một người lính trẻ với hai tay hai khẩu M16 và đeo trên vai anh thêm hai khẩu M72... dưới những cặp mắt tò mò và kinh ngạc của người dân xung quanh và đi đường.

Sau đó, anh ấy đã tự sát gần cầu Trương Minh Giảng... Sau khi xả hết một băng đạn vào một chiếc xe Lam chở đầy quân cộng sản miền Bắc).


Cũng vẫn như lần trước khi lên xe người thanh niên cứ yên lặng không nói năng gì. Và cũng từa tựa lần trước, chở người khách này Trung cảm thấy nhẹ tênh như chở một đứa nhỏ. Đạp được một quãng Trung lên tiếng hỏi:
– Thấy bộ đồ anh mặc tui đoán anh cũng là lính mình ngày xưa. Tui cũng vậy. Dân Sư đoàn 18 nè. Còn anh đơn vị nào?

Mãi vài giây sau người thanh niên mới cất giọng khàn khàn:
– Tôi cũng Sư đoàn 18 thuộc Trung đoàn 43 của Đại Tá Hiếu.

Trung mừng quá nói huyên thuyên.

– Tui thuộc Trung đoàn 52 nè. Trời vậy là gặp chiến hữu mà không hay. À quên xin lỗi không hỏi anh cấp bậc gì để dễ xưng hô. Tui chỉ là hạ sĩ quèn thôi nên nhờ vậy giờ mới đạp xích lô chứ không thôi cũng đang mút mùa ở trại tù nào rồi.

Người thanh niên ậm ừ một lát rồi nói bâng quơ.
– Thôi chuyện qua rồi đừng nhắc nữa anh.

Trung bỗng cụt hứng không muốn hỏi han gì thêm nữa. Vừa đạp xe Trung vừa ngẫm nghĩ, “có khi nào anh chàng này ba xạo nói bừa không ta”, “hay cũng có thể anh ta sợ không tin tưởng mình”. Nghĩ như vậy Trung đỡ cảm thấy bực bội trong lòng như trước đây vài giây. Anh nghĩ thêm, “chắc không phải xạo rồi vì nếu không làm sao anh ta biết được Trung đoàn 43 của Đại Tá Hiếu chứ?”. Mặc dù không nằm dưới đơn vị của Đại tá Hiếu nhưng anh cũng biết tên các vị chỉ huy khác của sư đoàn.

Cả hai im lặng cho đến khi xe rẽ vô con hẻm nhỏ mà một bên là nhà và bên kia là nghĩa trang. Người thanh niên dơ tay làm hiệu cho Trung dừng lại. Anh bước xuống và dúi vào tay Trung một nắm tiền giấy. Trung tính trả lại vì anh muốn giúp đỡ cho người chiến hữu sát cánh trong lửa đạn cùng đơn vị với mình ngày xưa nhưng người thanh niên đã đi băng băng vào hướng nghĩa trang. Trung nhét tiền vô túi và hơi ngạc nhiên vì trước giờ cứ ngỡ nhà anh ta phải ở phía bên này thay vì đi sâu vô khu nghĩa trang tăm tối đó.

Về đến nhà, như mọi bữa Trung lấy tiền trong ví ra đưa cho mẹ. Khi mẹ anh chìa tay ra đón thì cả hai bỗng giật mình vì trong mớ tiền đó lại có vài tờ tiền vàng mã. Đến lúc này thì Trung bỗng cảm thấy lạnh xương sống khi nghĩ ngay đến người thanh niên vừa rồi. Hèn gì mà lần nào chở anh ta cũng nhẹ tênh. Trung kể đầu đuôi cho mẹ mình nghe về người khách mà anh đã chở hai lần giữa nghĩa trang và Xa cảng miền Tây. Mẹ anh trầm ngâm suy nghĩ một lát rồi nói:
– Mẹ nghĩ hồn anh ta còn có điều gì khúc mắc nên chưa siêu thoát. Hơn nữa có thể anh ta và con cũng có một chút duyên nên mới hai lần cho con gặp mặt. Mẹ nghĩ có lẽ mộ anh ta nằm ở nghĩa trang đó. Khi nào rảnh mẹ con mình ghé đó xem sao. Con có nhớ mặt anh ta chứ.
– Hy vọng xem hình trên bia mộ thì con sẽ nhận ra chứ giờ bảo nhớ thì con cũng không dám chắc vì cả hai lần anh ta đều đón xe trong bóng tối và sau đó thì đi rất nhanh.

Ngày hôm sau, sau khi chạy được vài cuốc xe kiếm đủ sở hụi tiền mướn xe Trung quay về nhà chở mẹ đến khu nghĩa trang ở khu Cổng xe lửa số 6 để tìm môt cách hú họa. Nghĩa trang tuy nhỏ nhưng đi tìm kiếm ở từng ngôi mộ thì cũng không phải dễ dàng. Hơn nữa có những chỗ chật hẹp xe xích lô không vào được, Trung phải chờ bên ngoài để một mình mẹ anh đi vào tìm kiếm. Sau hơn một tiếng rà soát, hai mẹ con tính bỏ cuộc quay ra thì bỗng dưng ngay trước mặt Trung là một tấm bia không hình ảnh. Đó là lý do tại sao ban đầu hai mẹ con không để ý tới. Trên tấm bia ghi rõ:

Thiếu Úy Nguyễn Văn Ngọc
Mất ngày 30-4-1975


Tấm bia không ghi ngày sinh mà chỉ có ngày mất. Tự dưng Trung có linh tính đây chính là người lính cùng sư đoàn mà anh đã chở hai lần trước đây. Anh đón lấy bó nhang mẹ anh đem theo và đốt lên cắm xuống ngôi mộ và bắt đầu khấn.
– Xin lỗi Thiếu úy. Hai lần chạm mặt mà không biết Thiếu úy là cấp trên của em. Lòng thành chỉ có nén nhang này thắp cho Thiếu úy. Xin Thiếu úy cho phép em gọi Thiếu úy là ông thầy cho thân mật. Ông thầy có sống khôn thác thiêng xin báo cho thằng em này biết để có điều gì có thể làm được thì thằng em này sẽ làm cho ông thầy.

Trước khi ra về, Trung đốt một điếu thuốc và cắm xuống bát nhang của ngôi mộ rồi đứng nghiêm chào đúng phong cách một người lính chào cấp trên của mình. Mấy hôm sau đó Trung cố tình né không chạy xe về khu Cổng xe lửa số 6 cũng như Xa cảng miền Tây vào những khi tối trời vì cứ nghĩ nếu ông Thiếu úy đó ra đón xe nữa thì không biết Trung sẽ sử xự ra sao. Một mặt đã khấn trước mộ người ta là có điều gì thì sẵn sàng làm giúp. Một mặt cứ nghĩ đến nếu giáp mặt với hồn ma lần nữa thì Trung cứ thấy lạnh xương sống.

