Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1271)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (26)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (119)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (253)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

Nỗi Buồn Chiêm Dân - Yên Sơn

Nỗi Buồn Chiêm Dân

Yên Sơn

 

ngày 9.01.20

Việc làm với Mike, người chủ đầu tiên đời tỵ nạn, không như hắn tính – $2.00/giờ, ngày 8 tiếng, sẽ giàu sụ hơn thời đi mây về gió – mà là ngày làm ngày không, ngay từ tuần lễ đầu tiên.

Nhớ lại chiều thứ Sáu hôm đó, khi cầm cái chi phiếu $28.00 (sau khi khấu trừ mấy loại thuế khóa) về cho hai thằng em coi mà lòng hắn luống bùi ngùi. Hắn tự hỏi, “Như thế này thì làm cách nào để tự lập!” Hai đứa em buồn rầu hỏi anh với số tiền đó có đủ nuôi sống tạm thời được ba anh em một tuần không? Hắn phải mỉm cười trấn an là thế nào cũng sẽ làm được nhiều giờ hơn!

Hắn cố ép bà già nhận tấm check nói là để phụ tiền chợ với một chút tự hào là đã có thể chia sẻ gánh nặng với bà dù rất nhỏ nhoi. Hắn chỉ xin lại $5, đêm hôm đó ngồi nắn nót viết mấy chữ rất ưu ái gửi cho thằng bạn chí thân còn nằm dài người trong trại Fort Chaffee.

Trong những ngày làm ít nghỉ nhiều, thằng John, con trai của bà, giúp đưa hai đứa em hắn đi ghi tên học tiếng Anh, và mang về cho hắn cuốn sách học thi bằng lái xe. Hắn trố mắt hỏi:

– Bao giờ tụi tao mới có đủ tiền mua xe mà biểu học?

– Trước sau gì ai cũng phải có xe, ở Mỹ không có xe kể như không có chân. Hơn nữa, tao đâu thể đưa tụi mày đi hoài được và rồi tụi mày khi có việc làm bình thường sẽ dọn ở riêng, nhất là tụi mày cần bằng lái xe để mở trương mục ngân hàng và đổi check!

– Tao còn giữ bằng lái xe hơi ở Việt Nam, liệu có đổi qua bằng Mỹ được không?

– Theo tao biết là không, nhưng để tao đưa mày lên nha lộ vận hỏi thăm!

Và rồi việc không trông đã tới! Mike cho biết hết việc! Nó tử tế hứa là khi nào có việc mới sẽ lại nhờ hắn tiếp tay! Hắn đón nhận tin không vui với tấm lòng dửng dưng! Thế là bà già lại chạy đi hỏi người trong họ đạo sau các buổi lễ Chủ Nhật.

Một lần hắn cắc cớ hỏi mấy đứa em sau buổi lễ:

– Hai đứa cầu nguyện gì trong những buổi lễ?

Thằng anh thực thà nói:

– Mình con nhà đạo Phật mà cầu cái gì ở nhà thờ hả anh?

Thằng em láu táu:

– Cầu cho chúng con chóng có việc làm, amen! Còn anh?

Hắn phì cười tiếp lời:

– Chúa ở cùng anh chị em và ở cùng tụi mình! Anh cầu Chúa giúp tụi mình về nước!

– Tụi em nhớ Ba Mẹ anh chị em quá, không biết gia đình bây giờ tản lạc ở đâu, không biết anh lớn có bị chúng bắt bớ hành hạ không nữa!

Nụ cười chưa kịp nở trọn vẹn trên môi thì sự đau thương đã lấp tràn lên tâm hồn của ba gã con trai tỵ nạn!

Trạng thái tình cảm của ba anh em hắn rất thường thay đổi trong vòng mấy mươi giây đồng hồ mỗi lần tìm được niềm vui bất chợt. Một chiếc lá rơi cô đơn, một cơn gió thoảng vô tình, một tiếng ve sầu bất chợt, hoặc những tiếng dế giữa đêm thâu đều nhắc nhớ những kỷ niệm thân thương ở quê nhà! Chỉ mới mấy tháng trôi qua mà đã như miên viễn trong khi con đường đi tới của anh em hắn thì mịt mờ như sương khuya trên lối mòn bản Thượng!

Vài tuần sau, với sự cần mẫn đi lễ cuối tuần và do sự liên hệ của bà già, hắn được gửi gấm đi làm ở nhà thương Santa Rosa dưới phố. Làm housekeeping!

Hắn được người ta chỉ vẽ cho những chuyến bus đi về giữa nhà ở và phố xá. Hắn được dạy lau dọn các phòng vệ sinh và chạy máy đánh bóng sàn nhà. Cái máy mắc dịch to quá cỡ! Lúc đầu cố điều khiển chiếc máy làm hắn nhớ ray rứt cái cảm giác ngày đầu tiên ngồi vào ghế bên phải trên chiếc vận tải cơ C.123 ở Lockbourne Ohio năm nào! Hắn dàu dàu nét mặt khiến thằng giám thị quan ngại hỏi hắn có vấn đề gì không, hắn chỉ đáp gọn lỏn “nhớ nhà”!

Làm ở nhà thương kẻ ra người vô tấp nập! Trong đám người mỗi ngày, hắn thấy đủ các sắc dân. Hắn “kỵ” dân Á Đông lắm vì Tàu, Nhật, Đại Hàn cũng na ná giống Việt Nam. Hắn rất mặc cảm gặp người Việt, vì chỉ mới đây thôi từ một phi công ngang trời mà bây giờ đã ra phận cu ly!

Mỗi lần thấy bóng dáng Á Đông là hắn cảm thấy mặt hắn nóng bừng, hắn vội vàng bước xéo chỗ khác! Mỗi lần như thế hắn lắc đầu tự nhủ, “Ai cũng thế mà, đời có lúc nọ lúc kia – ở nước Mỹ, theo sách nói, việc gì cũng đáng trọng, chỉ khác nhau ở tư cách con người.”

Hắn tự hứa nhiều lần là phải chấp nhận sự thay đổi này dù bỉ thử tới đâu, vì còn có chọn lựa nào khác! Nhưng sao trong lòng hắn không thể gột rửa được!

Cuối cùng, hắn đành xin nghỉ sở! Hắn sợ bà già buồn nên mỗi ngày đáp xe bus lông bông ngoài phố, hỏi han đủ chỗ… Hắn quyết định tìm cách ghi danh học college song song với tìm việc làm. Họ nói cho hắn biết là hắn có thể xin được grant, học không tốn tiền, có thể xin trợ cấp welfare… Hắn đâu có hiểu welfare là cái giống gì, nghe người ta nói hoàn cảnh anh em hắn sẽ được giúp đỡ là mừng hết biết rồi! Hắn đem “tin mừng” về trình lại cho bà già và John nghe, John nổi lôi đình phán rằng, “Ngày nào tụi mày còn ở đây thì đừng bao giờ nhắc đến hai chữ welfare. Welfare chỉ để dành cho những người lười biếng, tàn tật, tụi mày đều mạnh khỏe, có học, không việc gì phải nghĩ tới chuyện nô lệ đó!”

Hắn bấn xúc xích, xin lỗi lia chia mà thực ra không biết lỗi ở chỗ nào dù trong thâm tâm nghĩ rằng, “Có lẽ welfare chỉ để dành cho tụi da đen và người không đi làm được.” Mà ngẫm nghĩ cho cùng John nói cũng có lý!

Niềm vui tắt ngúm như ngọn đèn khô dầu, nhưng chí đã quyết, ít nhất cũng tìm cách cho các em vào truờng đại học học đại. Hôm sau, hắn trở lại trường, kéo theo hai đứa em, trình bày hoàn cảnh của anh em hắn với ước muốn được đi học trở lại. Họ giúp lo thủ tục giấy tờ cho ba anh em ghi danh vào học khóa mùa Thu.

Xong việc trường học, hắn lại tiếp tục lang thang tìm việc bằng xe bus và lô-ca-chưn khắp phố! Ai giúp ý kiến gì cũng lắng nghe, biểu điền đơn ở đâu cũng điền, cơ quan nào cũng tới.

Một hôm đang thơ thẩn trước thành Alamo, hắn bỗng thấy một gia đình Á Đông bốn người, bên này đường trông như bạn hắn. Hắn mừng như bắt được vàng, vội băng qua đường bất chấp xe cộ, chạy tới tay bắt mặt mừng. Thằng bạn… quá ngỡ ngàng, trố mắt ngó hắn và xổ một tràng tiếng Anh, giọng ngoại quốc:

– You must be mistaken!

Hắn dội lại ngó kỹ, bồi hồi:

– Are you not Vietnamese”

– No! Me Chinese!

Trời ạ! Hắn bẽn lẽn, thẹn thùng, quê một cục giữa buổi trưa mùa hè San Antonio! Không thể độn thổ được, hắn lủng lẻng cười vớt vát!

– You look like my friend, xó-ri!

Những ngày không đi làm, hắn cảm thấy không khí trong nhà có vẻ ngột ngạt! Ông hàng xóm tốt bụng bên cạnh, cựu giáo sư Anh ngữ trong quân đội nay đã về hưu, thương tình lôi hai đứa em hắn đi làm lặt vặt ngày vài ba tiếng để kiếm chút tiền. Việc học hành cũng vì thế mà chả đâu vào đâu. Biết vậy nhưng ưu tiên vẫn phải là tự lo cho cuộc sống mới càng sớm càng tốt. Tụi hắn thấy thương bà già quá và cũng tội nghiệp cho thân phận của mình, muốn cố gắng nhiều hơn nữa nhưng không biết làm sao hơn.

