Sức khỏe & sắc đẹp

Sức khỏe & sắc đẹp (96)

Yêu Thương Làm Não Bộ Khỏe Mạnh Và Sống Thọ

Yêu Thương Làm Não Bộ Khỏe Mạnh Và Sống Thọ

Khoa học gia Marian Cleeves Diamond tại giảng đường Đại Học UC Berkeley, California, Hoa kỳ.

Marian Cleeves Diamond (1926-2017) là nữ khoa học gia người Mỹ chuyên về não. Bà và nhóm làm việc của bà lần đầu tiên đã công bố bằng chứng cho thấy não có thể thay đổi theo kinh nghiệm và cải thiện theo sự bồi bổ, điều mà ngày nay gọi là khả năng thay đổi của hệ thần kinh để đáp ứng với kích thích bên trong và bên ngoài (neuroplasticity), theo một bài viết đăng trên trang nhà Đại Học UC Berkeley.(1)

“Nghiên cứu của bà cho thấy tác động của việc bồi bổ lên sự phát triển của não – một sự hiểu biết đơn giản nhưng có sức mạnh mà đã thay đổi thế giới, từ cách chúng ta nghĩ về chính mình tới cách chúng ta nuôi dạy con cái của chúng ta,” theo giáo sư về sinh học của Đại Học UC Berkeley George Brooks, cũng là một đồng viện của bà Diamond. “Tiến Sĩ Diamond cho thấy về mặt cơ thể học, lần đầu tiên, những gì chúng ta hiện nay gọi là khả năng thay đổi để đáp ứng với kích thích bên trong và bên ngoài của não bộ. Khi làm như thế bà đã phá bỏ khuôn mẫu cũ của sự hiểu biết về não như là một thực thể tĩnh và không thể thay đổi mà chỉ thoái hóa khi chúng ta lớn tuổi.” (2)

Trong những phần tiếp theo của bài này sẽ tìm hiểu sơ lược cuộc đời của nữ khoa học gia người Mỹ này cùng với phương thức nghiên cứu, các kết quả ấn tượng, và những ảnh hưởng sâu rộng của chúng không chỉ trong khoa học não mà còn lan ra nhiều lãnh vực khác trong đời sống của nhân loại.

Sơ lược cuộc đời của Marian Cleeves Diamond

Marian Cleeves Diamond sinh vào ngày 11 tháng 11 năm 1926 tại Thành phố Glendale, California, Hoa Kỳ, là người con út trong 6 người con của Tiến sĩ Motague Cleeves, di dân từ miền bắc nước Anh, và Rosa Marian Wamphler, sinh viên Đại Học UC Berkeley là người đã bỏ việc theo học Tiến sĩ để nuôi các đứa con của bà tại Thành phố La Crescenta. (3) Giống như những anh chị em của mình, Marian vào học trường ngữ pháp La Crescenta, trường Trung Học Đệ Nhất Cấp Clark Junior High và trường Trung Học Đệ Nhị Cấp Glendale High School. Bà ghi danh học trường Cao Đẳng Cộng Đồng Glendale trước khi chuyển lên Đại Học UC Berkeley vào năm 1946, nơi bà chơi và học quần vợt. Sau khi tốt nghiệp cử nhân vào năm 1948, bà tiếp tục nghiên cứu tại UC Berkeley và trở thành nữ sinh viên đầu tiên học trong Khoa Cơ Thể Học. Luận án tiến sĩ của bà có chủ đề “Functional Interrelationships of the Hypothalamus and the Neurohypophysis” [Mối Tương Quan Chức Năng Của Khu Vực Não Kiểm Soát Nhiệt Độ, Đói, Khát Của Cơ Thể và Phần Nằm Ở Đáy Não và Là Thùy Sau Của Tuyến Nhầy], được xuất bản vào năm 1953. Trong lúc làm luận án Tiến sĩ, bà cũng bắt đầu dạy học, phát triển sự đam mê cả đời.

Sau khi làm phụ tá nghiên cứu tại Đại Học Harvard từ năm 1952 tới 1953, Diamond được bổ nhiệm làm nữ giảng viên khoa học đầu tiên tại Đại Học Cornell từ năm 1955 tới 1958, nơi bà dạy về sinh học con người và cơ thể học so sánh. Bà thường qua miền Tây để dạy cơ thể học cho các sinh viên y khoa tại Đại Học UC San Francisco.

Bà trở lại UC Berkeley vào năm 1960 để làm giảng viên và tiếp tục nghiên cứu về cấu trúc của não. Vào năm 1964, Diamond đã có bằng chứng thực sự đầu tiên – những phương thức giải phẫu thực sự — cho thấy tính dễ thay đổi qua sự giải phẫu vỏ não động vật có vú.

Năng khiếu làm giáo sư và những phát hiện nghiên cứu mang tính cách mạng của bà khiến bà được bổ nhiệm làm phụ tá giáo sư về cơ thể học vào năm 1965 và sau đó là giáo sư thực thụ. Bà lần lượt làm phụ tá và phó khoa trưởng Cao Đẳng Văn Học và Khoa Học và giám đốc Lawrence Hall of Science từ 1990 tới 1996, nơi bà có thể dùng các phát minh của mình vào các môi trường phong phú để phát triển các chương trình giáo dục trong khoa học và toán học cho học sinh từ mẫu giáo tới trung học.

Trong bài báo năm 1964, Diamond lần đầu cho thấy rằng cấu trúc của vỏ não của các động vật trẻ có thể thay đổi để đáp ứng với tác động của môi trường. Trong bài báo năm 1983, lần đầu tiên bà cho thấy hiện tượng lưỡng hình giới tính, có nghĩa là những khác biệt giữa các động vật đực và cái trong cấu trúc của vỏ não của những động vật trẻ và già. Trong bài báo năm 1985, lần đầu tiên bà cho thấy cấu trúc của vỏ não của các động vật già hơn có thể thay đổi để đáp ứng với tác động của môi trường và ảnh hưởng tới khả năng học tập.

“Trong công trình then chốt của bà về sự bồi bổ môi trường và tính có thể thay đổi của thần kinh đã tạo ra lãnh vực hoàn toàn mới trong khoa học thần kinh hiện đại,” theo giáo sư tâm lý học và là nhà khoa học thần kinh Robert Knight của Đại Học UC Berkeley. (4)

Vào năm 1984, Diamond nhận được 4 khối não được lưu trữ của nhà bác học Albert Einstein. Nghiên cứu bộ não của Einstein đã giúp bà nổi tiếng trên truyền thông báo chí. Bằng cách so sánh các kết quả với những phân tích trước đó về bộ não kiểm soát, phòng thí nghiệm của Diamond nhận thức rằng vỏ não phía trước có nhiều tế bào không phải tế bào thần kinh, hay các tế bào thần kinh đệm, trên mỗi tế bào thần kinh hơn vỏ não trên đỉnh đầu. Sau nhiều năm nghiên cứu, Diamond và nhóm của bà đã khám phá rằng sự khác biệt lớn lao trong tất cả 4 khu vực là trong các tế bào thần kinh đệm: Einstein có nhiều tế bào thần kinh đệm trên mỗi tế bào thần kinh trong khu vực đỉnh dưới hơn não đàn ông trung bình của nhóm người được kiểm soát. Công trình quan trọng này làm nổi bật nhóm nhiều tế bào chưa được nghiên cứu và mở đường tới khu vực nghiên cứu khoa học thần kinh mới – sinh học thần kinh đệm.

Trong sự nghiệp kéo dài nửa thế kỷ tại UC Berkeley, Diamond đã tạo cảm hứng cho hàng ngàn sinh viên thuộc nhiều thế hệ.

Diamond là thành viên của Hội Người Mỹ Vì Sự Tiến Bộ Khoa Học, được vinh danh là Giáo Sư Xuất Sắc Trong Năm tại California, được trao Huy Chương Vàng Quốc Gia từ Hội Đồng Vì Tiến Bộ và Hỗ Trợ Giáo Dục, là Cựu Sinh Viên UC Berkeley Xuất Sắc Trong Năm, được trao Giải Thưởng Clark Kerr Award năm 2012 vì Lãnh Đạo Xuất Sắc trong Đại Học, Giải Thưởng Dạy Xuất Sắc năm 1975 từ Đại Học UC Berkeley.

Bà cũng là tác giả của cuốn sách “Enriching Heredity: The Impact of the Environment on the Anatomy of the Brain” [Làm Giàu Di Truyền: Tác Động Của Môi Trường Lên Cấu Trúc Của Não] được xuất bản năm 1988, và là đồng tác giả của cuốn sách “The Human Brain Coloring Book” được xuất bản năm 1985.

Diamond kết hôn với Richard Martin Diamond vào năm 1950 và họ có với nhau 4 người con: Catherine Theresa (1953), Richard Cleeves (1955), Jeff Barja (1958), and Ann (1962). Diamond và chồng đã ly dị vào năm 1979. Cuối năm 1982, bà kết hôn với Arnold Bernard Scheibel, một giáo sư khoa học thần kinh tại Đại Học UCLA.

Diamond qua đời ngày 25 tháng 7 năm 2017 tại tư gia ở Thành phố Oakland, California, hưởng thọ 90 tuổi.