Chả mấy chốc mà Tết đã gần kề. Mặc dù khi ấy ai nấy đều nhem nhuốc khổ sở nhưng vẫn cố gắng tạo nên một cái không khí Tết cho vui vẻ. Chợ búa cũng nhộn nhịp hơn bình thuờng. Nhìn những bó hoa vạn thọ bày bán khắp nơi Trung bỗng nhớ đến ngôi mộ của Thiếu úy Ngọc. Anh ghé vào mua một bó cúc vạn thọ và bó nhang rồi đạp xe đến nghĩa trang. Từ xa Trung đã ngạc nhiên khi thấy trên mộ của thiếu úy Ngọc có ba nén hương còn nghi ngút khói và có cả đĩa trái cây. Nhìn quanh gần đó chỉ có một người đàn bà trạc tuổi mẹ Trung đang lom khom cắm nhang vào các ngôi mộ xung quanh. Trung lên tiếng hỏi.
– Thím Hai ơi. Có phải thím là người nhà của Thiếu úy Ngọc nằm ở đây không?

Người đàn bà đang chăm chú cắm nhang bỗng giật mình ngẩng lên nhìn Trung rồi trả lời:
– Không phải.

Rồi bà ta đổi qua nét mặt có vẻ mừng rỡ và hỏi lại Trung:

– Vậy cậu là người nhà của người nằm nơi đây hả?
– Dạ không phải.

Đến đây thì cả hai cùng chưng hửng ngượng ngập không biết nói gì thêm. Một lát sau Trung hỏi:
– Vậy có phải đĩa trái cây này của thím Hai không? Thím Hai không quen biết mà sao đem trái cây đến ngôi mộ này cúng vậy?

Người đàn bà nhìn bó cúc vạn thọ và bó nhang trên tay Trung rồi hỏi ngược lại:
– Còn cậu hình như cũng đem hương hoa đến viếng ngôi mộ này đúng không? Cậu quen biết ra sao với người mất mà lại làm vậy?

Đến đây Trung quyết định kể cho người đàn bà nghe về câu chuyện của mình mặc dù không biết người ta sẽ tin hay không. Người đàn bà trầm ngâm một lát rồi nói với Trung.
– Chuyện dài dòng lắm. Nhà tôi cũng gần đây thôi, cậu nếu rảnh ghé qua tôi sẽ kể đầu đuôi cho nghe.

Trung dạ rồi đốt vội ba nén hương, cắm bó vạn thọ xuống ngôi mộ rồi lễ cẩn thận. Trước khi đi anh cũng không quên đốt một điếu thuốc mời người Thiếu úy dưới mồ.

Sẵn xe xích lô Trung chở người đàn bà về nhà chỉ cách đó chừng trăm thước. Tại đây anh được người đàn bà đưa cho tấm thẻ bài mang tên Nguyễn Văn Ngọc và kể cho nghe câu chuyện bi tráng của những giây phút cuối đời của người lính này. Theo người đàn bà thì trưa ngày 30 tháng 4 Thiếu úy Ngọc theo dòng người chạy loạn đi ngang qua khu nhà bà. Đến đây có lẽ do quá mệt mỏi và thất vọng khi nghe tin đã có lệnh buông súng đầu hàng, Thiếu úy Ngọc đã tự sát bằng một phát đạn vào thái dương. Giấy tờ tùy thân trên người không có nên không ai có thể biết để liên lạc với gia đình của người mất. Trong lúc hỗn loạn đó, vợ chồng bà cùng vài người hàng xóm đã đứng ra chôn cất cho anh ta ở ngay khu nghĩa trang gần nhà. Bia mộ thì viết dựa theo tên trên tấm thẻ bài và cấp bậc căn cứ vào bông mai trên cổ áo của bộ quân phục anh mặc lúc đó. Từ đó vợ chồng bà cùng những người hàng xóm năm xưa vẫn thuờng xuyên ghé thăm và chăm sóc cho ngôi mộ này. Sau cùng người đàn bà nói:

– Tôi nghĩ cậu và anh ta có duyên với nhau nên anh ta mới xui khiến để cậu gặp hai lần. Thôi tôi giao cho cậu tấm thẻ bài này. Cậu ráng giúp tìm xem gia đình anh ta ở đâu để báo tin cho người ta biết.

Trung nhận tấm thẻ bài từ tay người đàn bà và tự nhủ trong lòng sẽ cố gắng giúp người Thiếu úy quá cố tìm ra người thân của anh ta để báo tin. Dựa vào hai lần đón xe, một đi từ nghĩa trang đến xa cảng miền Tây và một đi theo hướng ngược lại Trung đoán có lẽ anh ta có người thân ở quanh khu đó. Khổ nỗi xa cảng miền Tây thì rộng mênh mông bát ngát biết đâu mà tìm. Suy nghĩ một lát Trung bỗng nhớ ra cả hai lần đưa và đón người khách đi xe luôn đứng ở dưới gốc cây sao lớn trước một ngõ hẻm. Như thế có lẽ nhà người thân anh ta chỉ ở quanh quẩn đâu đó. Trung đạp xe ngay đến đó và bắt đầu gõ cửa từng căn nhà trong con hẻm để hỏi thăm về tung tích người Thiếu úy tên Ngọc. Những căn nhà đầu tiên anh hỏi thăm đều là những gia đình mới dọn về sau này nên không ai có thể cho anh thêm thông tin gì. Đến căn nhà ở quãng giữa con hẻm có một người thiếu nữ trạc tuổi Trung đã cho anh một chi tiết quan trọng.

– Anh hỏi thăm thử căn nhà có trồng cây bông giấy trước sân đó xem. Ngày xưa tôi biết gia đình đó có một người con trai cũng cỡ tuổi tôi làm sĩ quan nhưng sau ngày 30 tháng 4 thì không thấy nữa. Hàng xóm đoán là có thể anh ta đã di tản hoặc trốn cải tạo ở đâu đó nên không ai dám hỏi.

Trung cám ơn cô ta rồi đến thẳng căn nhà có cây bông giấy bấm chuông. Một người đàn bà lớn tuổi đi ra. Trung cất tiếng:
– Dạ chào bác. Con kiếm nhà anh Nguyễn Văn Ngọc.