Một hôm, bà già và John kêu anh em họp lại để thông báo “tin mừng”! Bà cho biết vì tình cảnh gia đình bà không thể giúp nổi cho ba anh em, bà rất tiếc bà đã phải liên lạc với cơ quan từ thiện USCC và họ đã tìm được người bảo trợ mới. Bà bảo cả ba anh em sẽ được một ông chủ nông trại bão lãnh. Ở đó họ hứa sẽ dạy cho hắn lái máy… cày (vâng “cày” chứ không phải “bay”); hai đứa em sẽ được dạy cuốc đất trồng khoai. Họ sẽ cấp nhà ở riêng, sẽ cho mượn một chiếc xe hơi cũ để làm phương tiện. Cuối tuần bà sẽ đưa anh em về nhà mới! Bà giảng giải là cơ hội cho ba anh em cùng đi làm một chỗ rất khó kiếm ở phố, họ lại không đòi hỏi phải nói tiếng Anh; bà khuyên anh em cố gắng làm lụng một thời gian để đời sống được ổn định rồi tính cách khác.

Không nói ra, nhưng qua bao ngày tù túng, cả ba anh em cảm thấy như sắp được giải thoát khỏi cảnh đời bất định. Dường như cả ba anh em đều không nghĩ tới những việc tụi hắn sắp phải làm. Ở với nhau mấy tháng dài, nghĩ đến ngày chia tay lòng hắn rất bùi ngùi. Hắn tỏ lòng biết ơn sâu xa đối với bà già và John đã cưu mang anh em hắn. Hắn nói hắn rất thông cảm tình cảnh của bà và cầu nguyện Chúa luôn ban ơn phước để bà sống lâu và mạnh khỏe.

Buổi chiều trôi chậm chạp với màu nắng lụa vàng, hắn thẫn thờ nhớ xót xa về một nơi chốn đã bỏ lại, về một người tưởng rồi sẽ cho hắn những đứa con bụ bẫm, xinh đẹp khi chiến tranh lắng dịu. Không biết sau cuộc đổi đời nàng đã ra sao, ở đâu, làm gì với dáng dấp tiểu thơ đài các đó”! Hắn nhớ cha mẹ anh chị em bao nhiêu, nhớ nàng bấy nhiêu. Đã nhiều đêm hắn bàng hoàng thức giấc sau những cơn mê sảng thống khổ…

Hắn đi ra võ đường dạy bữa cuối để từ giã mọi người. Guidry nói rất tiếc không đủ sức để giữ ba anh em hắn được. Hắn nói với mọi người là dù chỉ dạy và tập ở đây một thời gian ngắn nhưng hắn rất buồn khi phải quyết định rời xa; bỏ dạy võ là điều bất đắc dĩ nhưng mong rằng khi có cơ hội sẽ trở lại. Cả trường tiễn chân hắn cùng với những đôi mắt to đen láy buồn đìu hiu, cầm tay quyến luyến. Guidry trả tiền công cho hắn còn cho thêm $20 gọi là chút quà hạnh ngộ dù hắn cố tình không nhận.

Hắn đã học biết người Mỹ rất giàu lòng nhân đạo dù trong sâu kín của tâm hồn hắn vẫn trách oán đồng minh trở mặt quay lưng. Trong thâm tâm hắn nghĩ có lẽ đây là một sách lược chung của chính phủ Mỹ nhằm xoa dịu phần nào những tang tóc mà họ dự phần trách nhiệm; dường như họ cố tình đền bù những lỗi lầm của họ đã gây ra! Suốt chặng đường tỵ nạn đến nay hắn toàn gặp những con người tốt bụng, ai cũng tỏ vẻ thân thiện và sẵn lòng giúp đỡ!

Thêm trường hợp của một người tốt bụng nữa. Thay vì John và bà già đưa anh em hắn đi về miền đất hứa Pearsall, cách San Antonio gần 60 dặm đường; nhưng ông hàng xóm Johnson đã giành phần đưa anh em hắn đi.

Sáng thứ Bảy khởi hành sau khi chào từ biệt tất cả những hàng xóm của bà già. Mặc dù hắn tỏ ý không chịu nhưng ông Johnson cũng nhất định ghé chợ mua cho một bộ nồi niêu xoong chảo và những thứ cần thiết. Hắn nhân cơ hội cố tình tìm “nước mắm” vì mấy tháng rồi vẫn không chạm mặt! Hắn nói tếu với với ông Johnson là tụi hắn nhớ “nước mắm” hơn nhớ người yêu; nước mắm là thứ đồ dùng thiết thực nhất trong đời sống hàng ngày của những con người Việt Nam bơ vơ trên đất lạ.

Ông Johnson dồn hết ba mớ đồ lỉnh kỉnh và ba anh em hắn trên một chiếc xe Ford đời một ngàn chín trăm… hồi đó – Ông nói nó chạy tốt lắm đấy – vậy mà vẫn rộng chán vì “gia sản” của anh em hắn có gì đâu ngoài mớ áo quần khiêm nhượng!

Xe phóng tàng tàng trên xa lộ vắng vậy mà cũng phải mất hơn một giờ đồng hồ mới đến nơi cần đến. Gió buổi chiều lồng lộng giúp làm giảm bớt sức nóng thiêu đốt của vùng nông trại, hương đồng cỏ nội nghe sao quen thuộc! Ánh nắng chiều chênh chếch trên khu nông trại rộng thênh thang. Xa xa, vài ngôi nhà rất thưa thớt không thấy bóng dáng con người! Những đám bụi ngập trời do những chiếc máy cày rải rác thải vào khoảng mênh mông cho hắn thấy tất cả nỗi cô đơn mà hắn có thể cảm nhận được!

Nhà ở của anh em hắn là chiếc mobile home cũ kỹ, nằm giữa đồng không mông quạnh! Hắn cảm nhận ngay đây không phải là nơi ăn chốn ở của quê hương thứ hai dù hắn cố tình tìm kiếm! Nhìn hai đứa em, thấy chúng buồn đìu hiu khiến lòng hắn chùng xuống. Hắn muốn nói câu gì an ủi hai đứa nhưng cổ hắn tắt nghẹn, chỉ đập nhẹ tay trên vai hai đứa.

Hắn biết hai chú nhỏ nhớ nhà lắm, nhớ xót xa những buổi cơm mẹ nấu trong khung cảnh đầm ấm gia đình nhưng không dám thốt ra lời nói từ khi bước chân lên tàu giữa bom bay đạn lạc! Đã có nhiều đêm hắn giật mình thức giấc giữa canh thâu vì tiếng khóc thút thít trong mơ của chú em nhỏ nhất!

Người sponsor là một người Mỹ trắng khoảng độ 50 tuổi cũng vừa chạy xe tới. Ông ta bắt tay chào mừng từng người rồi dắt vào nhà. Cái trailer trông bên ngoài có phần khiêm nhượng, nhưng bên trong được dọn dẹp gọn gàng, sạch sẽ; bộ sa lông và các giường ngủ đã cũ nhưng được trưng bày trang nhã, có đầy đủ những thứ cần thiết cho cuộc đời độc thân của anh em hắn. Có lẽ họ mới sửa sang lại trước khi đem anh em hắn về.

Nhà có hai phòng ngủ, hai phòng vệ sinh, nhà bếp và phòng khách nhỏ nhắn. Ông Johnson giúp anh em hắn dọn đồ đạc cho gọn gàng, nói chuyện với chủ nhân rồi quyến luyến chào từ giã. Ông đưa số điện thoại bảo anh em hắn có cần gì gọi cho ông ấy biết. Anh em hắn bùi ngùi tiễn ông ra xe, đứng trông theo cho đến khi bóng chiều phủ trùm xuống con đường ngoằn ngoèo đơn lẻ cùng với đám bụi xám xịt mịt mờ sau xe. Mặt trời cũng khuất dần sau rừng cây xa xa, để lại những tia nắng vàng yếu ớt soi rọi vào những linh hồn lạc lõng bơ vơ! Hắn chợt cảm khái phát sinh mấy câu thơ:

Mình bơ vơ đất lạ
Truân chuyên đời tha hương
Mây về khuất bóng tà dương
Chiều nghe canh cánh nỗi buồn Chiêm dân!

Phải, hắn đang nghĩ đến những đau thương của dân Chiêm Thành mất nước khi xưa!

Ông chủ cũng chào từ giã, nói để cho anh em hắn nghỉ ngơi, sau khi sơ lược cho anh em hắn biết cuộc đời sắp tới và chỉ đường đi đến khu chợ gần nhất khoảng mươi phút lái xe. Hắn chợt nghĩ ở Mỹ dường như ở đâu cũng có người tử tế!

Cuộc đời sắp tới là cày sâu cuốc bẩm, được trả thù lao $1.90/giờ, không trả phụ trội dù ngày làm trung bình 10-12 tiếng mùa hè và 8-10 tiếng mùa đông. Anh em hắn không phải trả tiền thuê nhà kể cả các tiện nghi, được cấp cho chiếc xe pickup cũ để lái đi nông trại. Tính ra một ngày ba anh em có thể làm gần $50, tốt hơn nhiều so với tình trạng sống những tháng ngày qua.

Theo lời khuyên của bà già, cả ba anh em dự định đi làm một thời gian, cố để dành tiền cho việc học tương lai… Đáng lẽ nên vui mừng nhưng sao lòng dạ đầy u uất và buồn nao nao! Hai đứa em nằm dài trên ghế salon phòng khách rồi ngủ vùi sau những chuỗi thở dài não nuột, chắc là đang buồn ghê gớm lắm! Hắn buồn quá và cũng muốn thử chạy chiếc xe do con ông chủ đem lại khi nãy, chạy một vòng nông trại mà không biết chạy đâu. Chỗ nào có đường là cứ xông tới.