Những khám phá lịch sử về não

Trong tài liệu do chính bà viết có tựa đề “Marian Cleeves Diamond” được đăng trên trang mạng của Hội Khoa Học Thần Kinh (Society for Neuroscience), (5) Diamond kể rằng vào năm 1964, khi đã đăng các kết quả trên một tờ báo bởi Diamond, Krech, và Rosenzweig có tựa đề “Effect of Enriched Environments on the Histology of the Cerebral Cortex” [Ảnh Hưởng Của Các Môi Trường Phong Phú Đến Mô Học Của Vỏ Não] thì một năm sau bà có buổi thuyết trình về não tại một cuộc họp thường niên của Hội Các Nhà Cơ Thể Học Người Mỹ. Cuộc họp đó được tổ chức tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn và bà nói bà cảm thấy thực sự sợ hãi bởi vì có hàng trăm người có mặt trong phòng mà trong đó có rất ít phụ nữ. Đây là lần đầu tiên bà trình bày nội dung nghiên cứu nói trên tại một hội nghị lớn. Bà đã giải thích các đề án một cách bình tĩnh, mọi người vỗ tay một cách lịch sự, và rồi một người đàn ông đứng dậy từ phía sau phòng và nói lớn tiếng rằng, “Này người phụ nữ trẻ, não bộ không thể thay đổi!”

Bà kể tiếp rằng bà cảm thấy tốt về công trình này, và bà chỉ trả lời cho người đàn ông kia rằng, “Tôi xin lỗi, thưa ông, nhưng chúng tôi có thử nghiệm ban đầu và thử nghiệm lập đi lập lại cho thấy não bộ có thể thay đổi.”

Diamond đã nêu ra nhiều câu hỏi: Có phải các điều kiện môi trường kích thích làm gia tăng vỏ não đang phát triển hay đã trưởng thành, hay vỏ não đã đạt tới sự quân bình, hay vỏ não đang giảm, đang co cụm? Khi nào vỏ não ngừng phát triển, và nó già đi ra làm sao theo các điều kiện phòng thí nghiệm “bình thường”?

Để trả lời những câu hỏi trên, Diamond đã tích tập trong hơn 7 năm dài các thông tin về những mẫu phát triển và tuổi già trong vỏ não của đàn ông và phụ nữ. Bà cho biết điều đó không chỉ quan trọng để khảo nghiệm toàn thể vỏ não mà còn để biết phải chăng vỏ não bên phải và bên trái có theo những mô hình tương tự trong thời gian phát triển và già đi bởi vì thông tin mới tích tụ những khác biệt về chức năng trong hai bán cầu của não bộ con người. Bà nêu ra câu hỏi: Có phải những khác biệt về cấu trúc giúp chúng ta hiểu được cơ bản của các khía cạnh chức năng?

Diamond đề cập đến các kết quả của những đường cong gia tăng của bề sâu vỏ não của vỏ não phải và trái được kết hợp từ những phần mô của vỏ não trán, cảm giác, và sau ót. Ở đàn ông và phụ nữ, có 2 mức độ cơ bản: vỏ não phát triển tăng cường nhanh đối với tháng đầu sau khi sinh và rồi mức độ [phát triển] giảm dần dần qua suốt cuộc đời. Tuy nhiên, dù chiều hướng của những mức độ của các đường cong thì giống nhau, cho thấy mẫu phát triển khác biệt lúc sinh khi phụ nữ ban đầu phát triển cao hơn đàn ông nhưng [vỏ não] đàn ông trở nên dày hơn 3 tuần sau khi sinh.

Bà cho biết tiếp rằng khi so sánh sự khác biệt độ dày vỏ não phải và trái thì không còn nghi ngờ rằng nói chung là có sự khác nhau theo giới tính đáng kể. Tổng quát, vỏ não nam giới dày hơn đáng kể ở bên phải, và vỏ não nữ giới thì không có sự bất đối xứng đáng kể. Tuy nhiên, có những ngoại lệ với khu vực 2 của vỏ não đàn ông thì đối xứng lúc còn trẻ, và vỏ não của đàn ông quá già trở nên đối xứng như vỏ não phụ nữ trẻ, có thể giải thích tại sao nhiều người đàn ông già thích ở nhà hay để vợ lái xe trong khi họ ngồi thư giãn bên cạnh bà vợ.

Não có thể được thay đổi

Nữ khoa học gia về não Diamond tiếp tục giải thích về sự thay đổi cấu trúc của não. Bà đã trình bày các tài liệu thử nghiệm ban đầu cho thấy rằng các môi trường phong phú và nghèo nàn có thể thay đổi cấu trúc vỏ não của chuột. Tại Berkeley, Diamond nuôi 12 con chuột trong một cái chuồng có môi trường phong phú với nhiều đồ vật mới lạ cho các con chuột khám phá. Ngược lại những con chuột khác được nhốt trong một cái lồng nhỏ và không có đồ vật, không có bạn bè, không có cả không gian sinh sống rộng lớn. Tất cả các con chuột đều tự do lấy thức ăn và nước uống. Tất cả các môi trường phòng thí nghiệm dù không thể làm giống y chang môi trường thiên nhiên bên ngoài trời cho chuột, nhưng môi trường trong phòng thí nghiệm thì tốt hơn nhiều so với thiên nhiên bên ngoài.

Sau thử nghiệm giải phẫu ban đầu, được công bố vào năm 1964, khi những con chuột được ở trong các môi trường tương ứng của chúng trải qua 80 ngày (từ 25 ngày lúc bỏ sữa mẹ cho đến 105 ngày tuổi) cho thấy sự thay đổi độ sâu vỏ não 6% trong các thí nghiệm lúc đầu và lập lại, bà thắc mắc không biết có thể tìm thấy những khác biệt trong não của những con chuột trước 25 ngày tuổi, là những con sống trong các điều kiện thử nghiệm cùng với mẹ của chúng không?

Thắc mắc của bà đã được sinh viên Dennis Malkasian (Tiến Sĩ năm 1969 và hiện là Phụ Tá Giáo Sư Lâm Sàng Thần Kinh Học tại Đại Học UCLA) giải đáp trong cuộc thử nghiệm của anh được công bố cùng với Diamond vào năm 1971 gồm một chuồng phong phú với 3 con chuột mẹ và 3 chuột con (nhiều gia đình) và một chuồng nghèo nàn với một con chuột mẹ và 3 chuột con (một gia đình). Tất tả chuột con đều là 6 ngày tuổi khi chúng được đưa vào các điều kiện và được lấy đi các điều kiện này lúc 14 ngày tuổi.

Bởi vì mắt của chúng chỉ mở trong thời gian các chuột con trong điều kiện phong phú trước bỏ sữa lúc 13 ngày tuổi và lúc 14 ngày tuổi với các chuột con trong điều kiện nghèo nàn, không tìm thấy có sự thay đổi bề sâu vỏ não thị giác. Tuy nhiên, thay đổi lớn nhất mà họ từng thấy trong vỏ não của những con chuột ở điều kiện phong phú đối với những con chuột ở điều kiện nghèo nàn là 16% khác biệt trong vùng liên kết 39 trong nhóm động vật thử nghiệm từ 6 đến 14 ngày tuổi.

Trở lại với nhóm chuột sau khi bỏ sữa đầu tiên trong nghiên cứu ban đầu được công bố vào năm 1964, nằm trong các điều kiện thử nghiệm trải qua 80 ngày từ 25 đến 105 ngày tuổi, bà Diamond nhắc lại vào thời gian này trong nghiên cứu phát triển của bà thì độ dày của vỏ não từ từ giảm dần. Theo bà, phát hiện mới này cho thấy việc làm phong phú giúp vỏ não chống lại chiều hướng sút giảm.

Để giải thích độ dày vỏ não và cái gì tạo ra độ dày vỏ não, Diamond nói rằng nhóm của bà đã đếm các tế bào thần kinh và các tế bào thần kinh đệm (6) trong từng vùng rất nhỏ, đọc theo chiều đứng từ bề mặt trên cao tới chất trắng nằm bên dưới. Các tế bào thần kinh chiếm ít hơn 7% mỗi vùng trong điều kiện phong phú so với trong điều kiện vỏ não sau ót nghèo nàn, cho thấy rằng sự phát triển phân nhánh nhiều hơn đã xảy ra. Nhóm cũng đã phát hiện rằng các phần của những tế bào thần kinh thì lớn hơn đáng kể trong các động vật ở điều kiện phong phú, theo báo cáo của Diamond vào năm 1967 và báo cáo của bà cùng các cộng sự năm 1975, và các phân nhánh gia tăng chiều dài và số lượng như được cho thấy bởi nhiều nhà nghiên cứu, theo báo cáo của Holloway năm 1966, theo báo cáo của Uylings và các cộng sự năm 1978, và theo báo cáo của Connor và các cộng sự năm 1981. Bà cho biết thêm rằng, tế bào thần kinh đệm so với tỉ lệ tế bào thần kinh thì lớn hơn với điều kiện phong phú, theo báo cáo của Diamond năm 1966, các gai chi nhánh gia tăng được ghi nhận, theo báo cáo của Globus và các cộng sự năm 1973, các điểm nối khớp thần kinh lớn hơn trong các não bộ được làm phong phú, theo báo cáo của Diamond và cộng sự năm 1975, cũng như các mao mạch, theo báo cáo của Diamond và các cộng sự năm 1964. (7)

Theo bà, sự thật là các tế bào thần kinh đệm đã gia tăng với việc làm phong phú đưa tới giả thuyết của bà rằng Albert Ainstein có thể có nhiều tế báo thần kinh đệm hơn trong vỏ não được làm phong phú của ông, đặc biệt các vùng liên kết phải và trái 9 và 39, khi so sánh với mức trung bình vỏ não trong những vùng này từ 11 người đàn ông khác. Nhóm của bà đã phát hiện tất cả 4 vùng đều có các tế bào thần kinh đệm nhiều hơn những đàn ông khác, nhưng chỉ vùng 39 trái có nhiều hơn đáng kể, theo báo cáo của Diamond và các cộng sự năm 1985.