Trung tính nói thêm “ngày xưa là sĩ quan Sư đoàn 18” nhưng anh chợt dừng lại vì vào thời điểm đó ai cũng sợ liên lụy, Trung không muốn chủ nhà nghi ngại. Người đàn bà ngần ngừ một lát rồi hỏi lại:
– Cậu quen sao với thằng Ngọc nhà tôi?

Đến đây thì Trung không còn lo ngại nữa nên trả lời người đàn bà.

– Dạ cháu là lính cùng Sư đoàn 18 với ảnh.
– Cậu vào nhà chơi uống miếng nước cái đã.

Trung bước vào nhà và để ý ngay đến cái bàn thờ ở nhà trong mà trên đó có treo bức hình chân dung một người sĩ quan có khuôn mặt khắc khổ. Không thể lẫn vào đâu được, chính là người khách đi xe của anh trước đây. Người đàn bà rót nước trà mời Trung rồi lên tiếng.

– Cậu có tin tức gì của con tôi không? Cậu thấy đó, tôi lập bàn thờ cho nó vì tin rằng nó đã mất. Lần cuối tôi được biết tin tức về nó là khi đơn vị của nó đóng ở Xuân Lộc. Lúc ấy qua tin tức thì trận đánh ở đó khốc liệt lắm. Sau đó không còn tin tức gì. Vợ chồng tôi không biết nó bị bắt, bị tử trận, hay đã trốn thoát được ở nơi nào đó. Đến đêm ngày 30 tháng 4 tôi bỗng nằm mơ thấy nó mặt mũi bê bết máu. Giấc mơ chỉ thoáng qua thật nhanh và tôi chưa kịp hỏi han thì đã giật mình tỉnh dậy. Sau đó không có tin tức gì của nó nữa và tôi cũng không còn mơ thấy nó lần nào. Vợ chồng tôi cũng đi dò hỏi ở nhà những người bạn cũ của nó thì không ai hay biết gì. Bạn thân trong đơn vị của nó thì không ai ở Sài Gòn. Sau một thời gian bặt tin tức và căn cứ theo giấc mơ ngắn ngủi, chúng tôi đã lập bàn thờ cho nó và lấy ngày 30 tháng 4 làm ngày giỗ. Tôi mong là cậu có thể cho chúng tôi biết được tin tức của nó.

Đến đây thì Trung lần lượt kể cho người đàn bà nghe về hai lần có duyên được gặp mặt Thiếu úy Ngọc. Anh kể cho bà ta nghe về những người tốt bụng đã chôn cất Thiếu úy Ngọc tử tế và vẫn thường xuyên chăm sóc mộ phần anh cho đến tận bây giờ. Cuối cùng anh móc trong túi ra tấm thẻ bài như một kỷ vật để trao lại cho người mẹ đau khổ nhưng hạnh phúc vì cuối cùng cũng biết được con mình bấy lâu nay vẫn được hương khói và mồ yên mả đẹp. Sau đó Trung đạp xe chở mẹ Ngọc đến mộ phần của anh và sau đó ghé thăm nhà của những người ngày xưa đã chôn cất Ngọc. Những cuộc gặp gỡ tràn ngập nước mắt nhưng đó là những giọt nước mắt hạnh phúc cho một cái kết phần nào có hậu. Trung đã đứng trước mộ phần Thiếu úy Ngọc và khấn thầm trong miệng. “Em đã làm được việc tìm ra gia đình của ông thầy. Từ đây mong ông thầy yên nghỉ”.

Khi Trung chở mẹ Ngọc về, người đàn bà đã giữ anh ở lại ăn bữa tối. Hôm đó cũng là ngày tiễn ông Táo về trời. Ở nhà người chị gái của Thiếu úy Ngọc đã chuẩn bị mâm cơm cúng tươm tất. Sau bữa cơm Trung cám ơn và cáo từ gia đình Ngọc để ra về. Khi đạp xe ra khỏi cổng con hẻm bên gốc cây sao, Trung bỗng giật mình khi thấy người đón xe xích lô hôm trước, Thiếu úy Ngọc, đang đứng giơ tay lên chào mình. Đang đà xe chạy nên Trung không kịp dừng, anh chỉ kịp ngoái đầu lại thì chỉ còn thấy gốc cây sao trống trơn. Lật đật thắng xe lại, Trung đứng vội xuống đất sửa quần áo cho chỉnh tề rồi đứng nghiêm hướng về gốc cây sao chào theo đúng phong cách cấp dưới chào cấp trên trước khi leo lại lên xe để đạp về nhà.

Thảo Lan
 
Nam Mai sưu tầm
Xem thêm...

KỲ QUAN ĐỘC ĐÁO Ở SÀI GÒN, TỪ BÀN TAY MỘT NGƯỜI PHÁP

 KỲ QUAN ĐỘC ĐÁO Ở SÀI GÒN 

TỪ BÀN TAY MỘT NGƯỜI PHÁP

*****

Kỷ niệm 160 năm thành lập Sở Thú Sài gòn (1864-2024)

Người Pháp đến Việt Nam bằng một cuộc xâm lược, nhưng khi phải trả lại nền độc lập cho Việt Nam, họ cũng để lại nhiều kỳ quan ở Sài Gòn, như Vương Cung Thánh Đường, Sở Dây Thép Sài Gòn… nhưng công phu và có tầm khoa học vượt trội ở Đông Nam Á, là Vườn Bách Thảo. Trước năm 1975, người dân hay gọi là Sở Thú, nay gọi là Thảo Cầm Viên. Cùng quay lại, và tìm hiểu về công trình này, qua bàn tay tạo dựng của nhà thực vật học người Pháp Jean- Baptiste Louis- Pierre, giám đốc đầu tiên của Sở Thú sau 160 năm.


 
Ngày 23 Tháng Ba năm 1864, Đề Đốc Pierre Paul de La Grandière ký nghi định thành lập Vườn Bách Thảo (Jardin Botanique) trên mảnh đất có diện tích 12 ha (120.000 m2) gần rạch Thị Nghè mà người Pháp gọi là “Arroyo d’ Avalanche” với chức năng sưu tập các loài động – thực vật đặc hữu của Nam kỳ và 3 nước Đông Dương (Việt Nam, Cao Miên, Lào) và du nhập, ươm trồng một số giống cây phục vụ cho việc trồng cây trên đường phố Sài Gòn – Gia Định.