Đường sá vắng hoe, lâu lâu mới thấy vài chú Mễ vừa đi vừa nhậu vừa xỉn. Lòng hắn mênh mang buồn trên những con đường vắng.

Khi quay về trailer, thấy nhà cửa sáng rực, dường như trong nhà có đèn nào là hai chú em bật lên tất. Hai đứa đang lui cui trong bếp và mùi cơm khê tràn ngập khắp phòng! Dù sao hai chú cũng đã quen sau bao lần khê sống mấy tháng qua. Thời buổi đó đâu có nồi cơm điện, phải dùng xoong để nấu.

Hắn nói: “Bộ hai đứa không nhớ lời mẹ dạy à, đổ gạo vào, vo xong, cho nước ngang lằn chỉ ngón trỏ rồi đặt lên bếp, khi cơm sôi phải quấy đều kẻo khê, vậy mà sao cháy khét?” Hai đứa cùng nói không biết anh đâu nên quanh quẩn đi tìm quên luôn nồi cơm đang nấu! May mà không cháy nhà! Thế là ba anh em lấy đồ hộp khui ăn với bánh mì lát.

Dù bụng đói cồn cào, dù vừa ăn vừa thay nhau kể lại những món mẹ nấu nhưng cả ba đều nuốt không trôi vì quạnh vắng quá! Hắn nói đùa cho hai chú em vui: “Rất tiếc mẹ không biết chúng ta sẽ chạy tuốt qua Mỹ nên chưa kịp dạy nấu đồ ăn Mỹ”! Thay vì cười, cả ba cùng đỏ mắt!

Mấy tháng qua, hắn dạy hai chú em nấu gà… bảy món, toàn những món hắn chế biến không học theo sách vở nào hết gồm món gà kho ketchup với hành tây; cánh gà luộc chấm xì dầu… thịt bò thì mua loại cắt mỏng về chiên beefsteak, cắt miếng nhỏ làm bò lúc lắc đổ lên đĩa rau xa-lách giòn; còn thịt heo thì kho muối, xì dầu và ớt, nướng lò… xoay qua xoay lại cũng chỉ có từng ấy món vì cả ba anh em thuở Saigon vẫn cơm hàng cháo chợ từ khi từ giã mẹ để tiếp cận với đời! Giả dụ nếu có ai hỏi ăn hoài từng ấy sao không ngán; hắn sẽ hỏi lại là có còn chọn lựa nào khác hay không!

Sáng sớm ngày thứ Hai, thằng Jack, con trai ông chủ tới kéo ra đồng. Sau khi dùng xe đưa anh em hắn quan sát một vòng nông trại gần tiếng đồng hồ với những cánh đồng dưa hấu, dưa tây, hoa mầu đủ loại bạt ngàn, Jack bỏ anh em hắn với đám Mễ đang cắm cúi bê những quả dưa hấu khổng lồ. Trong đời hắn chưa từng thấy dưa hấu to lớn như ở đây bao giờ. Quả nào quả nấy to như con bê non! Có quá nhiều quả dưa phải dùng hai người lực lưỡng mới đem nó ra gần đường để xe truck đi lượm!

Vừa nắng, vừa công việc quá nặng nhọc, hai chú học trò đừ đẫn bỏ cả cơm chiều! Thêm một ngày nữa thì cả hai ngả bệnh nóng sốt. Uống thuốc cảm có đỡ hơn đôi chút nhưng không thể đi làm ngày hôm sau được! Hắn dặn hai chú em ở nhà tự lo ăn và uống thuốc, còn hắn chạy xe ra đồng!

Có lẽ thằng chủ sợ hắn cũng sẽ ngả bệnh nên bảo thằng con dạy cho hắn lái máy cày và phụ di chuyển hệ thống tưới nước. Hắn học cái gì cũng mau mắn nên thằng Jack rất bằng lòng và bắt đầu tâm tình với hắn. Hắn có dịp nói về chuyện “ngày xưa” của hắn một cách say sưa quên cả mệt nhọc.

Buổi trưa hắn chạy về ăn cơm và thăm các em, thấy hai chú nhỏ có vẽ nặng hơn, nghĩ tới được mẹ săn sóc mỗi khi tụi hắn bệnh, hắn lại nghẹn ngào thương cảm muốn rơi nước mắt! Hắn chạy ra đồng nói với thằng Jack. Jack về theo hắn, đưa hai chú nhỏ đi bác sĩ.

Sau hai ngày thì hai chú học trò mới khỏi bệnh trong khi mỗi ngày hắn vẫn phải đi làm! Trong lúc bệnh, hai chú nhỏ than chắc là không chịu nổi với cái nắng thiêu đốt của vùng nông trại! Hắn khuyên hai chú nhỏ cố gắng chịu khổ cực một thời gian ngắn, cố gắng làm để dành tiền rồi mới tính cách khác được, chứ bây giờ tứ cố vô thân, không tiền bạc, không phương tiện, không thân nhân… biết đi đâu về đâu!

Cuối tuần hắn chất ba anh em lên xe chạy lông bông và hát “phố núi cao”… dù không phải phố núi nhưng không dám chạy quá xa nên dăm mười phút lại chạy về chốn cũ… buổi chiều buổi sáng buổi trưa lòng cứ bâng khuâng!

Hai đứa em xin học lái xe. Ở giữa đồng ruộng bao la nên không sợ đụng ai, tha hồ chúng nó chạy. Chiếc xe cũng làm cho nỗi buồn lắng xuống đôi chút!

Chưa đầy một tháng sau thì anh em hắn đành giã từ ông chủ nông trại sau khi tìm được việc làm mới cho cả ba anh em. Nhà, xe đành trả lại và cám ơn tấm lòng bảo trợ của ông. Anh em hắn, theo lời chỉ dẫn của anh chàng Mễ sở thất nghiệp, thuê được một căn nhà kho nhỏ bé của một cư dân về hưu hợp với túi tiền đang có./-

 

Xem thêm...

Hãy Để Thi Ca Và Âm Nhạc Cùng Cất Cánh Bay Lên - Nguyễn Văn Lục

HÃY ĐỂ THI CA VÀ ÂM NHẠC CÙNG CẤT CÁNH BAY LÊN

GS. Nguyễn Văn Lục

******

Viết bài này, người viết bày tỏ ở đây một sự nuối tiếc là bài viết của nhà thơ Du Tử Lê về Nguyễn Tất Nhiên đã không nói lên được tính chất phối hợp đến kỳ diệu giữa thi ca và âm nhạc. Đó là điều quan trọng cần được nói tới. Thơ Nguyễn Tất Nhiên không có âm nhạc Phạm Duy thì sẽ ra sao?

Sự phối hợp ở hai lãnh vực nghệ thuật này khi cộng sinh đôi khi trở thành những bài ca khó quên, thấm vào lòng người.

thicavaamnhac
Thật vậy, những bài thi ca đượm chất triết lý Thiền của Phạm Thiên Thư cộng với âm thanh tài hoa của Phạm Duy biến cho cuộc gặp gỡ văn học ấy như núi gặp mây.

Những dòng thơ chắt lọc trong Đạo ca được gửi gấm trong dòng nhạc của Phạm Duy biến thành chất ngọc không còn vực bờ hữu hạn, xóa bỏ tất cả ngã và phi ngã, xóa bỏ ngoại vật. Không gian như mở rộng ra đến cõi vô hạn, bay bổng..

Xưa em làm kiếp ao, ưu tư mùa cuối Hạ.
Anh làm chim bói cá, đậu soi mấy mùa trăng.
Xưa em làm chữ biếc, nằm giữa lòng cuốn kinh
Anh là thiền sư buồn, ngồi tụng dưới ánh trăng…

(Đạo ca 1, Pháp Thân, Phạm Thiên Thư)

Sự nuối tiếc ấy buộc người viết đi lại từ đầu câu chuyện như sau.

Trong dịp đầu năm, tờ Người Việt California có cho đăng một bài “tản mạn văn học” của tác giả Du Tử Lê viết về nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên. Câu chuyện ông Du Tử Lê kể lại không có mục đích đánh giá thơ Nguyễn Tất Nhiên, cũng không nói lên được thơ và nhạc đã phối hợp với nhau thế nào, càng không có dụng tâm viết một bài phê bình văn học.

Thời điểm mà theo tôi đánh dấu sự an nguy mất còn của miền Nam. Ông chỉ muốn kể lại một mảnh vụn văn chương, một câu chuyện “đời thường” giữa hai nhà thơ về những chuyện rất bên lề của văn chương trong đó ông cho rằng, ông chính là người đặt tên hiệu Nguyễn Tất Nhiên cho một nhà thơ trẻ mới tập tễnh bước vào nghề.

Chẳng biết trí nhớ ông còn đủ tốt hay không để viết lại chính xác một “giai thoại văn chương” như thế? Câu chuyện thật hư ra sao thế nào? Những người liên hệ như Minh Thủy, nhà văn Nguyễn Đạt Thịnh đã lên tiếng phản bác cho là Du Tử Lê viết bịa đặt. Vì vậy, bài báo đã gây nhiều tiếng vang ồn ào bất lợi cho ông.