Diamond cũng cho biết thêm rằng thực hiện việc thử nghiệm cùng các điều kiện như những thử nghiệm ban đầu qua nhiều khung thời gian mới khác nhau bằng cách giảm từ  80 ngày xuống còn các mức 30 ngày, 15 ngày, 7 ngày, 4 ngày hay 1 ngày đều đưa đến kết luận là đều có thể tạo ra những khác biệt thử nghiệm đáng kể trong bề dày vỏ não giữa những con chuột trong điều kiện phong phú và nghèo nàn ở mỗi khung thời gian ngoại trừ trong não của những con chuột được tiếp xúc chỉ một ngày. Như được dự đoán, độ dày vỏ não ít thay đổi hơn được ghi nhận trong những con chuột được tiếp xúc với các điều kiện riêng biệt của chúng trong khoảng thời gian ngắn hơn. Thời gian thử nghiệm 30 ngày từ 60 đến 90 ngày tuổi đã chứng minh cho thấy độ dày gia tăng trong nhiều vùng vỏ não hơn các khoảng thời gian khác. Do đó, khoảng thời gian này thường được áp dụng cho các nghiên cứu bổ sung.

Để trả lời câu hỏi là bằng cách nào nhóm của bà có thể kết luận rằng những con chuột trong điều kiện phong phú sống lâu hơn, Diamond cho biết nhờ bổ sung thêm “sự chăm sóc yêu thương dịu dàng” (tender loving care – TLC) thường ngày mà những con chuột ở điều kiện phong phú chứng minh được lợi ích sống lâu.

Nhóm của bà đã có kế hoạch thử nghiệm mới trong đó 3 con chuột sống trong một cái chuồng cho đến 766 ngày tuổi và rồi chúng được tách riêng vào các điều kiện phong phú hay nghèo nàn. Thực hiện cách “chăm sóc yêu thương dịu dàng,” nhóm của bà đã ôm những con chuột ở điều kiện phong phú vào ngực được che bởi các chiếc áo khoác phòng thí nghiệm và vuốt ve chúng trong vài phút trong khi chuồng được dọn dẹp sạch mỗi ngày. Việc “chăm sóc yêu thương dịu dàng” được bổ sung hàng ngày bởi kỹ thuật viên đáng tin cậy Ruth Johnson và bà Diamond. Vào lúc 904 ngày tuổi nhóm bà đã mất một con chuột nên đã ngưng việc “chăm sóc yêu thương dịu dàng” của cuộc thí nghiệm và đo lường độ dày của vỏ não. Ba sinh viên tận tâm Ann Marie Protti, Carol Ott, và Linda Kajisa trợ giúp việc đo lường mà qua đó cho thấy rằng vỏ não của những con chuột sống ở điều kiện phong phú đã dày hơn đáng kể tới 10% so với vỏ não của những con chuột sống trong điều kiện nghèo nàn, theo báo cáo của Diamond, Johnson, Protti, Ott, và Kajisa vào năm 1985.

Qua những kết quả nói trên, Diamond nhận định rằng theo bà biết thì chưa có ai đã từng cho thấy tính có thể thay đổi trong não bộ của những con chuột rất già như vậy hay ngay cả đối với bất kỳ những thú vật già nào khác.

Bà cũng nói rằng qua phát hiện đó giúp chúng ta có thêm lý do khác để tiếp tục “yêu thương” cùng với việc tạo điều kiện sống phong phú trong tiếp xử hàng ngày giữa con người với nhau. Bà nói tại sao phải đợi đến khi một người bạn quý báu của chúng ta qua đời rồi chúng ta mới nói yêu thương bạn rất nhiều.

Để làm cho não bộ khỏe mạnh và sống thọ

 Hệ thống thần kinh não được tạo ra bởi AI. (www.pixabay.com)

Nữ khoa học gia về não Diamond cho biết nhóm bà đã thử nghiệm về ảnh hưởng của điều kiện sống quá phong phú đối với sự phát triển não trong những con chuột sống trong điều kiện được làm phong phú trải qua thử nghiệm 30 ngày, từ 60 đến 90 ngày tuổi. Qua thử nghiệm này cho thấy không có sự khác biệt đáng kể nào trong sự phát triển độ dày của não bộ, 4% tới 6% với 12 con chuột hay 36 con trong những chuồng phong phú với đồ chơi so với những con được kiểm soát, 3 con cho mỗi chuồng nhỏ không có đồ chơi. Nhóm của Diamond đưa ra giả thuyết rằng sự tương tác với đồ chơi có thể làm chuyển hướng sự chú ý của những con chuột hay việc giải trí chúng đủ để giảm căng thẳng của điều kiện quá phong phú.

Với việc quá nhiều đồ chơi bồi bổ của trẻ em thời đại này, các bác sĩ nhi khoa đặt ra câu hỏi: “Cái gì ảnh hưởng đến vỏ não vì kích thích quá nhiều được cung cấp bởi việc chơi quá nhiều đồ chơi?” Để trả lời câu hỏi này, nhóm của Diamond đã thực hiện thử nghiệm thay đổi đồ chơi mỗi giờ trong 3 giờ liên tiếp, 8, 9, 10 giờ đêm trong 4 tuần thay vì thay đồ chơi mỗi ngày hay vài lần mỗi 4 tuần. Nhóm bà đã không tìm thấy sự tăng trưởng quá mức với việc thay đổi đồ chơi nhiều lần. Thay vì thế nhóm này phát hiện vỏ não thay đổi ít với điều kiện sống siêu phong phú này hơn là với điều kiện phong phú thường lệ mà nhóm đã tạo ra. Những nhà nghiên cứu khác đã cho thấy rằng chất hóc-môn tuyến thượng thận liên quan đến căng thẳng, như hóc-mô chữa viêm và dị ứng (cortisone), sẽ làm giảm kích thước của vỏ não.

Khi tuyến thượng thận được lấy ra trong các động vật trẻ, nhóm của Diamond chứng kiến sự tăng trưởng rất lớn trong độ dày của vỏ não được phát triển trong bất kỳ điều kiện thử nghiệm nào của họ, cho thấy một lần nữa rằng hóc-môn tuyến thượng thận có thể ngăn cản sự gia tăng vỏ não.

Theo nhà vật lý trị liệu thực hành Alison Mckenzie sau khi thử nghiệm 30 ngày tiếp xúc với môi trường phong phú, những con chuột bị thương vỏ não có sự gia tăng đáng kể trong sự phát triển nhánh chung quanh phần tổn thương trong vỏ não vận động bên trái, cũng như trong vỏ não vận động không bị tổn thương bên phải. Bất ngờ, vỏ não cảm giác nằm gần vỏ não vận động bên phải và trái cũng cho thấy sự gia tăng trong phát triển nhánh như là hậu quả của môi trường được làm phong phú. Thực tế sự gia tăng lớn các nhánh là hiển nhiên với việc bồi bổ theo sau tổn thương đối với vỏ não vận động và vỏ não cảm giác.

Bà Diamond cho biết trong bản tóm tắc theo nghiên cứu của nhóm của bà rằng những kết quả thử nghiệm cho thấy ít nhất 5 yếu tố sau đây là quan trọng cho não bộ khỏe mạnh:

1- Ăn kiêng,
2- Tập thể dục,
3- Thử thách,
4- Sự mới lạ, và
5- Yêu thương.

Theo Robert Sanders, (8) những bài giảng về cơ thể học của Diamond vẫn còn trên YouTube đã gây cảm hứng cho thế hệ sau đã có hơn một triệu người vào xem trong hơn 10 năm qua.

Trên mặt quốc tế, những ý tưởng của Diamond đã củng cố các nỗ lực của các bác sĩ và những nhà giáo dục trong việc đẩy mạnh sự nuôi dưỡng và bồi bổ giáo dục sớm cho trẻ em. Học bổng và những nỗ lực cá nhân của bà đưa tới việc xây dựng và điều hành các cô nhi viện, gồm một cái ở Cam Bốt, nơi bà đã làm việc để bồi bổ tâm thức cho trẻ em nghèo. Công trình của bà về việc làm phong phú môi trường đã không những được chấp nhận rộng rãi mà còn dẫn tới những cải thiện đáng kể trong lao động và chăm sóc sở thú, theo giáo sư về sinh học tổng hợp tại Đại Học UC Berkeley Daniela Kaufer cho biết. (9)

Diamond đã tận dụng mọi cơ hội để khuyến khích các hoạt động, tinh thần và thể chất, bồi bổ não bộ, và bản thân bà đã tiếp tục nghiên cứu và dạy dỗ cho đến khi về hưu ở tuổi 87 vào năm 2014.