Ngay sau đó, một kỹ sư và bác sĩ thú y trong quân đội tên Alphonse Germain được giao nhiệm vụ khai phá 12 ha gần rạch Thị Nghè để lập ra Vườn Bách Thảo. Công việc xây cất xe được tiến hành nhanh chóng và Tháng Ba năm 1865, Vườn Bách Thảo đã mở cửa đón khách tham quan. Vì thấy Vườn Bách Thảo sẽ tiếp tục phát triển và có quy mô càng ngày càng lớn hơn, ngày 23 Tháng Ba năm 1865, chính quyền Pháp đã mời nhà thực vật học người Pháp Jean- Baptiste Louis- Pierre đang phụ trách Vườn Bách Thảo Calcutta (Ấn Độ) về làm giám đốc Vườn Bách Thảo và bách thú Sài Gòn (Jardin botanique et zoologique de Saigon) và bộ sưu tập đầu tiên hình thành do công sức của ông gồm 63 loài chim, 29 loài thú và 13 loài bò sát.

Nhà thực vật học người Pháp Jean- Baptiste Louis (ảnh:Wiki)

Jean- Baptiste Louis- Pierre sinh ngày 23 Tháng Mười năm 1833 trong gia đình một doanh nhân trồng mía trên đảo Réunion thuộc Pháp, sang thủ đô Paris của nước Pháp học y khoa rồi học chuyên sâu về thực vật học tại Strasbourg. Khi gia đình ông bị phá sản vào đầu những năm 1850 do một cơn bão tàn khốc quét qua đảo Réunion và những nô lệ làm việc trong đồn điền của cha ông được giải phóng,ông đã bỏ học để làm việc cho Cơ Quan Lâm Nghiệp Hoàng gia Anh (British Imperial Forestry Service) tại Calcutta (Ấn Độ) do ngài Dietrich Brandis, cha đẻ của “ngành lâm nghiêp nhiệt đới”, làm giám đốc.

Ông thăng tiến nhanh chóng trong hàng ngũ những nhà lâm nghiệp tại Calcutta, được bổ nhiệm làm giám đốc Vườn Bách Thảo Calcutta. Tiếng tăm lừng lẫy của Jean- Baptiste Louis- Pierre khi làm giám đốc Vườn Bách Thảo Calcutta đã khiến cho các viên chức Bộ Hải Quân Pháp chú ý tới ông vào năm 1865, khi Vườn Bách Thảo Sài Gòn bắt đầu được xây dựng vào năm trước để sưu tập các loài động, thực vật phục vụ cho sinh hoạt kinh tế.

Ông làm Giám Đốc Vườn Bách Thảo và Bách Thú Sài Gòn từ năm 1865 tới năm 1877, tạo lập cơ sở ban đầu, sưu tập những loài thú và cây trồng quý hiếm từ nhiều nơi khác nhau ở châu Á. Ông đã tự mình sưu tầm nhiều loài động, thực vật bằng tiền túi, và trong 12 năm làm giám đốc Vườn Bách Thảo và Bách Thú Sài Gòn, ông đã dành phần lớn thời gian phối hợp những cây cỏ trong rừng và cây cỏ trên thảo nguyên, hình thành bộ sưu tập cá nhân động, thực vật miền nhiệt đới phong phú nhất.

Vườn Bách Thảo thời đầu xây dựng (ảnh Wiki)

160 năm qua, người ta vẫn nhớ tới Jean- Baptiste Louis- Pierre vì những đóng góp của ông cho việc làm đẹp những chốn công cộng của thành phố Sài Gòn. Trong những vườn ươm rộng lớn ở Vườn Bách Thảo và Bách Thú Sài Gòn và vườn của Dinh Norodom, ông đã ươm trồng nhiều loại cây và bụi cây về sau sẽ được trồng để tạo bóng mát trên những đại lộ, những công trường và công viên của thành phố Sài Gòn. Ông đặc biệt chú ý tới vườn bách thảo của thành phố về sau sẽ mang tên Công Viên Tao Đàn, nơi ông cho trồng nhiều loại cây quý hiếm đến mức nó có biệt danh “Rừng Boulogne của Sài Gòn”.

Dưới sự chỉ huy tạo dựng của Jean- Baptiste Louis- Pierre, Vườn Bách Thảo và Bách Thú Sài Gòn đã có đóng góp lớn lao vào sự phát triển của nông nghiệp ở Nam kỳ vì các vườn ươm ở đây đã tạo ra nhiều loại cây ăn quả và nhiều loại cây công nghiệp. Tuy nhiên, vào năm 1875, công việc nghiên cứu và phát triển các giống cây trồng đã vượt quá khả năng của Vườn Bách thảo và bách thú Sài Gòn nên Jean- Baptiste Louis- Pierre được khuyến cáo lập ra một trang trại rộng 120 ha trên khu đất của chùa Ao (Pagode des Mares) gần đường Phạm Viết Chánh và đường Cống Quỳnh hiện nay. Trong những năm sau đó, trang trại thử nghiệm gần chùa Ao đã có những nghiên cứu thành công, phát triển hoàn thiện nhiều giống cây cà phê, xoài, dứa, cây đay, cây chàm và cây mía đầu tiên của Việt Nam.

Khu Đền Kỷ niệm được dựng lên trong Vườn Bách Thảo sau 1956. (Ảnh: Heritage)

Trong 12 năm làm giám đốc Vườn Bách Thảo và Bách Thú Sài Gòn, Jean- Baptiste Louis- Pierre cũng giảng dạy thực vật học tại Trường Hậu bổ (Collège des Stagiaires) và ông được tặng biệt danh “Pétrus Botanico” (phỏng theo tên Pétrus Ký). Ông trở về Paris vào năm 1877 để dành nhiều thời gian cho những công trình nghiên cứu của mình và thời gian này là lúc ông viết tuyệt tác của ông là tác phẩm “Flore forestière de là Cochinchine” (Thực vật rừng của Nam kỳ) được in thành nhiều tập từ năm 1881 đến năm 1894.

Tác phẩm này của ông được xưng tụng là tác phẩm quan trọng nhất viết về thực vật rừng của vùng nhiệt đới; những người đương thời đã gọi đây là “một tác phẩm khoa học đồ sộ”, một “cuốn Kinh thánh dành cho những nhà thực vật học hiếu kỳ muốn tìm hiểu hệ thực vật của thuộc địa ở miền nhiệt đới”. Trong những năm cuối đời, ông viết nhiều bài báo khoa học cho các tạp chí khoa học như Bulletin du Jardin colonial, Bulletin de la Société Linéenne de Paris và Bulletin du Musée de Paris. Nhiều giống cây trồng đã được đặt tên theo tên ông, trong đó có pierreodendron thuộc họ Sapôchê và pierra thuộc họ Mùng quân.