Nhưng xét nội dung, đó chỉ là một bài viết đọc cho vui, đọc qua rồi bỏ cũng được. Nó không có liên quan đích thực đến thực trạng nền văn học thời điểm 1970. Một thời điểm mà những người từng có uy tín nhất trong lãnh vực thi ca – ca ngợi tình yêu – một thời như nhà thơ Nguyên Sa đã viết bài, “Hãy Rời Bỏ Nền Văn Chương Trú Ẩn”.

Thơ Nguyên Sa bây giờ không còn là thơ tình nữa:
 
Không nói tao sợ mày phiền
Nói ra với rượu tao buồn gấp hai
Em mày đi lấy chồng rồi
Gặp tao ngoài ngõ ngậm ngùi nhìn nhau
Tao nhìn tao thấy mày đau
Nó nhìn nó thấy trong tao có mày
 
Lời cảnh cáo của Nguyên Sa ở trên nói lên thực trạng đất nước không cho phép những nhà văn, nhà thơ, nhà trí thức tiếp tục ngủ quên và tiếp tục ru ngủ mình và người đọc. Sự lãnh đạm và thờ ơ trước thời cuộc là một thái độ thiếu trách nhiệm của người cầm bút?

 
Thơ của Du Tử Lê cũng như thơ của Nguyễn Tất Nhiên là những hoa trái sinh trái mùa
 
Đã có lần tôi viết phê bình nhà văn Mai Thảo, “Mai Thảo 1954 cũng vẫn là Mai Thảo 1963 và không khác gì Mai thảo 1970 và 1975. Mai Thảo vẫn thế. Vẫn là thứ văn chương phòng trà, văn nghệ sa lông, suy tư bên tách cà phê tiệm nhảy… dửng dưng trước tiếng bom đạn, chết chóc.”

Tôi không trách móc văn chương Mai Thảo hay hay dở mà tôi trách móc vai trò nhà văn đã bị lãng quên.

Một nhà văn với tư cách nhân chứng thời đại không thể có thái độ bàng quan, đứng ngoài cuộc như thế được. Nó phản bội lại chính vai trò nhà văn của mình.

Nghĩ như thế rồi, tôi nhận thấy Du Tử Lê hay Nguyễn Tất Nhiên đều đi theo lối mòn của Mai Thảo. Vẫn làm thơ tình. Vẫn mơ mộng, vẫn dằn vặt, vẫn đau khổ, vẫn ca ngợi tình yêu, vẫn những chuyện tình cỏn con mà lại muốn đưa lên cao, đi ra biển lớn.

Tôi không dám nói đến giá trị hay dở, có thể thơ ấy rất hay ở một thời điểm nào khác. Có thể không thiếu người mê thích. Nhưng những thơ ấy không thích hợp ở thời điểm năm 1970 được. Nó sinh lầm thời đại. Đứng trước khổ dau mất mát, trước chết chóc bom đạn gần kề, trước nước mắt mẹ già, nước mắt trẻ thơ và nước mắt người vợ trẻ mất chồng mỗi ngày.

Thơ ấy trở thành lạc điệu, mỉa mai nếu so với những dòng thơ tôi trích dẫn sau đây.

Thơ hôm nay là những vần thơ oằn oại nước mắt.

Thơ Tô Đình Sự làm trước khi chết “Thân Tín Đời”
 
Đầy trước mắt chia lìa chất ngất
Đứa quân trường, đứa lính chiến một năm
Đứa lơ ngơ những ngày chờ chết
Đứa vinh thăng dĩ vãng đâu màng
Đồi Gia Hựu dài cơn đồng thiếp
Thăm hỏi nhau mày còn mạnh giỏi
Còn nguyên lành thân xác phàm phu
Bao giờ giải ngũ, bao giờ có phép
Lúc nào vào lính nhớ cho tao biết
Vợ con mày mấy đứa ra sao
Lũ tình nhân còn đầy nhân ngãi
Bạn bè đứa nào còn đứa nào đã khuất
Nơi tao ở rừng cao tiếp núi
Súng lăm le như cái chết dõi đêm chừng
Chợt sáng sớm biết mình sống sót…
 
Và bài thơ của Phạm Nhã Dự, “Buổi Chiều Ở Nghĩa Trang Cà Đú” khóc Tô Đình Sự:

Trở lại Phan Rang lần này nữa
Thăm mày không biết ngắn hay lâu
Thăm mày đù má mày đã chết
Hay chỉ thăm cỏ mọc xanh mầu ..
Chiều này sao gió nhiều mày nhỉ
Gió nổi trong tao đến lạnh mình
Đù má nhang mày sao chẳng cháy
Đốt mãi que diêm đến cạn cùng
Bên kia dãy núi trơ thân chó
Cỏ dưới dân tao lại sụt sùi
Mẹ kiếp vợ mày đang khóc mướt
Con mày, trời hỡi nó cười vui
Còn tao, tao chẳng cười chẳng khóc
Chẳng ngậm ngùi chi lũ kiếp người
Đù má, tao chửi thề đây Sự
Chửi suốt trăn năm, chửi hết đời
Bây giờ mày đã nằm yên phận
Còn vợ, bào thai ba đứa con
Đù má một đời làm thi sĩ
Chẳng đủ cho con lấy một đồng
Tụi mình dăm đứa đời lang bạt
Sống chẳng ra chi chẳng bận lòng..(…)
 
Tất cả các bài thơ được trích dẫn trong bài “Kỷ Niệm Mười Năm Của Báo Đi Tới” của tác giả NVL, trang 21, số 69-70, tháng 5-6.

Linh Phương trong bài Kỷ Vật Cho Em được Phạm Duy phổ nhạc đã kể trong bài thơ Hành Quân:
 
Dăm thằng đánh trận. Dăm thằng chết
Chỉ sống mình ta cứ sống nhăn
Đù má, nhiều khi buồn hết biết.
Lo mãi sau này cụt mất chân

Và bài thơ Đêm Giáng Sinh, khát vọng hòa bình trong một ngày ngưng bắn của Hồ Minh Dũng:

Dù chỉ một ngày ngưng bắn đó con
Cũng đem chiếc áo lành ra mặc
Cũng ăn một bữa cơm cho no
Cũng ngủ một giấc trên giường trên chiếu
Khổ đau lúc này mẹ gói trong mo

Và một bài thơ khác “Căn Bệnh Trong Thời Chiến Này”, Nguyễn Bắc Sơn nói về mẹ :

Mày gửi một chân ngoài trận mạc
Mang về cho mẹ một bàn chân
Mẹ già khóc đến mù hai mắt
Đời tàn theo lứa tuổi thanh xuân
 
Và Nguyễn Dương Quang trong bài Đêm Cuối Năm Viết Cho Má:

Hình như có súng con lạ lắm
Sao nó run lên khi đạn lên nòng
Tâm hồn nó như tâm hồn con vậy
Một kẻ nằm, kẻ đứng xót xa không?
 
Bùi Khiết trong bài Tiễn Đưa
 
Sân ga đầy người
Nhìn em không nói
Anh nắm tay em
Anh muốn hôn em
Một năm cách trở
Anh về núi rừng
Em qua xứ lạ
Lòng buồn rưng rưng
Sao em không nói
Sao em không hôn
Trời làm xa cách
Mây vương đầy hồn
 
Thơ Bùi Nghi Trang Từ Trong Rừng
 
Ta cám ơn những người yêu thương ta tha thiết
Lo cho mạng sống của ta
Tìm sổ số ta trên Thiên Đình
Xem từng vì sao xấu tốt
Lo cho gia đình ta không thua thiệt
Dạy cho vợ ta không mặc quần pát, không mặc mi-ni
Dạy cho con ta không để tóc dài không mang hoa hippi
Ta cám ơn cha mẹ, những thầy những cô muôn thuở
Ngày nào đó ta trả súng ta về
Ta sẽ xin lạy tạ
Lời cuối cùng ta cám ơn tất cả
Cám ơn cuộc đời
Mang hớn hở trên vai…
 
Tất cả những bài thơ trích dẫn ở trên từ thơ Linh Phương, tôi rút ra từ tuyển tập Thơ Miền Nam Trong Thời Chiến, sưu tập sáng tác của 263 nhà thơ miền Nam trong thời chiến do anh Trần Hoài Thư sưu tập.

Hầu hết những nhà thơ viết về chiến tranh ở trên đều không có dịp đăng thơ của mình, đều trở thành vô danh, không có tên, không có tuổi hoặc đã không còn ở chốn dương gian này như trường hợp Tô Đình Sự, hoặc sống cuộc đời phế vật ở quê nhà.

Xin cám ơn tấm lòng của nhà văn Trần Hoài Thư đã thu tập tất cả 265 nhà thơ với thơ văn của họ tản mác khắp nơi thành tuyển tập.

Nếu thơ hôm nay là thứ “văn chương dấn thân, nhập cuộc” thì bên cạnh đó cò một thứ văn chương trái chiều ở thành phố với những tình cảm đậm đặc, có những cảm giác, có ham muốn, có đòi hỏi, có da có thịt, có để vào, có khoái lạc.

Đó là thứ văn chương “nổi loạn” trước phi lý, trước chết chóc của chiến tranh, của thời thế qua văn phong của một số nhà văn nữ.

Tôi không thấy được những trình bày các xu hướng, các biểu hiện văn học trong những giai đoạn ấy trong bài viết của Du Tử Lê.

Ông vẫn viết như kẻ đứng ngoài cuộc, thản nhiên và vô tình, kênh khiệu, khệnh khạng.