Huỳnh Kim Quang

Nam Mai sưu tầm

Xem thêm...

Giao tiếp bằng mắt

Giao tiếp bằng mắt

 BM

Đôi mắt của chúng ta có các thụ thể đáp ứng với chất oxytocin và phenylethylamine, cả hai đều được coi là chất hóa học của tình yêu liên quan đến sự gắn bó.

BM

Hãy tưởng tượng một người mẹ đang chăm sóc đứa con mới sinh. Mặc dù thị lực của em bé còn chưa phát triển, nhưng các nhà khoa học tin rằng trẻ sơ sinh đã có một mạng lưới thần kinh chuyên dụng để nhận biết đôi mắt của mẹ cách xa 8 đến 12 inch. Thú vị thay, đây cũng chính là khoảng cách từ mắt của người mẹ đến ngực. Thiết kế đáng chú ý này cho phép người mẹ kết nối theo bản năng với em bé sơ sinh qua cái nhìn chung của họ.

BM

Tiến sĩ Martha Welch, giám đốc sáng lập chương trình khoa học nuôi dưỡng tại Columbia University đã viết, “Giao tiếp bằng mắt rất quan trọng đối với sức khỏe.

Chúng ta được lập trình để làm điều đó từ khi sinh ra.”

Giống như nhiều bác sĩ tâm thần nhi khoa khác, Tiến sĩ Welch tin rằng “ngôn ngữ giao tiếp bằng mắt thân mật” giữa người mẹ và trẻ sơ sinh là giai đoạn giao tiếp nền tảng cần được khuyến khích. Điều này giúp chúng ta xây dựng những mối quan hệ bền chặt trong suốt cuộc đời.

Điều quan trọng đối với sức khỏe của bạn

BM

Nhưng các loại màn hình điện tử đang làm gián đoạn mối liên kết thị giác này. Một nghiên cứu cho thấy khoảng 30% các bà mẹ cho con bú bình bị phân tâm bởi một dạng công nghệ nào đó. Trong một nghiên cứu khác, khoảng 10% các bà mẹ cho con bú cho biết họ sử dụng điện thoại thông minh hoặc máy tính bảng.

Với ít cơ hội thực hành giao tiếp bằng mắt hơn, ngày càng có nhiều trẻ em ở Hoa Kỳ lớn lên với sự ngượng ngùng trong giao tiếp bằng mắt. Theo Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia, gần 10% thanh niên từ 13 đến 18 tuổi gặp phải những lo lắng xã hội. Đối với những đứa trẻ này, giao tiếp bằng mắt là căng thẳng và không thoải mái – đến mức các nhà nghiên cứu có thể quan sát được những thay đổi đáng kể trong hoạt động của bộ não.

Nhưng điều gì làm cho giao tiếp bằng mắt có sức mạnh như vậy? Làm thế nào một người có thể vượt qua sự ngại ngùng khi giao tiếp bằng mắt ở bất kỳ độ tuổi nào và tận dụng những lợi ích của giao tiếp bằng mắt? Chúng ta hãy xem xét câu hỏi này và thiết lập duy trì giao tiếp bằng mắt trong các mối quan hệ và tiếp xúc của chúng ta.

Trò chơi ú òa: Tại sao giao tiếp bằng mắt lại quan trọng

BM

Bắt đầu từ khi còn nhỏ, việc nhìn nhau bằng mắt là niềm vui cho tình yêu thương cha mẹ và là một trong những cột mốc đầu tiên mà các em bé đạt được.

Đáng chú ý là trẻ sơ sinh có thể quan tâm đến khuôn mặt của mẹ trong vòng vài tiếng sau nhịp thở đầu tiên. Trẻ sơ sinh từ 2 đến 5 ngày tuổi thích nhìn nhau hơn là nhìn ra chỗ khác.

 

Theo tiến sĩ Uwellch, “Khi một người mẹ rời khỏi điện thoại và tiếp tục giao tiếp bằng mắt, em bé sẽ cố gắng giao tiếp nhiều hơn.”

Đáng chú ý, mắt chúng ta có các thụ thể đối với oxytocin và phenylethylamine, cả hai đều được coi là chất xúc tác của tình yêu liên quan đến sự gắn kết.

BM

Mối quan hệ gia đình cũng trở nên sâu sắc hơn trong thời gian chơi trò ú oà: Với bàn tay bịt mắt lại, rồi đưa tay ra khỏi mắt, các bà mẹ trên toàn thế giới chia sẻ niềm vui của trò chơi văn hóa toàn cầu này. Thoạt đầu, trò chơi sẽ gặp phải vẻ mặt bàng hoàng của đứa trẻ. Đối với một đứa trẻ non nớt, việc không nhìn thấy mặt người mẹ đồng nghĩa với việc bà đã biến mất.

Tuy nhiên, vào khoảng 6 đến 8 tháng, các em bé nhận ra rằng mẹ chỉ trốn đi một chút, và trò chơi ú òa này trở nên thú vị. Khoảng 9 đến 11 tháng tuổi, trẻ phát triển khả năng theo dõi ánh mắt của người khác và bắt đầu quan sát những gì người khác nhìn thấy.

Những tiến bộ này trong việc nhìn bằng mắt cũng cho thấy sự phát triển của bộ não và khả năng giao tiếp đang đi đúng hướng. Các chuyên gia nhi khoa thường xuyên kiểm tra các mốc giao tiếp bằng mắt. Nếu bỏ lỡ một tiêu chuẩn, nhiều nguyên nhân sẽ được xem xét, bao gồm khoảng cách cha mẹ, thiếu giao tiếp bằng mắt hoặc tiếp xúc quá mức với truyền thông kỹ thuật số.

Mặc dù tất cả những điều này xảy ra từ rất sớm, nhưng ánh mắt vẫn là một phần thiết yếu của các mối quan hệ trong suốt cuộc sống.

Khi mắt nhìn vào mắt: Bộ não phản ứng như thế nào

BM

Khi nói đến ngôn ngữ cơ thể, giao tiếp bằng mắt thường là điều đầu tiên chúng ta chú ý khi gặp gỡ người khác.

Các nghiên cứu đã chứng minh rằng khi người ta nhìn vào mắt một người bạn ngoài đời thực, hoạt động thần kinh của bộ não tăng cao. Các hiện tượng thần kinh tương tự đã bị thiếu vắng khi nhìn vào một bức ảnh kỹ thuật số trên màn hình. Các nhà khoa học tin rằng điều này một phần bắt nguồn từ một mạng lưới thần kinh trong bộ não chuyên xử lý các tín hiệu không lời của mắt và các thông điệp mà mắt truyền tải.

Giao tiếp bằng mắt cũng là ưu tiên hàng đầu cho bộ não tin tưởng và giúp chúng ta cảm thấy đồng cảm khi nói chuyện với ai đó.

BM

Điều này đã được chứng minh trong một nghiên cứu hình ảnh thần kinh năm 2019, trong đó một nhóm các nhà khoa học Nhật Bản quan sát những gì xảy ra trong bộ não trong thời gian thực khi hai người lớn nhìn nhau. Được xuất bản trên eNeuro, nghiên cứu cho thấy rằng giao tiếp bằng mắt chuẩn bị cho sự đồng cảm bằng cách kích hoạt đồng thời các khu vực giống nhau trong não của mỗi người.

Cụ thể, tiếp xúc với mắt được chứng minh là kích hoạt hệ thống limbic (*), một tập hợp các vùng não được kích hoạt khi mắt hoặc bất kỳ bộ phận nào của cơ thể di chuyển vào lúc chúng ta quan sát người khác, họ cũng được kích hoạt vùng vỏ não tương tự.

 

Nói cách khác, trong một cuộc trò chuyện, giao tiếp bằng mắt kích thích cùng một khu vực trong bộ não ở cả hai người, điều này có nghĩa là các cá nhân phải hòa hợp với nhau. Sự “đồng bộ hoá hệ thống limbic” này cho thấy sự đồng cảm có thể được sinh ra từ ánh nhìn với một người hoặc nhiều người.

Điều này cũng cho ta cái nhìn sâu sắc về vai trò của giao tiếp bằng mắt trong việc hiểu được tông màu cảm xúc, đưa ra kết luận, thêm lý do để nói mắt được cho là cửa sổ tâm hồn chúng ta – với đôi mắt ta có thể hiểu sâu sắc về người khác và ngược lại, cảm thấy được thấu hiểu.

Nhận ra bạn bè hoặc kẻ thù

BM

Để thuyết phục giả thuyết giao tiếp bằng mắt, các nhà nghiên cứu từ Đại học Northeast ở Boston đã giải thích rằng giao tiếp bằng mắt tạo nên ấn tượng của chúng ta về người khác. Theo nghiên cứu của họ, chúng ta nhận thấy những người giao tiếp bằng mắt nhiều hơn sẽ thông minh hơn, chân thành hơn và tận tâm hơn.