Jean- Baptiste Louis- Pierre từ trần ngày 30 tháng 10 năm 1905 tại Saint-Mandé, ngoại ô phía Đông của thủ đô Paris. Vào Tháng Hai năm 1933, để ghi nhớ công lao của ông, Hội Đồng Khoa Học Pháp đã cho xây cột bia tưởng niệm ông trong Vườn Bách Thảo và Bách Thú Sài Gòn. Cội bia này đã được sửa chữa vào dịp kỷ niệm 130 năm thành lập Thảo Cầm Viên Sài gòn vào năm 1994.

Vườn Bách Thảo và Bách Thú Sài Gòn, gọi đúng theo tên ban đầu được đặt, được tu sửa, tái thiết và đổi tên thành Thảo Cầm Viên Sài Gòn vào năm 1956, dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa và cái tên ấy được giữ cho đến nay, nhưng người Sài Gòn vẫn quen gọi là Sở Thú.

Người đến chơi Sở thú trong đầu thập niên 1970 (Ảnh: Heritage)

Sở Thú đã có vai trò then chốt trong giáo dục, trong việc bảo tồn và nghiên cứu. Trước năm 1975, học sinh và trẻ nhỏ trước đây luôn được nhà trường và được cha mẹ dẫn vào tìm hiểu khu Sở Thú rộng 16, 9 ha, biết được thế giới kỳ thú của loài vật, và cỏ cây mà trước đó chúng chỉ nhìn thấy trên tivi hay trong những bức ảnh chụp lại.
 
 
Huỳnh Duy Lộc / Theo: SGN
 
 
 
 

160 năm Thảo Cầm Viên Sài Gòn


Thảo Cầm Viên Sài Gòn là một không gian công cộng và cảnh quan đô thị thân thiện với môi trường và con người. Nó để lại dấu ấn đặc biệt đối với du khách và ký ức bền chặt của cư dân thành phố. Đây là một di sản đô thị mang nhiều giá trị, thể hiện bản sắc văn hóa và văn minh của thành phố.

1.

Theo một nghị định ký ngày 23.3.1864, khu đất rộng 12 ha nằm ở phía đông bắc rạch Thị Nghè được Đô đốc de La Grandiere giao cho bác sĩ Louis Adolphe Germain tạm thiết kế, quy hoạch một khu vườn thực vật - động vật. Lúc đầu được gọi là vườn Bách Thảo. 

Ngày 23.3.1865 ông Jean Baptiste Louis Pierre - người đang phụ trách vườn Bách Thảo Calcutta (Ấn Độ) được chính quyền mời về làm giám đốc khu vườn Bách Thảo và Bách Thú (Jardin botanique et zoologique de Saigon). Ông đảm trách chức vụ này đến ngày 10.10.1877. Ông Jean Baptiste Louis Pierre “đã tổ chức vườn ươm một cách rất đáng khâm phục và đã giao cho thành phố hàng ngàn cây xanh để trồng trong các công viên và trên các đại lộ”.

Tượng Giám đốc Jean Baptiste Louis Pierre trên lối vào Thảo Cầm Viên. Ảnh: Lê Quân


Khi vườn Bách Thảo mới được thành lập, trên báo Courrier de Saigon đã đăng lời kêu gọi mọi người, kể cả người dân lẫn du khách và binh lính thuộc mọi miền trên xứ Nam kỳ đóng góp các loại thực vật và động vật, nhờ đó đã tập hợp được nhiều giống lạ. Đến năm 1878 nơi này đã tập hợp được hầu hết các loại động vật ở Nam kỳ. 

Từ năm 1956 vườn Bách Thảo được tu sửa và đổi tên là Thảo Cầm Viên cho đến nay. Đến năm 1990, nhiều chuồng thú được cải tạo và mở rộng cho phù hợp. Chương trình trao đổi động vật với các vườn thú đã làm cho bộ sưu tập động vật của Thảo Cầm Viên Sài Gòn càng thêm phong phú. Đây là vườn thú lâu đời đứng thứ tám trên thế giới, là khu vườn có bộ sưu tập thảo mộc và muông thú phong phú nhất ở vùng Viễn Đông. Năm 1990 Thảo Cầm Viên là thành viên chính thức của Hiệp hội Các vườn Đông Nam Á. 

Trong khuôn viên Thảo Cầm Viên Sài Gòn còn có hai công trình kiến trúc khá tiêu biểu của giai đoạn lịch sử nửa đầu thế kỷ XX: Bảo tàng Lịch sử TP.SAIGÒN và Đền thờ Hùng Vương. Hiện nay Thảo Cầm Viên hàng ngày đón hàng nghìn lượt khách đến tham quan.

2.

Ở nước ta, trong các làng xã hay đô thị cổ xưa, không gian công cộng thường là sân đình hay khuôn viên chùa, nhà thờ hoặc khu vực chợ làng... Nơi đó cộng đồng có những sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo chung, có giao tiếp - trao đổi hàng hóa. Đồng thời với những sinh hoạt đó là giao lưu văn hóa, tình cảm của cộng đồng. Những khoảng thời gian cộng đồng có sinh hoạt chung như vậy không nhiều, năm đôi ba lần lễ hội vào dịp nông nhàn hay Tết Nguyên đán... Tuy nhiên, nhu cầu “không gian công cộng” luôn tồn tại trong mọi cộng đồng, mọi thời đại vì đó chính là nhu cầu thể hiện bản sắc, đặc trưng văn hóa của cộng đồng, của địa phương.

Sang thời kỳ đô thị được xây dựng theo kiểu phương Tây, không gian công cộng nhiều hơn và đa dạng hơn.“Nguồn gốc của không gian công cộng, theo cách nhìn của phương Tây, liên quan đến khái niệm “quyền” tiếp cận và loại trừ tới các không gian đó. Trong các mô hình xã hội dân chủ, nhà nước cần thiết lập những không gian mà ở đó tất cả mọi người đều có quyền tiếp cận bất luận địa vị xã hội hay điều kiện kinh tế, và quyền này được bảo vệ bởi hiến pháp và pháp luật... Công viên cũng được xem là một không gian công cộng chính thống để đảm bảo quyền được nghỉ ngơi thư giãn, tiếp cận thiên nhiên của các đối tượng xã hội” (*).

Đền kỷ niệm nay là Đền thờ Hùng Vương (Ảnh tư liệu, chụp năm 1967).