Vì thế, đọc xong bài viết của ông Du Tử Lê, tôi có cảm tưởng ông có đôi chút tự mãn dư thừa rất đời thường ở trong giai đoạn ấy trong vai trò “đàn anh văn nghệ”, ở thành phố xa bom đạn và coi nhẹ đến dễ dãi đối với việc sáng tác thơ văn nói chung.

Ông thiếu một ý thức sáng tác trong văn học, ở một thời điểm nhất định. Viết để làm gì? Viết cho ai? Tại sao viết? Có thể không bào giờ trong suốt cuộc đời làm thơ tình ông chưa hề có dịp để tự hỏi mình.

Cái vision về sứ mạng văn chương không có, cái trách nhiệm đối với “mầm non” bằng lòng với mấy bài thơ tình thì coi như đã trọn vẹn cho một một sự nghiệp văn học.

Cái không lớn, không cao lên được, không có tầm mức vươn lên trong văn học của một số nhà văn, nhà thơ bằt đầu từ một quan điểm sáng tác thấp và sự tự mãn đã kéo thấp sinh hoạt văn học miền Nam xuống một bực.

Vì thế, những nhà văn nhà thơ ấy phần đông không đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của giới người đọc nên mới nảy sinh ra hiện tượng sách dịch ngoại quốc tràn lan ra tiếng Việt trong thời kỳ này.

Thật vậy, nay thì có đến 70% sách dịch ngoại quốc chiếm thị phần sách xuất bản trong nước thay thế chỗ sách văn học sáng tác.

Các nhà văn như Mai Thảo trở thành những người viết chuyện feuilleton kiếm sống qua ngày.

Hiện tượng sách dịch đủ loại tố cáo sự “nghèo nàn” “vẫn như thế” của một số nhà văn nhà thơ.

Phong cách làm văn học ấy cũng đẩy đưa tới hệ quả là thiếu những phê bình văn học nghiêm chỉnh trong văn học.

Sứ mệnh văn chương, nghệ thuật là hướng đi lên, một sự tư vượt trội ngay cả chính mình ở tầm cao đôi khi là một thải lọc cố ý (sélection intentionnelle) khắc nghiệt giúp cho văn học, nghệ thuật vươn lên từ nơi đối tác sáng tác và kẻ thưởng ngoạn.

Chúng ta thiếu cái hướng vươn lên cao theo chức năng đòi hỏi của tác phẩm nghệ thuật.

Cho nên sự “dễ dãi” trong văn học là điều tệ hại nhất. Chính vì thế, mặc dầu cuộc chiến tàn bạo đến như thế, chúng ta không có mấy tác phẩm về chiến tranh sánh tầm.

Một cách thức gây scandal không cần thiết
 
Nói cho công bằng, khi viết bài này, Du Tử Lê muốn cho mọi người thấy rằng thơ Nguyễn Tất Nhiên dưới mắt ông và Trần Phong Giao chỉ là “thơ học trò” nên Trần Phong Giao hồi đó nhất định không đăng trên báo Văn. Trần Phong Giao không nói nhận xét của ông cho độc giả mà cũng không nói trực tiếp với nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên. Sự nhận xét của Trần Phong Giao có thể là cảm quan đứng đắn, mặc dầu rough của một chủ bút chuyên nghiệp trước hằng trăm những bài thơ, đủ loại, đủ mức độ hay dở được gửi tới tòa soạn mỗi tháng, “Mày đừng đưa thơ thằng này cho tao nữa. Thơ của nó không thích hợp với báo Văn.”
 
Nhưng chuyện riêng mà nay trở thành chuyện công khai thì sẽ có người đọc bị sốc bởi vì không định vị câu nói giữa hai người bạn về một người thứ ba. Rõ ràng Trần Phong Giao không nói cho độc giả – những người bây giờ có thể yêu mến thơ Nguyễn Tất Nhiên. Nó chẳng khác gì một thứ tiết lộ cố ý như một thứ nghe lén bị công khai hóa.

Khi có sự công khai hóa thì câu chuyện trở thành những lời bàn tán dân gian mất tính nghiêm chỉnh cũng như tính chất văn học, đi ra khỏi cái context của câu chuyện giữa Trần Phong Giao và Du Tử Lê cách nay mấy chục năm.

Thơ Nguyễn Tất Nhiên có thể là thơ học trò. Nhưng dầu gì thì nay nhà thơ cũng có một tên tuổi.

Nhận xét như thế là đụng chạm tới một tên tuổi và nó trở thành một scandal bôi nhọ một nhà thơ. Độc giả, đám đông bám lấy câu nói đó như thể mới nói và phản ứng tức thời.

Tiếp đến sau đó Du Tử Lê năn nỉ với Phạm Duy cho phổ nhạc, nhờ đó Nguyễn Tất Nhiên trở thành “nổi tiếng”!

Bài viết có một đôi điều làm người đọc hiểu là ông coi thường thơ văn của Nguyễn Tất Nhiên.

Thế rồi có phản ứng.

Người phản ứng đầu tiên là Nguyễn Thị Minh Thủy, vợ cũ của Nguyễn Tất Nhiên, lên tiếng. Minh Thủy đọc bài này thấy Du Tử Lê viết sai, xúc phạm đến Nguyễn Tất Nhiên nên viết thư lên tiếng và cho rằng tên Nguyễn Tất Nhiên đã được chính thức trong tập thơ Thiên Tai của tác giả, in năm 1970..

Tôi không muốn đi vào các chi tiết và cũng chẳng muốn “sa lầy” vào những vòng tranh cãi sau đó, bởi vì những ý kiến đóng góp sau đó cũng rất xa với lãnh vực văn học.

Tôi chỉ muốn dùng câu chuyện Du Tử Lê–Nguyễn Tất Nhiên để mọi người cùng nhìn văn học trong một số thực tiễn Văn học qua một số nhà văn, nhà thơ Việt Nam để thấy được tính cách khắt khe, cay nghiệt và phũ phàng của Văn chương Nghệ thuật, đồng thời cho thấy thi ca đòi hỏi một tầm cao mà không dễ mấy ai đạt được!

Thi ca và nghệ thuật, một ranh giới khó vượt ♦

Du Tử Lê đã diễn tả trung thực sinh hoạt văn học là như thế. Nó không có cánh cửa mở rộng thênh thang cho bất cứ ai muốn vào. Nó phải qua nhiều của ải. Nhất là đối với những nhà văn, nhà thơ trẻ.

Cho dù bây giờ có một số người đọc yêu thích thơ Nguyễn Tất Nhiên thì không có nghĩa là thơ của Tất Nhiên được các chủ bút hân hoan đón nhận. Họ thích là quyền của họ. Nhưng đây là luật chơi phải chấp nhận.

Bởi vì ở phạm trù văn học, ranh giới thi ca được đặt ở một vị trí cao nhất trong nghệ thuật nói chung. Giữa nghệ thuật và phi nghệ thuật, ranh giới có khi chỉ cách nhau một đường chỉ mỏng manh. Nhưng lại là đường chỉ của một chân trời, đi mãi đi hoài cũng không tới.

Thơ tình của Nguyên Sa là tuyệt. Người ta có thể bắt chước cũng từ đó, cũng vần điệu đó, cũng văn ảnh đó. Nó vẫn có chút gì đó không phải Nguyên Sa. Cái chút gì đó chính là nghệ thuật và phi nghệ thuật.

Thi ca bằng cách nào đó nó được coi là nghệ thuật của mọi nghệ thuật. Bởi vì thi ca là thứ ngôn ngử “đặc sủng” nhờ đó thi sĩ cảm nhận được với đất trời, cảm nhận được cái “thần khi” của con người và thiên nhiên, nhận ra những giao cản thiên nhiên – con người, nắm bắt được thời gian tính với cái hữu hạn, vô hạn, nắm bắt được những khoảnh khắc hiếm hoi đã đi qua trong đời người, nắm bắt được cái bao la vô cùng lớn và vô cùng nhỏ của vũ trụ quanh ta, nắm bắt được cái chiều sâu thẳm của bản ngã người, nắm bắt được cái phức hợp, cái cao cả cũng như cái thấp hèn của cuộc nhân sinh.

Nói cho cùng thi ca là một sáng tạo đòi hỏi cao. Không có chỗ cho thi ca tầm thường. Thi ca ấy đã được chứng tỏ trong tác phẩm vĩ đại như Đoạn Trường Tân Thanh và Chinh Phụ Ngâm và một số không nhỏ nơi một số nhà thơ.

Chẳng hạn, như vào một lúc nào đó, Nguyễn Tất Nhiên cũng cảm nhận được cái hữu hạn của cuộc đời, của con người qua những câu thơ sau đây:

Ngày sắp hết, năm sắp hết
Thời gian nào cho bốn mắt ta xanh?
Thời gian nào đưa ta về địa ngục?
(những kẻ yêu nhau chẳng có thiên đàng)
 
Trích thơ Nguyễn Tất Nhiên, Như Những Hoàng Hôn Bỏ Mặt Trời
 
Con người trong cõi nhân gian, trầm luân và chuyển kiếp luân hồi lúc ta là người lúc là bướm như trong thi ca của thi sĩ Bùi Giáng, “Trước Là Thi Sĩ Sau Là Đười Ươi.”
 
Và cũng một lẽ ấy, người ta bắt gặp trong thi ca thi ca Holderlin bắt chợt được ánh sáng hiện ra giữa những con đường u uẩn, tối tăm của cuộc đời bạc mệnh.

Thơ trở thành sức sống, là cuộc đời tác giả.

“Je laisse mes regards souvent monter jusqu’à l’Ether et plonger jusqu’au fond de la mer sacrée”.

Trích 1ère Part. ier tiv tet. Hypérion à Bellarmin.