Tuy nhiên, việc nhìn vào mắt nhau quá lâu – hơn tám giây – có thể khiến mọi người cảm thấy khó chịu, theo một nghiên cứu được công bố trên Royal Society Open Science (Tập san mở về Khoa học Xã hội Royal). Chẳng hạn, cha mẹ, anh chị em hoặc thậm chí là người lạ cũng có thể dùng ánh mắt mạnh mẽ để báo hiệu rằng họ không hài lòng hoặc thậm chí tức giận.

 

Khả năng phân biệt ý nghĩa trong một tình huống căng thẳng như vậy – phân biệt giữa bạn và kẻ thù – phụ thuộc vào cách các tế bào thần kinh não được kích hoạt trong hạch hạnh nhân và vỏ não trước trán.

BM

Hạch hạnh nhân là một phần cảm xúc cốt lõi của bộ não, phản ứng theo bản năng với các mối đe dọa, trong khi vỏ não trước trán là phần cuối cùng của não phát triển hoàn toàn. Hạch hạnh nhân kiểm soát các chức năng điều hành, chẳng hạn như ra quyết định và kiểm soát xung lực.

Tóm lại, việc hiểu được ý định của ai đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố, chẳng hạn như tín hiệu ngôn ngữ cơ thể, văn hóa và hoàn cảnh. Tuy nhiên, giao tiếp bằng mắt vẫn làm tăng khả năng kết nối tình cảm với người khác.

Dù vậy, giao tiếp bằng mắt không phải là điều dễ chịu với tất cả mọi người.

Đặt màn hình điện tử xuống để khôi phục kết nối con người

BM

Chúng ta sống trong một thế giới nơi cha mẹ có thể kỷ niệm những cột mốc bằng các trái tim kỹ thuật số, và những đứa trẻ có thể trấn an lẫn nhau bằng những biểu tượng cảm xúc. Giao tiếp kỹ thuật số là cách người ta sống và làm việc, và đó là một cách tuyệt vời để theo kịp những cập nhật mới nhất trong cuộc sống.

Theo nghiên cứu của Công ty Nielsen, trung bình một người Mỹ dành 11 tiếng mỗi ngày để nghe, xem, đọc, hoặc tiếp xúc với truyền thông.

Tiến sĩ tâm lý xã hội học Sherry Turkle và là giám đốc sáng lập của Viện Công nghệ Massachusetts trên lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, cho biết trong một cuộc phỏng vấn do Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ tổ chức, “Con cái chúng ta ít sẵn sàng ngồi vào bàn ăn tối và nói chuyện với chúng ta.”

Bà nói thêm, “Có vẻ như chúng ta đã từ chối nhìn thấy bằng chứng trước mắt chúng ta và trong lòng chúng ta rằng công nghệ đã làm xói mòn sự đồng cảm như thế nào.”

 

Như là liều thuốc có thể trị bách bệnh cho dịch bệnh mất kết nối này Tiến sĩ Welch đưa ra một giải pháp đơn giản.

“Nếu chúng ta gặp khó khăn khi giao tiếp bằng mắt, đó là một dấu hiệu cho thấy chúng ta cần phải kết nối.”

Giao tiếp bằng mắt đòi hỏi phải thực hành

BM

Giống như việc rất khó để điều chỉnh lại bộ não của chúng ta khỏi những thói quen cũ, giao tiếp bằng mắt có thể khiến chúng ta cảm thấy không tự nhiên hoặc khiến một người lo lắng nếu không luyện tập. Đôi khi một ánh nhìn an ủi cũng có thể vô tình gây căng thẳng cho những người này, bà Rachel Duval, huấn luyện viên kỹ năng diễn thuyết và truyền thông công chúng.

Bà Duval sinh sống và làm việc tại thành phố New York. Các khách hàng của bà là giám đốc điều hành từ Netflix và Google. Bà cho biết một số người có xu hướng quá nhạy cảm với việc giao tiếp bằng mắt.

 

Bà trích dẫn nghiên cứu cho thấy bộ não của những người tự kỷ trải qua nhiều hoạt động hơn trong hạch hạnh nhân từ những biểu hiện trên khuôn mặt của mọi người. Điều này có nghĩa là họ có thể tránh giao tiếp bằng mắt vì nó có thể gây ra kích thích quá mức.

Các lý do khác khiến một số người tránh nhìn vào mắt có thể vì họ cảm thấy bị xem xét kỹ lưỡng hoặc bị căng thẳng khi họ là trung tâm của sự chú ý. Tuy nhiên, giao tiếp bằng mắt là một kỹ năng sẽ trở nên tốt hơn khi thực hành đối với hầu hết mọi người.

BM

Nếu bạn ngại ánh mắt, hãy bắt đầu luyện tập với một người bạn thân thiết, như một thành viên trong gia đình hoặc một người bạn. Sau đó, hãy cố gắng nắm bắt các tình huống có tính chất nguy cơ cao hơn, chẳng hạn như những khoảnh khắc giao tiếp bằng mắt khi nói chuyện với đồng nghiệp. Tương tự, cha mẹ có thể khuyến khích những thói quen này ở nhà, giống như dạy trẻ sử dụng những từ lịch sự như “xin vui lòng” và “cảm ơn.”

5 lời khuyên của chuyên gia để thực hành giao tiếp bằng mắt ở mọi lứa tuổi

BM

Dưới đây là một số mẹo dễ dàng để thực hành giao tiếp bằng mắt:

·       Thiết lp giao tiếp bng mt ngay t đu cuc trò chuyn: Trước khi nói chuyn vi ai đó, hãy giao tiếp bng mt đ lâu đ nhn biết màu mt ca người kia.

·       Duy trì giao tiếp bng mt trong ba đến năm giây: Sau khi bn đã thiết lp giao tiếp bng mt, hãy gi điu này trong khong ba đến năm giây mi ln. Khi ngng giao tiếp bng mt, hãy liếc sang mt bên trước khi thiết lp li.

·       Nhìn đi ch khác khi cn: Khi nói chuyn vi ai đó, vic thường xuyên ri mt khi người khác là điu t nhiên, đc bit là khi bn tp trung suy nghĩ hoc chm vào cm xúc bn thân.

·       Nhìn đi ch khác mt cách chm rãi: Khi bn nhìn đi ch khác, hãy thc hin tht chm rãi. Đưa mt đi ch khác có th khiến bn trông có v lo lng. Hơn na, vic nhìn xung cho thy bn kém t tin.

·       Lng nghe bng mt: Khi lng nghe ai đó nói chuyn vi bn, điu quan trng là phi giao tiếp bng mt vi h. Gt đu hoc s dng các cách din đt khác đ cho h biết bn quan tâm đến cuc trò chuyn.

Hãy nhớ rằng, “Nếu bạn ngại giao tiếp bằng mắt thì bạn cũng ngại mỉm cười,” bà Duval nói thêm. “Tôi thường bảo mọi người rằng hãy thử mỉm cười vì nụ cười sẽ khiến người khác cảm thấy thoải mái và cũng khiến bạn cảm thấy thoải mái.”

Chú thích của dịch giả

(*)Hệ thống limbic là một nhóm các cấu trúc liên kết nằm sâu trong bộ não, có nhiệm vụ kiểm soát cảm xúc và hành vi của con người. Các nhà khoa học vẫn chưa thống nhất về danh sách đầy đủ các cơ quan trong hệ thống limbic.

 

 

Cara Michelle Miller  _  Công Thành  (BM)

Xem thêm...

6 loại thực phẩm nên ăn sau tuổi 50

6 loại thực phẩm nên ăn sau tuổi 50

 

BMVẫn chưa muộn khi bắt đầu một lối sống lành mạnh ở tuổi 50.

Khi một người bước sang tuổi 50, công việc và cuộc sống gia đình thường ổn định hơn. Làm thế nào những người trên 50 tuổi có thể duy trì sức khỏe và tinh thần tốt, già đi một cách “đẹp lão” bên cạnh bạn đời, vẫn hoạt bát mà không cần dựa vào xe lăn và tiếp tục tận hưởng những chuyến phiêu lưu ngoài trời?

 

Ông Quách Đại Duy, giám đốc chính của Viện Đa khoa Vân Lâm, phòng khám Trung y Phù Nguyên, đã giới thiệu cách chăm sóc sức khỏe cho những người ở độ tuổi 50 trên chương trình “Health 1+1” của The Epoch Times. Ông khuyến nghị các phương pháp ăn uống và rèn luyện sức khỏe cho người trung niên cũng như các liệu pháp bấm huyệt và ăn uống đơn giản giúp duy trì lá phổi khỏe mạnh vào mùa thu.

 

Ông Quách nhấn mạnh những người trên 50 tuổi muốn duy trì sức khỏe nên hạn chế hút thuốc lá và rượu. Điều quan trọng là quản lý cân nặng cơ thể, duy trì ăn uống điều độ, tập thể dục vừa phải và học cách để đầu óc thư thái trong khi gìn giữ quan điểm tích cực.

 

Phương pháp ăn uống

 

Ông Quách cho biết những người trên 50 tuổi nên ăn nhiều hơn 6 loại thực phẩm sau:

1. Berries (Trái mọng)

 

BM

Trái việt quất, trái nam việt quất, và bụp giấm đều chứa nhiều chất xơ, vitamin C và flavonoid. Flavonoid có thể tạo ra một lượng đáng kể chất chống oxy hóa trong cơ thể giúp giảm viêm, trợ giúp sức khỏe não bộ, cải thiện cả trí nhớ dài hạn và ngắn hạn, đồng thời ngăn ngừa chứng mất trí nhớ.