Không gian công cộng ở đô thị có nhiều giá trị cơ bản: Tác động tích cực đến sức khỏe và tinh thần dân cư; gắn kết cộng đồng, góp phần định hình bản sắc một khu vực, một cộng đồng; giá trị phát triển kinh tế từ không gian công cộng còn là một nguồn vốn xã hội gần như vô tận, lợi nhuận được thu về từ các hoạt động kinh tế, giá trị văn hóa tích lũy ngày càng cao; giúp tăng cường đa dạng sinh học, tạo ra những hệ sinh thái tự nhiên trong lòng đô thị.

Từ nửa sau thế kỷ XIX tại Sài Gòn chỉ có một vài công viên như vườn Ông Thượng (nay là công viên Tao Đàn). Một công viên khác là vườn cây sao - công viên phía trước dinh Độc Lập. Khu vực này còn có nhà thờ Đức Bà và quảng trường Công xã Paris, Bưu điện Thành phố... nối liền với đường Đồng Khởi đi xuống bến Bạch Đằng, đường Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Hàm Nghi, chợ Bến Thành. Tuy nhiên công viên lớn nhất vẫn là Thảo Cầm Viên nằm đối diện Dinh Độc Lập, với trục đường Lê Duẩn nối liền một thiết chế chính trị quan trọng nhất với một thiết chế văn hóa mang tính công cộng cao nhất. Đây là điểm nổi bật trong quy hoạch đô thị Sài Gòn. Toàn bộ khu vực trung tâm được coi là “vùng di sản” của Sài Gòn.

Hình ảnh tư liệu về khu chuồng khỉ ở Thảo Cầm Viên Sài Gòn. Ảnh được chụp năm 1970 bởi Carl Nielsen.


Hồi ký của Paul Doumer (Toàn quyền Đông Dương giai đoạn 1897 - 1902) miêu tả khu vực này như sau: “Sài Gòn là một thành phố nhiệt đới xinh đẹp, thành phố duyên dáng nhất vùng Viễn Đông. Một số công trình nghệ thuật ở Sài Gòn rất đẹp; tất cả đều có kích thước lớn; nhà cửa nói chung khá xinh xắn, đường phố rợp bóng cây, tất cả như chìm ngập trong một đại dương xanh.

Nhìn từ trên cao xuống, từ chòi quan sát trên nóc một con tàu hoặc từ các tháp của nhà thờ, Sài Gòn hiện ra như một công viên rộng lớn, trong đó một vài tòa nhà quá đồ sộ hoặc quá cao vượt lên khỏi những tán cây. Này là Dinh Toàn quyền, các trại lính, bệnh viện, Sở Bưu điện, Dinh Thống đốc, Nhà Đoan (Sở Thuế quan)... các công thự đó không chịu thua những tán cây muốn chiếm lĩnh trời xanh, luôn luôn vươn lên và trải rộng nhờ nhựa sống của thiên nhiên hào phóng”. 

Cho đến cuối thế kỷ XX có thể nhận thấy vai trò của Thảo Cầm Viên so với các “không gian công cộng” khác là mang tính cộng đồng cao hơn. Đây là nơi mọi tầng lớp xã hội đều có thể tham gia để đáp ứng nhu cầu giải trí (hiếu kỳ, nghỉ ngơi, vui chơi...). Không chỉ vậy, với hai công trình văn hóa là Viện Bảo tàng và Đền thờ Hùng Vương, Thảo Cầm Viên còn là nơi người dân được tiếp nhận nhiều tri thức lịch sử - văn hóa, được “về nguồn” bằng các sinh hoạt tâm linh ngày thường cũng như dịp lễ, Tết... 

Cây cổ thụ trong Thảo Cầm Viên. Ảnh: Trung Dũng


Từ sau 1954, nhất là từ sau 1975, chức năng của các không gian công cộng ở khu vực trung tâm thành phố được chia sẻ cho nhau: “Phố đi bộ” từ đường Đồng Khởi nay có thêm đường Nguyễn Huệ, Lê Lợi; các cơ sở dịch vụ (nhà hàng, khách sạn, nhà sách, rạp phim...) không chỉ dành cho tầng lớp thượng lưu mà trở nên quen thuộc với các tầng lớp khác. Tuy có thêm nhiều công viên lớn nhỏ khắp thành phố nhưng Thảo Cầm Viên vẫn giữ vị thế “đặc biệt” do tính chất và chức năng quan trọng trong nhiều lĩnh vực.

3.

Là một công viên với hàng ngàn cây xanh nhiều chủng loại, được trồng và chăm sóc khoa học, tạo cảnh quan đẹp, Thảo Cầm Viên mang lại tác dụng tốt cho sức khỏe cư dân đô thị. Số lượng mảng xanh, không gian chung ở Việt Nam đang dần bị thu hẹp, nhường chỗ cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng và đô thị mới. Chính vì vậy mảng xanh của Thảo Cầm Viên ngày càng trở nên quan trọng đối với TP.SG đang trong quá trình đô thị hóa - hiện đại hóa mạnh mẽ.

Thảo Cầm Viên Sài Gòn cần được bảo tồn và phát triển như một di sản đô thị. Ảnh: Quỳnh Trần


Giá trị khoa học và cung cấp tri thức cho cộng đồng của Thảo Cầm Viên là không thể phủ nhận và ngày càng trở nên quan trọng trong thời kỳ biến đổi khí hậu toàn cầu. Công cuộc bảo tồn các giống loài động, thực vật không chỉ nhằm lưu giữ một phần lịch sử tự nhiên mà còn cho biết thái độ, ứng xử của con người đối với thiên nhiên và môi trường sống. Thảo Cầm Viên còn là nơi các nhà khoa học trồng thí nghiệm các giống loài thực vật phục vụ nhu cầu của đô thị. Không biết chức năng này đến nay còn hữu dụng không, khi mà việc trồng cây xanh ở thành phố không có sự nhất quán và lâu dài trong khi nhiều cây cổ thụ, nhiều mảng xanh bị chặt hạ để xây dựng hạ tầng giao thông?

Không gian công cộng như Thảo Cầm Viên không chỉ có giá trị “phi vật thể” như trên mà lợi ích kinh tế cũng rất cụ thể. Ở nhiều quốc gia những “không gian xanh” của rừng, công viên... đều được coi là “vốn xã hội”. TP.SG đang hướng tới xây dựng “Thành phố xanh”. Cho dù “mảng xanh” chỉ là một trong nhiều yếu tố của “thành phố xanh” nhưng đây là yếu tố tự nhiên, bền vững, thân thiện và dễ thực hiện việc tăng cường và bảo vệ. 