Lạc lõng trong khoảng trời xanh bao la, tôi thường phóng xa tầm mắt lên tới “Thanh Khí” và xuống sâu tận đáy biển thẳm.

Sự đòi hỏi của thi ca là cao lắm, đến tuyệt đối, thứ ngôn ngữ “vô ngôn” ngôn ngữ không lời, uyên nguyên tinh ròng, thứ ngôn ngữ như thể lần đầu được nói tới, thứ ngôn ngữ sáng tạo, tại ý.

Sự đòi hỏi của thi ca càng cao thì giá trị nhà thơ càng cao.
 
Đôi lời
 
Nếu hiểu sứ mệnh thi ca như thế, con đường của những nhà thơ như Nguyễn Tất Nhiên đi chưa tới và làm thế nào để có thể có chỗ đứng dễ dàng trong văn học khi có tập thơ đầu tay? Thiên tài là không có. Chỗ đứng trong văn học chắc cũng không. Chỉ còn lại đôi chút quý mến của một số người đọc, bạn bè cũng là quý lắm rồi.

Ông không phải là người đầu tiên làm thơ cũng không phải người cuối cùng. Hàng ngàn nhà thơ đã làm hàng vạn bài thơ nay phỏng được bao nhiêu người? Nguyên Sa có môt tập thơ Những Năm Sáu Mươi, do nhà Trình Bày xuất bản. Trong phần bài tựa ông viết, “Nhà nước là một nhân vật buồn cười…” hay câu “chính trị là một động vật được đào luyện như thế…” khi bài thơ “Điệu Buồn Cho Charlie” của ông bị Bộ Thông Tin kiểm duyệt, không cho in. Nay mấy người còn biết đến những câu thơ của một “Nguyên Sa khác”.
 
Em Nhìn Coi
 
Mùa xuân đã trôi qua
Mùa hạ đã trôi qua
Mùa thu đã trôi qua
Bây giờ là mùa đông
Mùa đông ở trên vai
Mùa đông trên thành phố
Lá chết ở trên cành
Cành chết ở trên cây
Cây chết ở trên đường
Thành phố
Phải thành phố đó
Tàhnh phố chiến xa và đại bác
Thành phố trống vắng.
 
Hay bài Cắt Tóc Ăn Tết
 
Cắt cho ta, hãy cắt cho ta
Cắt cho ta sợi dài
Cắt cho ta sợi ngắn
Cắt cái sợi ăn gian
Cắt cái sợi nói dối
Sợi ăn cắp trên đầu
Sợi vu oan dưới gáy
Sợi bè phái đâm ngang
Sợi ghen tuông đứng dọc
Sợi xích chiến xa, sợi dây thòng lọng
Sợi hưu chiến mỏng manh, sợi hận thù buộc chặt
Sợi nấp trong hầm
Sợi ngồi trong hố
Sợi đau xót như giây dù chẳng mở
Sợi treo cổ tình yêu, sợi trói tay hy vọng
Cắt cho ta, (…)
Hãy cắt tóc
Hẵy cắt tóc và nhìn
Mặt quê hương đổi mới.
 
Trích thơ Những Năm Sáu Mươi, Nguyên Sa, Trình Bày. Sách gồm 63 bài thơ, bị kiểm duyệt nên chỉ có bản photocopy.

Hơn 30 chục năm ở Hải ngoại, nắm trong lòng bàn tay được bao nhiêu nhà thơ nổi tiếng? Tôi chỉ cầu được vài người cũng là quý rồi.

Vai trò các “thẩm phán quan văn nghệ” trong các báo Văn Học
 
Phải nói thẳng là những tờ báo có uy tín như Sáng Tạo khó có người “lạ” lọt vô được tờ báo để đăng thơ đăng bài.Trước sau Sáng Tạo gồm có Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Sỹ Tế, Thái Tuấn, Tạ Ty, Cung Trầm Tưởng, Tô Thùy Yên, Quách Thoại, Nguyễn Văn Trung, Hoàng Thái Linh, Trần Thanh Hiệp. Sau này có thêm Thảo Trưởng. Chỗ nào cho những nhà thơ khác có thể có mặt trên Sáng Tạo khi Sáng Tạo đã có thứ “Thơ Tự Do”, “Thơ Hôm nay” của Thanh Tâm Tuyền, Quách Thoại?

Phải khiêm tốn mà nhìn nhận như vậy.

Tờ Hiện Đại cũng vậy, ngoài những khuôn mặt quen thuộc như Mặc Đỗ, Mặc Thu, Đình Hùng, Hoàng Anh Tuấn, Doãn Quốc Sỹ, Tạ Tỵ, Thanh Nam, Lưu Trung Khảo, Trịnh Viết Thành, Hoàng Anh Tuấn, Thái Thủy, Nguyễn Duy Diễn, Tô Kiều Ngân, Đinh Hùng, Hoàng Hải Thủy. Họ đều là bạn bè “lâu đời” của Nguyên Sa mà phần đông là các nhà giáo hơặc bạn bè thời du học bên Tây.

Họa hiếm có hai người lọt được vào tờ Hiện Đại là nhà thơ Sao Trân Rừng và Trần Thy Nhã Ca.

Tờ Trình Bày, Đất Nước ở một dạng khác, ít chú trọng tới thơ văn sáng tác. Nhưng chú trọng tới khuynh hướng chính trị với phần lớn những nhà văn trí thức trẻ cùng chí hướng như Ngụy Ngữ, Nguyễn Quốc Thái, Tôn Thất Lập, Trần Tuấn Nhậm, Nguyễn Ước, Võ Hồng Ngự, Nguyễn Khắc Ngữ, Nguyễn Đa, Nguyễn Đồng, Thái Ngọc San, Hoàng Ngọc Nguyên, Huỳnh Ngọc Sơn, Trần Hoài Thư, Trần Đông Phương, Chu Vương Miện, Mường Mán, Thế Vũ, Cao Thanh Tùng, Nguyễn Sa Mạc, Nguyễn Đăng Thường.

Chỗ của thi ca thật là hiếm hoi. Và nếu có thơ thì đó là thứ thơ đầy lửa đấu tranh hoặc khát vọng hòa bình.

Tờ Bách Khoa thì tiếp đón rộng rãi hơn đủ loại nhà văn: già trẻ có, khuynh hướng chính trị từ tả sang hữu, sử gia có. Các bài về triết học có, ngôn ngữ học có, kinh tế, chính trị có. Có thể nói đến một nừa số nhà văn ở miền Nam cộng tác với Bách Khoa. Rất nhiều nhà văn ở thế hệ thứ hai xuất thân từ Bách Khoa.

Xin xem thêm đầy đủ hai bài viết của người viết bài này: Những Người Cộng Tác Với Bách Khoa và bài Từ Huỳnh Văn Lang Đến Lê Ngộ Châu.

Một nhà văn có mặt ở các báo chí trên kể như có chỗ đứng trên văn đàn văn học.

Vì thế, phần lớn các nhà thơ trẻ chưa nổi danh chỉ có một lối thoát là tự in, tự ấn hành, tự trao đổi với nhau, tự nhìn nhận nhau.

Hiếm hoi mới có nhà thơ, nhà văn được nhìn nhận, nghĩa là có tên chính thức trên các báo văn học.

Sự chọn lọc các nhà thơ, nhà văn trẻ do một số nhà văn lão thành ở thời điểm từ 1954-1975 như sau:

Tờ Bách Khoa có Võ Phiến, Nguyễn Ngu Ý, Nguyễn Hiến Lê và nhất là Lê Ngộ Châu.

Tờ Sáng Tạo có Mai Thảo và sau này ở tờ Văn.

Tờ Văn do Trần Phong Giao.

Tờ Hiện Đại do Nguyên Sa Trần Bích Lan.

Tờ báo Sống do Chu Tử.

Tờ Trình Bày, Đất Nước do Thế Nguyên, Nguyễn Văn Trung.

Thử hỏi một số nhà văn ở thế hệ thứ hai làm thế nào để có chỗ trên chiếu Văn Học? Nhã Ca, Trần Dạ từ, Nguyễn Mộng Giác, Túy Hồng có mặt vào lúc nảo, ở đâu?

Những “cây cổ thụ” trong Văn Học, những chủ bút, nhà báo, những nhân sĩ trí thức ấy uy tín của họ lớn lắm, ảnh hưởng tơi sinh hoạt văn học toàn miền Nam.

Sự nổi tiếng của nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên ở tuổi 18, hai mươi cho dù có văn tài thực sự đi nữa cũng là điều hiếm hoi có một không hai nếu không nhờ vào tính “xông xáo” thi sĩ và sự giơ tay ra của Du Tử Lê.

Và cho dù thơ của thi sĩ đã được Phạm Duy phổ nhạc, thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên cũng không thể len lỏi vào các tờ báo Văn học ở miền Nam lúc bấy giờ.

Vì thế, sự phê phán về thơ Nguyễn Tất Nhiên, xin đặt vào bối cảnh 1970 để có thể hiểu được những phát biểu của Trần Phong Giao nay đã không còn nữa. Đúng sai chỉ có Du Tử Lê và Trần Phong Giao biết, nay một người sống, một người đã chết.

Ngoài ra, đừng quên rằng, với luật đào thải, có vô số các nhà văn nhà thơ dù đã có tiếng tăm một thời vẫn có thể bị rơi vào quên lãng, hoặc xuất hiện họa hiếm, hoặc loại hẳn ra bên lề sinh hoạt văn học một cách này cách khác một cách không thương tiếc.