 

Nghiên cứu cho thấy thực phẩm và chất bổ sung có nguồn gốc từ trái mọng hữu ích cho chức năng nhận thức, hiệu suất trí nhớ, chức năng điều khiển và tốc độ xử lý thông tin.

 

2. Rau lá có màu xanh đậm

 

BMCác loại rau có màu xanh đậm như bông cải xanh, cải xoăn, rau bina, lá khoai lang có nhiều chất xơ, giúp kích thích nhu động ruột và giảm nguy cơ các bệnh tim mạch.

 

3. Cá

 

BMTiêu thụ cá biển sâu hoặc cá đại dương như cá hồi, cá tuyết và cá hồi vân (trout), nhiều EPA, omega-3 và DHA tốt cho trí óc, có thể giúp giảm viêm mạch máu. Những người tuân theo khẩu phần ăn nhiều thực phẩm có đường và chất béo có thể tích tụ một lượng đáng kể cholesterol lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL) trong mạch máu. Tiêu thụ cá biển sâu có thể giúp loại bỏ cholesterol xấu và khôi phục tính đàn hồi của mạch máu, từ đó giảm nguy cơ bị bệnh tim mạch.

 

4. Các loại hạt

 

BMCác loại hạt là nguồn dồi dào vitamin E, phosphorus, magnesium, potassium và các khoáng chất khác. Tuy nhiên, không nên tiêu thụ quá nhiều do hàm lượng dầu cao.

 

Nghiên cứu cho thấy các loại hạt chứa rất nhiều acid béo không bão hòa đơn, acid béo không bão hòa đa, protein thực vật, chất xơ, vitamin, khoáng chất, phytosterol và carotenoids có khả năng chống oxy hóa. Chúng giúp cải thiện lượng đường máu và chuyển hóa lipid, đồng thời giảm viêm, từ đó ngăn ngừa một số bệnh mạn tính.

 

5. Phô mai

 

BMPhô mai chứa lượng lớn đạm whey và là nguồn cung cấp vitamin D. Tuy nhiên, những người bị mề đay hoặc viêm da cơ địa nên thận trọng vì đạm whey có thể gây dị ứng.

Vitamin D có trong phô mai có thể kích thích quá trình hấp thụ calcium, chống mất xương, và ngăn ngừa loãng xương. Các nguồn vitamin D khác bao gồm gan động vật, hải sản, trứng và đậu hũ.

 

Đáng chú ý, việc tiếp xúc với ánh nắng vừa phải và các bài tập chịu sức nặng có thể làm tăng khả năng hấp thụ vitamin D và calcium trong cơ thể.

 

6. Sản phẩm từ đậu tương

 

BMĐậu tương và sữa đậu tương rất nhiều chất sắt, potassium, và magnesium, có thể làm giảm mức cholesterol một cách hiệu quả. Magnesium cũng giúp cải thiện giấc ngủ và đặc biệt hữu ích cho phụ nữ mãn kinh.

Potassium giúp hạ huyết áp và giảm các biến chứng liên quan đến cao huyết áp và các bệnh tim mạch. Nhiều loại thực phẩm có nguồn gốc thực vật nhiều chất xơ, bao gồm rau, trái cây, các loại hạt, yến mạch, bánh mì nguyên hạt và gạo lứt, là nguồn cung cấp potassium dồi dào.

Chăm sóc các cơ quan quan trọng để có sức khỏe tối ưu

Ông Quách khuyên những người ở độ tuổi 50 nên đặc biệt chú ý đến sức khỏe thận, lá lách, dạ dày và tim.

 

1. Thận

 

BMTheo Trung y, thận chịu trách nhiệm sinh tủy xương. Sự thiếu hụt năng lượng của thận có thể dẫn đến các dấu hiệu lão hóa sớm như đau lưng và đầu gối, chóng mặt, bạc tóc hoặc rụng tóc sớm và lung lay răng. Những vấn đề này thường liên quan đến làm việc quá sức do đó cần tránh gắng sức quá mức để bảo vệ thận.

 

2. Lá lách và dạ dày

 

BMDuy trì nhu động ruột đều đặn và trơn tru là rất quan trọng cho sức khỏe toàn diện. Ông Quách khuyên nên ăn cho đến khi no khoảng 70%. Điều này khiến cơ thể luôn ở trạng thái hơi đói giúp giảm gánh nặng trao đổi chất cho cơ thể.

 

Nhiều người ở độ tuổi 50 có thể gặp các vấn đề về tiêu hóa và nhu động ruột không đều mặc dù đã bổ sung enzyme hoặc men vi sinh. Ông Quách giải thích rằng một số chất bổ sung enzyme có thể chứa các thành phần như chiết xuất hạt quế hoặc sennoside, có tác dụng nhuận tràng. Việc sử dụng các sản phẩm này trong thời gian dài có thể khiến hệ tiêu hóa phụ thuộc vào chúng, dẫn đến mất nhu động ruột tự nhiên. Vì vậy, cách tốt nhất để kích thích nhu động ruột đều đặn là qua ăn uống cân bằng và hoạt động thể chất.

 

3. Tim

 

BMTheo Trung y, trái tim chi phối các mạch máu và làm chủ tinh thần. Điều này cho thấy rằng trái tim đóng một vai trò quan trọng trong việc điều hòa lưu thông máu và quản lý sức khỏe tinh thần. Ông Quách nhấn mạnh rằng cách suy nghĩ có thể ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe. Một thái độ tích cực và vui vẻ có thể nâng cao khả năng tự phục hồi của cơ thể.

 

Ông Quách nhớ lại bức tranh thư pháp được một người bạn tặng khi ông mới bắt đầu kinh doanh. Trên đó viết: “Một trái tim vui vẻ là liều thuốc tốt nhất.” Vào thời điểm đó, ông tin rằng câu nói đó dành cho bệnh nhân, nhưng giờ đây ông xem bức thư pháp như một lời nhắc nhở bản thân.

 

Bí quyết bổ phế cho mùa thu

 

BMNhiều người có xu hướng gặp các triệu chứng ho khi mùa thu đến gần. Trung y nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nuôi dưỡng lá phổi trong mùa này. Do đó, ông Quách đã cung cấp năm thực đơn đơn giản giúp nuôi dưỡng sức khỏe lá phổi.

 

1. Súp củ hoa huệ với thân rễ Ngọc trúc thơm

 

BM

Thành phần: 10 – 20g củ hoa huệ, thân rễ Ngọc trúc thơm và Lan hoàng thảo.

Cách thực hiện: Rửa sạch ba vị dược liệu trên bằng nước lạnh, sau đó đun sôi với nước, và dùng khi đã nguội.

 

2. Trái mơ bỏ hạt hấp với hoa huệ và củ Bối mẫu

 

BMThành phần: Củ hoa huệ, củ Bối mẫu, nhân mơ và trái mơ bỏ hạt mỗi loại 15g.

 

Chuẩn bị: Trái mơ bỏ hạt, sau đó xay thành bột cùng với củ Bối mẫu, củ huệ và nhân mơ. Sau đó hấp bằng nồi hơi đôi với nhiệt độ cao trong 25 phút trước khi dùng.

 

Củ hoa huệ có thể giúp giảm ho và khô họng, thanh nhiệt và duy trì độ ẩm cho lá phổi. Chiết xuất củ hoa huệ, được lên men với Lactobacillus acidophilus, có thể làm giảm tình trạng viêm trong bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), giúp chống tổn thương phổi.

 

Củ Bối mẫu khô đã được sử dụng làm thuốc giảm ho và chữa bệnh hen suyễn từ thời nhà Hán ở Trung Hoa. Thành phần hóa học chính của Bối mẫu là các alkaloid, được biết đến với đặc tính làm giảm ho, đờm và hen suyễn. Củ Bối mẫu đã được sử dụng rộng rãi trong điều trị các bệnh về đường hô hấp khác nhau, bao gồm cả COVID-19.

 

3. Súp nấm tuyết táo tàu

 

 

 

Nguyên liệu: 1 đến 2 miếng nấm tuyết, 2 miếng táo tàu, 3g nhân sâm Mỹ, 10g củ hoa huệ, 10g khoai lang và 5 hạt bạch quả.

 

Chuẩn bị: Ngâm nấm tuyết trước, rửa sạch rồi cắt thành từng miếng nhỏ, sau đó vào nồi và nấu trong khoảng một tiếng. TIếp theo, cho các nguyên liệu còn lại vào nồi và đun nhỏ lửa cho đến khi tạo thành hỗn hợp đặc sệt như súp.

 

4. Cháo củ Bối mẫu và lê tuyết

 

BM

Nguyên liệu: 500g lê tuyết và 100g gạo nếp.

 

Chuẩn bị: Ngâm củ Bối mẫu và gạo nếp vào nước lạnh trong một tiếng. Rửa sạch lê tuyết và thái lát. Sau khi nước sôi, cho củ Bối mẫu và gạo nếp vào, đun nhỏ lửa trong 20 phút. Sau đó, thêm lê tuyết thái lát và đun nhỏ lửa thêm 20 phút.