Với chức năng “không gian công cộng đặc biệt” và nhiều lợi ích quan trọng, Thảo Cầm Viên Sài Gòn cần được bảo tồn và phát triển như một di sản đô thị, đồng thời là một “chỉ số xanh” của TP. Sài Gòn.

 

Nguyên Thy sưu tầm

 
 

 

Xem thêm...

Pulau Bidong Hòn Đảo Bao Dung - Nguyễn Kim

Pulau Bidong Hòn Đảo Bao Dung

Nguyễn Kim

Lời ngỏ: Trong một bài viết cách đây không lâu, tôi có chia sẻ với độc giả ý nghĩa ngày 30/4 đối với riêng cá nhân tôi có tầm quan trọng như thế nào. Lúc đầu, tôi chỉ muốn nhắc đến ngày ấy của năm 1979 đã đóng lên Curiculum Vitae của tôi con dấu “Boat people”. Thoạt tiên, tôi chỉ có ý định kể lại, viết xuống những gì mình còn giữ lại được trong ký ức về hòn đảo đã cưu mang chị em chúng tôi nói riêng và ít nhất trên 80 ngàn người vượt biển giữa 1978-1984 nói chung. Không biết sao, ký ức và suy tư đã đưa tôi đến khúc đoạn trước đó, bắt đầu từ 30/04/1975. Thế nên tôi vẫn “nợ” với quý bạn đọc và các thế hệ sau. Cũng không đúng hẳn! Thực ra là “nợ” với chính tâm nguyện của cá nhân: chỉ muốn ghi lại một giai đoạn khó quên trong cuộc đời riêng và lịch sử Việt Nam nói chung, cho hậu thế có vài tư liệu nếu còn muốn tìm hiểu.
 
Bây giờ là thời đại của Google và Wikipedia, ai muốn biết về bất cứ điều gì chỉ cần gõ vài chữ là hiện ra biết bao nhiêu thông tin, nhưng tôi không muốn viết kiểu như những thông tin đó. Tôi muốn ghi lại những gì mình thấy và cảm nhận, với con mắt và trái tim của một thiếu niên 13 tuổi. [Kim Nguyễn]
 
 
Buổi sáng 30/4/1979, tàu Mã Lai đưa chúng tôi đến trại tị nạn Pulau Bidong. [Trước đó vài tuần, tàu chúng tôi cập bến một hòn đảo nhỏ khác tên Pulau Pinang. Đây là câu chuyện khác, dịp nào đó, nếu có người muốn đọc, tôi sẽ có một bài viết riêng]. Tôi nhớ hôm đó biển êm, trời trong xanh không một gợn mây nên mặt biển cũng xanh mướt. Màu xanh đó một lần nữa lại đập vào mắt tôi khi chiếc tàu Mã Lai đưa chúng tôi đến gần. Cơ man nào là những đốm màu xanh da trời, trải dài khắp bờ biển, lan rộng lên tuốt luốt sườn đồi trên cao! Mãi sau này tôi mới biết đó là các tấm nylon màu xanh dương đậm, khá dầy, đủ sức che mưa, nhưng rất khiêm tốn trong việc che nắng (!), người ta dùng để làm mái che cho các “nhà” để tạm cư.
 
Tàu đưa chúng tôi đến đậu tại một cây cầu bằng gỗ, vươn dài ra ngoài biển mà sau này tôi mới biết nó tên là “Cầu Supply”. Đi dần vào trong, tôi… hết hồn, cứ phải đăm đăm nhìn xuống. Chẳng phải vì tôi còn say sóng hay vì Cầu Supply khấp khểnh khó đi, mà vì … Trời đất ơi! Thanh niên trai tráng đâu mà nhiều quá vậy? Mà ai cũng ở trần, mặc mỗi cái xà-lỏn, vài người tóc dài thậm thượt như… hải tặc Thái Lan chúng tôi mới gặp cách đây không lâu! Mãi sau tôi mới dám len lén nhìn lên, vẫn còn mắc cỡ vì không quen nhìn đàn ông con trai trong mỗi cái quần xà-lỏn! Phần đông ai nấy da ngăm đen nên cứ làm tôi liên tưởng đến hải tặc, nhưng họ đang cười toe toét, khoe hàm răng trắng bóc. Một số thanh niên đó hỏi có cần khiêng phụ giúp gì không? Mỗi đứa chúng tôi cũng như mọi người khác đâu có vật dụng nhiều, chỉ có vài bộ quần áo gói trong bao vải, nên chúng tôi cám ơn, không nhờ vả gì; đành phụ lòng các nam nhân đó vậy. Nhưng cũng có vài ông bà cụ già cũng như các gia đình có em nhỏ, họ rất biết ơn lòng tốt bụng của người đồng hương không quen biết.
 
pulau bidong hon dao bao dung
 
Chúng tôi được đưa đến một khoảng đất rộng, nền đất cứng và sạch sẽ, chắc được nhiều người đi qua lại nên không còn một cọng cỏ, được nén chắc nịch vì đang là mùa nắng, nên đi lại rất dễ dàng. Sau 5 ngày lênh đênh trên biển và gần 4 tuần ở đảo nhỏ trước đó, lần đầu tôi mới có lại cảm giác vừa vui vừa hơi sờ sợ, vì đảo đông người ghê lắm. Vui vì nghe thật nhiều tiếng Việt lao xao, thấy kỳ kỳ vì thanh niên ai nấy đều ăn mặc “nhẹ ký” như tôi đã nói lúc nãy. Họ cười nói, ồn ào, đi qua đi lại và nhìn chúng tôi. Sau này tôi mới hiểu họ nghe có tàu Mã Lai đưa người đến nên chạy ra xem, biết đâu gặp lại người thân hay bạn bè.
 
Gần trưa, chúng tôi được Ban điều hành trại lập danh sách, ghi tên chúng tôi để báo cho Cao Ủy Tị Nạn. Đây cũng là lần đầu tiên tôi nghe đến 4 chữ này. Chỉ mơ hồ hiểu rằng mình bây giờ là “con của Cao Uỷ”, như người trên đảo hóm hỉnh đặt cho mình và gọi nhau như thế. Tôi là út nên khỏi phải làm gì nhiều, đã có các chị lớn lo, chỉ đợi đến phiên mình đứng vô chỗ đã định sẵn, cầm tấm bảng nhỏ như bảng học sinh thời tiểu học, giơ lên trước ngực và nhìn không chớp mắt vào ống kính. (Không hiểu sao mà tôi còn giữ được tấm ảnh trắng đen 4×6 nhỏ xíu đó và đã chụp lại đăng trên bài trước).
 