Vì thế, thơ của Nguyễn Tất Nhiên chắc hẳn không phải là thứ thơ có thể đi vào bất tử. Những người còn lại hôm nay, bạn bè quen biết cứ dành những tình cảm tốt đẹp cho thơ ông đi, nhưng rồi ra sau đó thời gian sẽ xóa nhòa tất cả.

Tiêu biểu nhất là nhà văn Nhất Linh, nổi tiếng của cả một thời. Các nhà văn khác, các độc giả vẫn quý mến, trân trọng, nhưng số người không đọc ông càng ngày càng nhiều.

Cũng đừng quên còn vô số nhà văn khác cũng rơi vào hoàn cảnh tương tự. Chẳng hạn Tchya Đái Đức Tuấn, tự Mai Nguyệt, viết phiếm cho Chính Luận một thời. Cụ Á Nam Trần Tuấn Khải, Phú Đức, Vi Huyễn Đắc, Đông Xuyên, Hoàng Khanh, Thạch Hà, Thế Viên, Hợp Phố [theo cộng sản], Thẩm Thệ Hà, Đông Hồ, Tam Lang, Quách Tấn, Thiên Giang, Vũ Bằng, Phạm Văn Hạnh, Vân Trang, Nguyễn Đức Quỳnh, Lê Văn Siêu, Bàng Bá Lân, Mộng Tuyêt, Phạm Cao Củng, kiêm Minh và nhất là Lê Văn Trương.

Lê Văn Trương, Tác giả của 255 cuốn chuyện dài. Và vào cái thời 1935-1940, thiên hạ “mê Lê Văn Trương như điếu đổ”.

Thế giá văn học “NGƯỜI HÙNG” như Lê Văn Trương đến một lúc nào đó vẫn có thể bị đào thải và xin đọc đôi dòng trích dẫn sau đây để thương cho số kiếp nhà văn.

“Vậy mà lúc chết không có đồng xu dính túi. Chết nằm nhà thương Chợ Rẫy, tiền giường 160 đồng/ngày. Trước khi vào nhà thương bán nhà lấy tiền đặt cọc 10 ngàn đồng mới khỏi phải phải nằm giường thí. Hội Văn bút với Thanh Lãng, Nguyễn Văn Trung, Vi Huyễn Đắc phải quyên tiền giúp anh mỗi người một tay. Trần Tuấn Kiệt thay mặt chủ báo Nguyễn Vỹ giúp 500 đồng. Thi sĩ Nguyễn Hữu Túy giúp 300 đồng, Nguyễn Đắc Lộc 700 đồng. Lúc chết nợ hàng xóm 5000 đồng mà không ai nỡ đòi”.

Tóm tắt bài “Vài Kỷ Niệm Về Lê Văn Trương” của Nguyễn Ngu Ý, đăng trên Bách Khoa, CLXXIV, ngày 27 tháng 2, 1964.

Viết phần này để thấy số phận cay nghiệt dành cho các nhà văn như thế nào và đừng quá chủ quan trong đánh giá nhà thơ này, nhà thơ kia.

Người đọc nên hiểu sinh hoạt văn học với luật đào thải tự nhiên để thấy rằng may lắm thì một nhà văn, nhà thơ có một thời. Họ có tiếng tăm một thời. Nay không còn là những nhà văn tiêu biểu nữa. Ai có thể so sánh được với Nhất Linh, với Mai Thảo?

Số phận dành cho thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên cũng là số phận dành cho nhiều nhà thơ nổi tiếng khác
 
Hình như bệnh tật đi đôi với tài năng, ngay cả trường hợp đối với những người mất trí. Theo những thí nghiệm bệnh lý học, người bệnh trí nhìn vũ trụ như tan vỡ và bị tán vụn. Chính vì thân thể của họ không còn là một thân thể tri giác bình thường.

Nghĩa là có một vũ trụ của tri giác bình thường. Nhưng cũng có một vũ trụ dành cho người mất trí với nhãn quan khác thường.

Chẳng hạn Holderlin điên loạn ròng rã 40 năm và ông đã để lại hơn 200 bài thơ và nhiều bài ca.

Chúng ta thử xem Holderline đã cảm nghiệm, cảm xúc thế nào về vũ trụ trước mắt ông? Dĩ nhiên, cảm xúc này không thể giống cảm xúc của người có tâm trí bình thường. Trong bức thư gửi cho Neuffer, người bạn của ông [12.11.1798], Holderlin đã phác họa một trong những giờ phút đặc biệt cảm hứng thơ của ông bằng những dòng sau đây:

“Cái gì là hồn sống trong thơ chính là mối băn khoăn lớn của tâm hồn và tinh thần của tôi lúc này. Tôi cảm thấy một cách sâu xa rằng: tôi còn rất xa với lý tưởng cao cả đó. Nhưng cả con người tôi phấn đấu để đạt tới đích đó. Nhiều khi tôi cảm xúc, xáo động đến nỗi phải khóc như một đứa trẻ nhỏ. Than ôi, Từ khi còn xuân xanh, tôi đã cảm thấy vũ trũ, như đe dọa tâm thần tôi và khép kín trước mắt tôi. “.

Trích Thiên nhiên trong thi ca Holderlin của Hoàng Châu Thanh, Thế Kỷ 20, số 1, từ trang 54-đến 61

Đặc biệt các nhà thơ tài danh thường mang bệnh hoạn và mệnh yểu. Phải chăng chính cái không bình thường ấy tạo nên danh phận nhà thơ?

‒ Nguyễn Nhược Pháp,1914-1938, con của văn hào Nguyễn Văn Vĩnh. Nguyễn Nhược Pháp qua đời vì bệnh thương hàn ngày 19-11-1938, để lại cho đời dăm bài thơ và chết yểu. Như bài Tay ngà, Chùa Hương trong tập Ngày xưa. Tân Fong Hiệp trong một bài viết đăng trên Bách Khoa gọi ông là nhà thơ dề thương. Mà ông dễ thương thật như bài Chùa Hương.

‒ Quách Thoại. Người viết xin trích dẫn là bài viết của Lý Hoàng Phong, anh ruột của Quách Thoại mà may mắn người viết còn sưu tập được. Bài viết cũng được đăng trên Thế kỷ 20 của Nguyễn Khắc Hoạch. Người viết muốn giới thiệu đặc biệt về nhà thơ này mà phần đông bạn đọc bây giờ đã không được biết đến tên tuổi. Quách Thoại sống giữa thời loạn ở thành phố Huế nghẹt thở, tù hãm giữa những chém giết, hãm hiếp, ám sát, tù đầy. Cuộc đời ông bỗng nhiên biến thành những ngõ hẻm bế tắc mà mỗi người phải lựa chọn lấy một nhãn hiệu khoác vào mình : Quốcg gia, cộng sản, thành phần thứ ba. Lớn lên Thoại sa lầy vào con đường mất lý tưởng, mất phương hướng vì tự thấy có lựa chọn nạo rồi đi vào con đường trụy lạc nơi những tiệm hút. Thoại bỏ Huế vài Sài Gòn và như một phép lạ, Thoại tìm thấy được cuộc đời, sự thật, niềm tin tưởng, ước mơ và hoài bão.

Đó là con đường của nghệ thuật, của thi ca. Quách Thoại viết cho người Việt. Tờ này chết, Thoại viết tiếp, đăng thơ trên Sáng Tạo. Danh của Thoại được nhiều người biết đến từ đây. Nhưng rồi sức lực mỗi ngày một suy tàn do nghiện ngập tàn phá. Thọai biết mình không sống lâu được nữa. Quẫn trí và tuyệt vọng.

Xin ghi lại vài dòng thơ của Quách Thoại mở đầu cho dòng thơ được gọi là thơ Tự Do cùng với Thanh Tâm Tuyền trên tờ Sáng Tạo.

Ôi! Những tâm hồn nghệ sĩ
Chúng ta không quỳ lâu được ở ghế nhà thờ
Chúng ta yêu cực điểm một người đàn bà
Nhưng vẫn muốn chết
Sau khi làm xong một bài thơ
Chúng ta là những kẻ hoàn toàn bơ vơ
Không chịu thở theo nhịp đều hơi thở… (…)
Những kẻ bộ hành đứng dưới một mái hiên ga
Để thấy tầu đi rồi khóc
Và lại nghĩ rằng
Mình cũng đã từng đi.

Thoại cũng đã từng đi. Và bây giờ, đã sắp đến đoạn đường cùng, sắp đến giờ từ giã cuộc đời mà nó từng yêu, từng say mê, từng chiến đấu. Nước mắt lại tuôn ra ườt đẫm trên má nó. Nó thổn thức khóc.

Vài tuần sau, Thoại hấp hối trong bệnh viện nơi một căn phòng bố thí. Thoại nằm xuống lòng đất trong một bộ áo tu trắng với nơi cổ tay một tượng ảnh Đức Mẹ. Những giờ vất vả với cái chết trên giường bệnh, Thoại van xin ”Lạy Thượng Đế ban ơn”. Cho đến phút chót. Thoại vẫn kêu gào muốn sống.
 
Thoại mất ngày 7-11-1957. Người viết bài này nhớ lại còn ngỡ ngàng khi nghe tin ông mất và vẫn tự hỏi tại sao ông lại chết sớm như thế?