 

5. Nước giải khát từ 5 loại nước ép

 

BM

Thành phần: Nước ép lê tuyết, nước ép củ sen, nước ép mía, nước ép củ Mạch môn và nước ép củ Mã thầy.

 

Chuẩn bị: Lấy các nguyên liệu với lượng như nhau và ép lấy nước uống.

Ông Quách cũng khuyến cáo ba huyệt trên kinh phổi giúp bổ phế trong mùa thu: huyệt Thiếu thương, nằm ở rìa móng tay cái; huyệt Ngư tế, nằm ở gốc ngón tay cái; và huyệt Liệt khuyết, nằm trên cổ tay.

 

Theo Trung y, kinh tuyến là những kênh năng lượng luân chuyển trong cơ thể con người. Các cơ quan nội tạng được kết nối với bề mặt cơ thể qua các kinh tuyến này. Dọc theo các kinh tuyến là các điểm cụ thể được gọi là huyệt, có chức năng đơn nhất. Bằng cách kích thích các huyệt tương ứng qua các kỹ thuật như châm cứu và xoa bóp, có thể điều trị các bệnh liên quan đến các cơ quan cụ thể.

 

BM

Ông Quách nhấn mạnh rằng sức khỏe không chỉ bao gồm chăm sóc thể chất mà còn bao gồm việc nuôi dưỡng sức khỏe tinh thần. Giữ cho đầu óc thư thái và tuân theo thói quen đều đặn hàng ngày là cách tiếp cận tốt nhất để có được sức khỏe toàn diện.

 

Một số loại thảo mộc được đề cập trong bài viết này có thể không quen thuộc nhưng thường có sẵn ở các tiệm thực phẩm sức khỏe và tiệm tạp hóa Á Châu. Điều quan trọng cần lưu ý là phương pháp điều trị có thể khác nhau tùy theo từng người. Vui lòng tham khảo ý kiến của chuyên gia chăm sóc y tế để có kế hoạch điều trị cụ thể.

 

 

JoJo Novaes & T C Yang  _  Thanh Long

 

Ngọc Lan sưu tầm

 
 

 

Xem thêm...

BỆNH KHÔ MẮT: NGUYÊN NHÂN, TRIỆU CHỨNG VÀ CÁCH ĐIỀU TRỊ

BỆNH KHÔ MẮT: NGUYÊN NHÂN, TRIỆU CHỨNG VÀ CÁCH ĐIỀU TRỊ

 

Dry Eyes — Michele Lee, MD

 

Khô mắt là một bệnh lý phổ biến trong xã hội hiện đại ngày nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau. Bệnh này thường dai dẳng, khó điều trị khỏi hiệu quả hoàn toàn và thường gây ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc sống, sinh hoạt của người bệnh. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu chi tiết về tình trạng khô mắt.

Bệnh khô mắt là gì?

 Bệnh khô mắt xảy ra khi đôi mắt của bạn mất đi sự cân bằng giữa khả năng sản sinh và thoát ra của nước mắt.

Nước mắt của chúng ta vốn là chất lỏng rất cần thiết được tiết ra nhờ tuyến lệ, giúp bảo vệ nhãn cầu và duy trì thị lực sáng rõ. Mỗi lần chúng ta nháy mắt, nước mắt theo đó sẽ dàn đều trên bề mặt của nhãn cầu và giúp nó bôi trơn nhãn cầu.

Dry Eye

Tác dụng của cơ chế điều tiết nước mắt này là giúp chúng ta giữ ẩm cho mắt, giảm thiểu tỷ lệ nhiễm khuẩn ở mắt, rửa sạch bụi, loại bỏ bớt các dị vật vô tình bay vào mắt và duy trì sự sạch sẽ cho bề mặt giác mạc, kết mạc phẳng.

Bệnh khô mắt là gì?

Khô mắt xảy ra khi đôi mắt mất đi cân bằng giữa khả năng sản sinh và thoát ra của nước mắt

Vì một nguyên nhân nào đó khiến cơ chế sản sinh và thoát nước mắt mất đi sự cân bằng vốn có, hình thành tình trạng khô mắt. Cụ thể, bệnh xảy ra khi:

Số lượng nước mắt sản sinh giảm đi

Nước mắt của chúng ta vốn được tiết ra từ các tuyến lệ nằm ở bên trong và quanh mi mắt. Quá trình lão hóa tự nhiên của cơ thể sẽ khiến cho số lượng nước mắt tiết ra ít dần. Hoặc do mắt bị va đập, thương tổn, các bệnh mắt khác , bệnh nền toàn thân, tác dụng phụ của một số loại thuốc cũng có thể khiến mắt chúng ta bị khô.

Đặc biệt, trong điều kiện thời tiết ngày càng biến đổi khắc nghiệt như trời hanh khô hoặc nhiều gió khiến tình trạng khô mắt ngày càng phổ biến do bốc hơi nước nhanh, nước mắt không kịp sản sinh.

Nước mắt tiết ra có chất lượng kém

Nước mắt của chúng ta vốn là một hỗn hợp phức tạp do màng phim sản xuất ra ngoài lớp nước chính còn có lớp lipid và chất nhầy.Mỗi lớp lại giữ một chức năng riêng trong việc bảo vệ cũng như nuôi dưỡng nhãn cầu, cụ thể:

  • Lớp lipid: Giúp hạn chế sự bốc hơi nước của lớp nước.
  • Lớp nhầy: Giúp dàn phẳng nước mắt bên trên bề mặt của giác mạc.
  • Lớp nước: Nhờ sự hỗ trợ của 2 lớp trên, lớp nước giúp bề mặt nhãn cầu đều hơn từ đó cải thiện tầm nhìn, bảo vệ mắt tránh nhiễm trùng.
  • benh-kho-mat

Bệnh khô mắt xảy ra khi nước mắt sản sinh lớp lipid không đủ khiến bốc hơi nhanh hoặc thiếu hụt lớp nhầy khiến nước mắt giàn không đều trên bề mặt giác mạc.

Một số bệnh mắt khác như: Viêm bờ mi, trứng cá đỏ tác động trực tiếp đến sự sản sinh lớp nhầy, gây ra sự xáo trộn ở lớp lipid và lớp nhầy cũng dẫn đến bệnh khô mắt.

Bệnh khô mắt có nguy hiểm không?

Khô mắt là một bệnh phổ biến trong xã hội hiện đại ngày nay. Bệnh có khả năng kéo dài  tính và rất khó để hồi phục hoàn toàn. Khô mắt không thể được khắc phục nhanh chóng dù mắt có được nghỉ ngơi sau một giấc ngủ dài vào ban đêm. Sau khi thức giấc, dù đã ngủ đủ nhưng vẫn khiến cho người bệnh có cảm giác mệt mỏi, uể oải, buồn ngủ…

Khô mắt khiến bạn thường xuyên có cảm giác mỏi mắt, buồn ngủ

Tuy đây không phải là một bệnh quá nguy hiểm nhưng khô mắt có thể làm ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Cơ thể mệt mỏi, buồn ngủ sẽ làm giảm hiệu suất trong công việc, học tập. Khi diễn biến nặng hơn bệnh sẽ gây suy giảm thị lực.

Khô mắt nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, để lâu dài bệnh diễn biến thành mạn tính, giảm đi nguồn cung cấp dinh dưỡng cho giác mạc, khiến thị lực của người bệnh giảm dần, đôi mắt luôn có cảm giác bỏng rát và trĩu nặng, xuất hiện các tổn thương bề ngoài giác mạc.

Trong tất cả các trường hợp, người bệnh tuyệt đối không được tự xử lý y tế tại nhà. Tự điều trị khô mắt nếu sai cách sẽ dẫn đến biến chứng sang các bệnh nguy hiểm khác ở mắt như: Nhiễm trùng mắt, tổn thương, viêm, loét giác mạc… để lại hậu quả cuối cùng là mù lòa vĩnh viễn.

Vì vậy ngay khi gặp phải các bất thường ở mắt nghi ngờ khô mắt, người bệnh nên đi gặp bác sĩ để được khám, chẩn đoán và điều trị đúng cách, hạn chế tối đa các tổn thương nặng nề cho mắt.

 

Bệnh khô mắt có nguy hiểm không?

Khô mắt kéo dài có thể để lại nhiều biến chứng nguy hiểm cho mắt

 

Các triệu chứng/ dấu hiệu nhận biết bệnh khô mắt

Khô mắt khiến cho bạn luôn có cảm giác bỏng rát, mệt mỏi do bề mặt giác mạc không được bảo vệ và bôi trơn tốt. Một số dấu hiệu đặc trưng của bệnh như:

  • Cảm giác mắt khô, rát, cộm, như có cát vô tình lọt vào mắt.
  • Đỏ mắt, nóng mắt.
  • Nước mắt chảy liên tục không kiểm soát do bị kích thích.
  • Mắt kém thị lực sau khi chớp mắt nhìn mọi vật thấy lờ mờ, nhìn khó gây ảnh hưởng đến các hoạt động động hàng ngày.
  • Ghèn trắng hoặc vàng xuất hiện nhiều hơn bình thường ở 2 bên hốc mắt.

Khi bệnh gia tăng cấp độ nặng sẽ gây tổn thương bề mặt nhãn cầu và suy giảm thị lực nhiều.