Họ dặn chúng tôi lắng nghe thông báo trên các loa được mắc rải rác trên đảo, khi nào kêu tàu KG 0469 xuống khu hành chính để lập hồ sơ tiếp tục xin định cư, cũng như khi được kêu xuống phỏng vấn, thì nhớ đến cho đúng giờ.
 
Sau đó… mạnh ai nấy đi!
 
Chúng tôi hết sức bỡ ngỡ vì tưởng sẽ có người dẫn mình đến giao cho một khoanh nhỏ nào đó trong một barrack hay cái chòi nào cũng được. Nhưng không phải vậy! Trên đảo, tự ai nấy phải tìm nơi trú ngụ! Gặp được người quen thì tá túc vài hôm, rồi xoay xở mua lại những căn nhà của người khác ra đi (đã gửi lại cho người quen bán giùm). Hoặc mua những nhà mới được cất, do những người khéo tay, ở lâu trên đảo và có thì giờ lên rừng đốn củi, đem về đóng một chòi nhỏ rồi bán lấy tiền.
 
Sau 3 ngày, chúng tôi may mắn gặp được người quen từ thời ở Sài Gòn giới thiệu mua lại một căn “nhà” ở khu D, là tuốt trên gần đỉnh đồi, cao lắm. Gọi là “nhà” cho nó oai, chứ nó chỉ có một mái làm bằng tấm nylon màu xanh dương đậm và một bên vách. Phía trước và sau không có cửa và bên hông sát với nhà bên kia cũng không có vách ngăn! Người quen trấn an chúng tôi mai mốt anh sẽ giúp dựng lên cái vách, còn bây giờ ở chỗ này khá rộng, đủ cho 6 chị em. Chúng tôi phải chọn khu D, tuốt luốt trên cao vì nhà trên đó rẻ hơn các nhà dưới khu A và B là khu gần Ban Hành Chánh và gần bờ biển, không phải trèo cao. Nghe nói có những người còn phải đi xa hơn như khu F và khu G. Người quen còn đùa nói ở lâu rồi sẽ thấy thích, vì nhìn xuống thấy mặt biển và có cần “đi thăm lăng Bác” không phải lội bộ xa. “Đi thăm lăng Bác” là từ mới trên đảo họ đặt ra để tả công việc… đại tiện mà ai cũng cần làm. Sáng tạo và hài hước hết chỗ chê!
 
Để đi đến miền “đất thánh” đó chúng tôi chỉ cần leo đồi thêm độ 200m, đi qua những căn nhà cuối xóm là bắt đầu đến một bãi đất mà chúng tôi phải cẩn thận, nhắc chừng nhau coi chừng đạp “mìn”. Vì cũng hay mắc cỡ nên chị em chúng tôi luyện tập cho mình sao có một nhịp sinh lý đều đặn, đợi được đến chiều tối chạng vạng rồi cùng nhau đến đó “thi hành nhiệm vụ công dân” hay làm “Big business”(Chữ của chúng tôi). Chúng tôi phải canh sao đi cho sớm, trời chưa tối lắm để còn thấy đường, nhưng lúc đó muỗi lại bắt đầu vo ve, thi nhau ùa ra tấn công! Buồn cười, chị tôi nảy ra sáng kiến đem theo nhang muỗi. Thế là mỗi đứa cầm trên tay một vòng nhang muỗi màu xanh lá cây, đã được mồi trước. Có lần có người từ trong nhà nào đó gọi ra chọc ghẹo:
 
“Mấy cô lén Ba Má đi hút thuốc há?”
 
“Big business” lần hồi cũng quen. Thao tác cho “small business” cũng cần tập luyện. Số là mỗi nhà đều tự xây cho mình một “phòng tắm” riêng. Các “phòng” đó lớn như nhà Dixi (bên đây người ta hay mướn cho thiên hạ xài vào những đại hội văn nghệ Festival v.v.) Phòng tắm của chúng tôi cũng vậy, là những thanh cây đóng tạm bợ trên một khung gỗ hình vuông, gác lên trên một hố sâu độ chừng 1m, vách xung quanh được quây bởi những bao tựa như bao gạo được cắt ra. Khi dọn vô, phòng tắm đó 4 vách chỉ còn độ… 3 rưỡi và không cao quá đầu người bao nhiêu. Chúng tôi phải khéo léo “ngồi trông hướng” sao cho khỏi mang tiếng “công xúc tu sỉ”.
 
 
“Ngồi trông hướng” đã xong, “ăn trông nồi” dễ dàng hơn nhiều. Vì trong nồi chúng tôi quanh năm chỉ có 3 món: gà, cá hoặc đậu. Đó là 3 món thường trực trong bọc Supply. Ngoài ra, trong đó còn một bọc gạo và một gói bánh khô, vị mặn như bánh Ritz ngày xưa, hoặc một bao mì gói. Bọc Supply là một túi nylon lớn, một mặt in chữ UNHCR màu xanh dương, một mặt có hình trăng lưỡi liềm màu đỏ và hàng chữ tôi không nhớ rõ nữa. Tôi được học chữ UNHCR có nghĩa là “United Nations High Commission for Refugees, còn chữ kia có nghĩa là “Hội Trăng Lưỡi Liềm Đỏ”. Hình cái lưỡi liềm mang màu đỏ làm tôi lúc đầu cũng hơi sờ sợ vì nó làm tôi nhớ đến một cái lưỡi liềm khác. Nhưng may quá, nó đứng một mình, không đi chung với một cây búa màu đỏ. Vả lại, nó cho mình đồ ăn thì chắc dễ chịu và dễ thương với mình? Sau này tôi mới hiểu vì Mã Lai là xứ theo Hồi giáo nên cơ quan thiện nguyện tránh không dùng dấu hiệu chữ thập rất đặc thù cho đạo Thiên Chúa giáo. [Bây giờ tôi rõ hơn: IFRC là “International Federation of Red Cross and Red Crescent Societies” có nghĩa “Hiệp Hội Quốc Tế Hồng Thập Tự và Trăng Lưỡi Liềm Đỏ”].
 
Trở lại các bịch Supplies. Chúng tôi đã “quen mặt” chúng sau 4 tuần ở bên đảo nhỏ trước đó. Thời gian đầu, ai cũng thích được ăn bánh, nhưng chỉ vài tuần sau lại mong được nhận mì gói vì dễ ăn hơn, vì mì gói cũng cho ta được nước như món canh vậy. Ở đảo, có quen biết với người trong đội ngũ phân phối, có “connections”thì có thể đổi lấy bọc Supply trong đó có mì gói!