Đến bây giờ người viết vẫn tự hỏi, ông là cây bút chủ lực về thơ Tự Do của Sáng Tạo mà sao lúc chết cô đơn một mình, phải nằm giường thí. Chỉ có hai người bên cạnh ông lúc chết là một người bạn thân và người anh ruột là Lý Hoàng Phong. Những Mai Thảo, Doãn Quốc Sĩ, Trần Thanh Hiệp đâu rồi? Vậy mà sau khi Quách Thoại chết, đã có biết bao nhiêu bài viết ca tụng Quách Thoại? Lúc sống bị bỏ rơi, lúc chết thì không thiếu lời ca tụng. Điều đó phải chăng cũng đúng trong trường hợp Nguyễn Tất Nhiên vào 2,3 năm cuối đời. Ông sống lang bang, lạc loài không nơi nương tựa, sự bỏ rơi của bạn bè, của gia đình. Phải chăng cuối cùng thì ông đã chọn sân chùa như một chỗ nương nhờ đi về thế giới bên kia?

Cái thương, cái nhớ của người đời nhiều khi cũng khó nói lắm.

Những gì Du Tử Lê nói về cá tính con người Nguyễn Tất Nhiên có thể là đúng như vậy. Cái bất thường trong cá tính con người Nguyễn Tất Nhiên phải chăng đã ảnh hưởng thơ văn của ông? Và cuốii cùng là bi kịch của một cái chết tự ý . Hệ lụy cuộc đời làm nên hệ lụy văn chương bằng một cái giá trả khá đắt.

Thi ca giao hòa với âm nhạc
 
Thi ca và âm nhạc như có đồng điệu. Cung Trầm Tưởng trong thời gian ở Pháp có làm rất nhiều thơ tình. Nhưng có hai bài thơ rất lãng mạn nổi tiếng một thời là bài Mùa thu Paris và bài Chưa bao giờ buốn thế.

Theo Cung Trầm Tưởng, khi trả lời Mặc Lâm, RFA ngày 06/01/2010 thì:

Ngôn ngữ bài thơ thật ra không phải mới lạ, phá cách để nổi tiếng. Chúng ta đọc thử:

Mùa Thu Paris
 
Mùa thu Paris
Trời buốt ra đi
Hẹn em quán nhỏ
Rưng rưng rượu đỏ tràn ly
Mùa thu đêm mưa
Phố cũ hè xưa
Công trường lá đổ
Ngóng em kiên khổ phút, giờ
Mùa thu âm thầm
Bên vườn Lục-Xâm
Ngồi quen ghế đá
Không em buốt giá từ tâm
Mùa thu nơi đâu?
Người em mắt nâu
Tóc vàng sợi nhỏ
Mong em chín đỏ trái sầu
Mùa thu Paris
Tràn dâng đôi mi
Người em gác trọ
Sang anh, gót nhỏ thầm thì
Mùa thu không lời
Son nhạt đôi môi
Em buồn trở lại
Hờn quên, hối cải cuộc đời
Mùa thu! mùa thu
Mây trời âm u
Yêu người độ lượng
Trông em tâm tưởng, giam tù
Mùa thu!… Trời ơi! Tình thu!
 
Bạn đọc bài thơ và giả dụ bài thơ này không được Phạm Duy phổ nhạc thì số phận nó sẽ ra sao ?

Để trả lời câu hỏi này, tôi trích dẫn một đoạn thơ khác của Cung Trầm Tưởng để bạn đọc có nhớ được bài thơ này hay không?

Huệ trắng tinh nguyên sau một đêm
Huệ trong thư các, huệ ngoài thềm
Sớm nay chủ nhật thơm thương quá
Chỉ có Sài Gòn trong dáng em
 
Và một đoạn thơ khác trong bài “Nụ Hôn Khốc Liệt”
 
Cõi sầu ta tinh khiết
Thép quắc vầng trán cao
Phong sương dệt chiến bào
Với máu se làm chỉ
 
Một trường hợp khác, nhà thơ Phạm Thiên Thư
 
Phạm Thiên Thư, tức tu sĩ Tuệ Không (đã hoàn tục – DCVOnline), tên thật Phạm Kim Long, sinh tại Thái Bình, tốt nghiệp Đại Học Vạn Hạnh, ngành Phật Học và Triết học Đông Phương năm 1970, viết cho Bách Khoa, Quần Chúng, Vấn Đề, Quật Khởi, Hóa Đạo, Khởi Hành, Tư Tưởng. Ông cho biết vào năm 1970. có viết năm bản thảo thi hóa kinh Phật và được đăng trên tuần báo Đời, trong đó có hai tập là Kinh Ngọc, tức Kinh Kim Cương và Khinh Thơ, tức Pháp cú kinh giao cho Nguyễn Đức Quỳnh. Nguyễn Đức Quỳnh lúc bấy giờ bị ung thư dạ dày đang nằm bệnh viện, Phạm Thiên Thư vào thăm nên đồng thời gặp Phạm Duy ở đó.

Nguyễn Đức Quỳnh thích bài thơ Pháp thân, rồi nhân tiện đưa cho Phạm Duy, thế rồi Phạm Duy phổ nhạc để trở thành bài Đạo Ca 1 kể từ từ đó. Sau đó tiếp theo là 9 bài đạo ca khác ra đời. Chúng ta hãy nghe lời phát biểu của Phạm Thiên Thư về Phạm Duy:

“Nhưng tôi phải nhận ở con người Phạm Duy là đa diện. Anh Phạm Duy còn là một nhà thơ có trực cảm bén nhạy và nhiều ngôn ngữ rất đẹp. Dù nhiều đoạn anh phải lược, đôi câu anh phải thêm cho hợp với kỹ thuật hòa âm, và một vài chữ cũng phải thay thế mà ý nghĩa vẫn không bị thiếu, và chẳng khác gì nguyên tác. Tóm lại, qua 10 bài Đạo ca, tôi vì “Tứ mà phải hạn “Từ”, anh Phạm Duy vì “âm “mà phải bớt “tứ”.

Đó là cả một nỗ lực để hòa hợp tương xứng giữa lý tưởng – từ hoa – và âm điệu.

Anh Duy cho biết cảm tưởng của anh khi mỗi khuya nằm nghe Đạo ca – dường như một người khác Phạm Duy làm – Tôi cũng có trực giác như vậy về mình”.

Trích tóm tắt bài phỏng vấn Phạm Thiên Thư về Đạo ca và Kinh Ngọc, từ loạt bài phỏng vấn giới nhạc sĩ của Nguyễn Ngu-Í đăng trên Bách Khoa CXXIV.
 
Nhà thơ Phạm Thiên Thư còn tiết lộ cho biết chỉ nội bộ Pháp Cú Kinh gồm 423 câu, tác giả đã thi hóa thành ra 423 bài thơ ngũ ngôn. Nghĩa là có hàng ngàn câu thơ như thế đã được thi hóa. Ai trong chúng ta có thể nhớ một câu thơ nào trong hàng ngàn câu thơ ấy ngoài những câu thơ đã được phổ nhạc trong 10 bài Đạo ca của Phạm Duy?

Trong Hồi ký Phạm Duy, ông đã viết như sau về trường hợp bài Ngày Xưa Hoàng Thị:

Tôi và Phạm Thiên Thư yêu mến nhau từ đó. Sau đó chúng tôi gặp nhau hầu như hằng ngày. Đọc được bài thơ Ngày Xưa Hoàng Thị mà anh bạn trao cho tôi, tôi như bắt được viên ngọc quý và xin phổ nhạc ngay:

Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ
Anh theo Ngọ về
Giót giày lặng lẽ đường quê…
 
Từ đó, tôi luôn luôn tìm đọc thơ của Pham Thiên Thư như tập thơ Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng hay bài thơ Gọi Em Là Đóa Hoa Sầu để phổ thành những bài hát thanh cao nhất của thời đại… (…) Bài Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng được rút ra từ mấy trăm câu thơ của thi sĩ, và ta chỉ cần có hai đoạn ca là nói lên hết được cái cảnh ngày xưa, có kẻ từ quan, lên non tìm động hoa vàng.”

Trích tóm lược Hồi Ký Phạm Duy, tập 3, chương 21, trang 1-5.

Thật không ở đâu Thi ca và âm nhạc lại cuốn lấy nhau như thế. Họ gặp nhau trong nghệ thuật và nhờ thê đưa thi ca và nhạc cất cánh bay lên.

Trong bài viết Phạm Duy đã chết hay còn sống? Tôi có dành gần một trang để chê trách Phạm Duy đã lấy thơ của Nguyễn Tất Nhiên mà không có một lời.
Nhân cách Phạm Duy thật đáng để phê phán.

Tuy nhiên, chúng ta phải nhìn nhận rằng Phạm Duy là tay “phù thủy” về âm nhạc. Ông đã đưa thi ca và âm nhạc lên một tầng cao, hòa điệu với nhau tạo nên những tình khúc bất diệt. Ông đã phổ nhạc khoảng 1000 bài thơ của các thi sĩ và trong nhiều bài, nhất là những bài thơ tình của Alice (con gái của một người tình cũ của Phạm Duy hồi năm 1944 tên Hélène ‒ DCVOnline, Nguồn: Wikipadia.org) nay trở thành những bài tình ca bất hủ.

Riêng trường hợp Nguyễn Tất Nhiên, nếu không có bàn tay phù thủy của Phạm Duy, những bài thơ tình của Nguyễn Tất Nhiên có thể có một số phận không may mắn như hiện nay.

Phải cám ơn đời, cám ơn những người nghệ sĩ đã cho ta những giây phút tuyệt với và quên đi những nhỏ nhen ti tiện và những tranh thua ngoài phạm vi nghệ thuật.

Nguyễn Văn Lục
Nguồn : Đàn Chim Việt
 
 
Kim Phượng sưu tầm
Xem thêm...