 

Các triệu chứng/ dấu hiệu nhận biết bệnh khô mắt

Khô mắt khiến cho cửa sổ tâm hồn của bạn luôn có cảm giác bỏng rát

 

10 nguyên nhân phổ biến gây bệnh khô mắt

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng khô mắt. Dưới đây sẽ là tổng hợp 10 nguyên nhân phổ biến nhất dễ gây ra tình trạng khó chịu ở mắt này:

1. Do quá trình lão hóa tự nhiên

Quá trình lão hóa tự nhiên của cơ thể kéo theo sự lão hóa dần của mắt. Những người trung niên và cao tuổi là những đối tượng có nguy cơ cao mắc phải nhiều bệnh lý ở mắt, trong đó có khô mắt. Theo nghiên cứu, những người ở độ tuổi trên 65 thường gặp phải một số triệu chứng điển hình của bệnh khô mắt.

Nếu mắt không được chăm sóc tốt trong một khoảng thời gian dài có thể khiến quá trình lão hóa diễn ra nhanh hơn.

2. Do đặc điểm giới tính

Do quá trình lão hóa tự nhiên
Quá trình lão hoá tự nhiên của cơ thể kéo theo sự lão hoá ở mắt

Tỷ lệ khô mắt ở nữ giới thường cao hơn đàn ông do đặc điểm giới tính. Phụ nữ thường gặp phải tình trạng khô mắt nhiều hơn sau khi mang thai, sinh sản do sự thay đổi hormone trong cơ thể.

Ở một số người lạm dụng thuốc tránh thai hoặc phụ nữ bước vào thời kỳ mãn kinh khiến hormone trong cơ thể biến đổi bất thường cũng dễ gặp phải tình trạng khô mắt.

3. Do tiền sử dùng thuốc

Những người có tiền sử bệnh nền toàn thân phải sử dụng 1 số nhóm thuốc trong thời gian dài như: Thuốc ổn định huyết áp, nhóm thuốc kháng histamin chống kích ứng, thuốc kháng viêm steroid, nhóm thuốc giảm đau… Có thể khiến số lượng nước mắt tiết ra bị giảm dẫn đến tình trạng khô mắt.

Do tiền sử dùng thuốc
Người có tiền sử bệnh nền toàn thân phải sử dụng 1 số thuốc trong thời gian dài dễ bị khô mắt

 

4. Biến chứng của một số bệnh tại mắt và toàn thân

Bệnh khô mắt thường tìm thấy ở những người mắc phải bệnh nền toàn thân như: Bệnh tuyến giáp, đái tháo đường, viêm khớp dạng thấp… do bị thiếu hụt vitamin A.

Mắt gặp phải tình trạng viêm, nhiễm trùng ở mi mắt hay trên bề mặt nhãn cầu, những bất thường ở mi mắt cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến tình trạng khô mắt.

 

5. Do môi trường sống

Những người thường xuyên hút thuốc lá nhiều hoặc tiếp xúc nhiều với khói thuốc sẽ có nguy cơ cao bị khô mắt.

Ở những người thường xuyên làm việc, sinh sống trong điều kiện thời tiết hanh khô hay môi trường nhiều gió làm tăng khả năng bốc hơi nhanh của nước mắt dễ gây ra tình trạng khô mắt.

Khô mắt còn rất phổ biến trong xã hội hiện đại ngày nay ở những dân văn phòng, thường xuyên tiếp xúc với máy tính trong thời gian dài hoặc làm một việc gì đó quá tập trung như đọc sách, lái xe mà để lâu không chớp mắt dễ dẫn đến khô mắt.

 

Do môi trường sống
Môi trường sống ngày càng ô nhiễm là nguyên nhân gây ra nhiều bệnh mắt

 

6. Do biến chứng của phẫu thuật mắt

Một số phẫu thuật trên bề mặt của giác mạc hay kết mạc như phẫu thuật lasik trong điều trị các tật khúc xạ, phẫu thuật phaco trong điều trị bệnh đục thủy tinh thể … có thể để lại một số biến chứng cho mắt, trong đó điển hình là tình trạng khô mắt.

 

7. Do tổn thương ở tuyến tuyến lệ đạo

Ở mắt của chúng ta, tuyến lệ là bộ phận có vai trò đảm nhiệm chức năng chính trong trong việc sản xuất ra nước mắt. Khi tuyến lệ gặp phải tình trạng viêm nhiễm do virus, vi khuẩn tấn công hoặc thương tổn do ảnh hưởng của hóa chất, bức xạ khiến nó hoạt động kém đi. Từ đó diễn biến thành bệnh khô mắt.

 

8. Do sử dụng kính áp tròng trong thời gian dài

Những người mắc tật khúc xạ ở mắt như: Cận thị, viễn thị, loạn thị… phải sử dụng kính trong một thời gian dài hay những người sử dụng kính áp tròng không đúng cách đều là những yếu tố phổ biến gây khô mắt.

 

Contact Lenses for Dry Eyes | Ophthalmology in Chapel Hill, NC | Chapel  Hill Ophthalmology

 

9. Do ăn uống thiếu lành mạnh

Một chế độ ăn uống thiếu khoa học, không cung cấp đủ các dưỡng chất cần thiết duy trì sức khỏe cho đôi mắt như: Các loại vitamin, omega-3, sắt, kẽm, chất chống oxy hóa… Thiếu hụt các chất dinh dưỡng lâu dài cũng dễ gây nên bệnh khô mắt. Việc ăn uống thiếu hụt các dưỡng chất, đặc biệt là tình trạng thiếu Vitamin A và bệnh khô mắt ở trẻ em có mối liên hệ mật thiết với nhau.

 

10. Do stress, căng thẳng quá mức

Những người thường xuyên ở trong trạng thái căng thẳng, áp lực với công việc, cuộc sống cũng dễ gặp phải các tổn thương ở mắt, trong đó có bệnh khô mắt. Stress khiến người bệnh luôn ở trạng thái căng thẳng thần kinh, áp lực, lo lắng mất ăn mất ngủ.

Mắt vì thế không được nghỉ ngơi đủ, phải điều tiết, làm việc thường xuyên dẫn đến sự mất cân bằng ở khả năng tiết nước mắt gây ra tình trạng khô mắt.

Do stress, căng thẳng quá mức
Người bị stress kéo dài dễ gặp phải các vấn đề thương tổn ở mắt

 

Các biến chứng có thể gặp phải

Bệnh nhân bị khô mắt giai đoạn nặng có thể gặp phải một số biến chứng nguy hiểm sau:

  • Nhiễm trùng ở mắt: Nước mắt của chúng ta vốn có tác dụng bảo vệ mắt khỏi tình trạng nhiễm trùng. Nếu không cung cấp đủ nước mắt trong thời gian dài có thể làm tăng nguy cơ bị nhiễm trùng ở mắt.
  • Tổn thương bề mặt mắt: Bệnh khô mắt nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời để chuyển biến sang giai đoạn nặng có thể làm, bề mặt giác mạc bị trầy xước, loét giác mạc, suy giảm thị lực nghiêm trọng.
Các biến chứng có thể gặp phải
Khô mắt kéo dài có thể gây nhiễm trùng ở mắt và tổn thương bề mặt nhãn cầu

 

Các biện pháp chẩn đoán bệnh khô mắt

Khô mắt gây nhiều ảnh hưởng đến cuộc sống, sinh hoạt của người bệnh. Để lâu bệnh dễ diễn biến thành khô mắt mạn tính, gây suy giảm thị lực nghiêm trọng. Cùng với những phác đồ điều trị phù hợp cho từng trường hợp mắc bệnh thì sự tuân thủ nghiêm túc của người bệnh chính là yếu tố quan trọng tiếp theo góp phần rất lớn vào việc khắc phục bệnh.

Khô mắt được chẩn đoán dựa trên kết quả khám mắt tổng quát cùng với một số xét nghiệm chuyên môn để xác định số lượng cũng như chất lượng của màng phim nước mắt. Cụ thể:

  • Kiểm tra tiền sử của người bệnh: Trong quá trình thăm khám bác sĩ sẽ dựa vào tiền sử dùng thuốc, đặc biệt là các loại thuốc nhỏ mắt người bệnh đã dùng cũng như các bệnh nền của bệnh nhân, các triệu chứng khó chịu người bệnh đang gặp phải. Bên cạnh đó là môi trường sống, sinh hoạt, làm việc hay học tập của người bệnh hàng ngày

 

  • Kiểm tra nhãn cầu: Bác sĩ tiến hành xem xét khu vực bên ngoài nhãn cầu, sự hoạt động của mi mắt để xác định bất thường: Mi mắt có bị lật ra ngoài không hay khi người bệnh nhắm mắt có bị hở mi không… Cùng với đó là kiểm tra tần suất chớp mắt của người bệnh.

 

  • Kiểm tra tổn thương của kết mạc, giác mạc và mi mắt: Bác sĩ sử dụng máy sinh hiển vi với đèn khe có độ phóng đại lớn hơn gấp 10 đến 16 lần để kiểm tra các tổn thương khu vực bên ngoài của nhãn cầu.

 

  • Đánh giá số lượng, chất lượng nước mắt: Bác sĩ sẽ chỉ định người bệnh thực hiện thêm một số xét nghiệm ở màng phim nước mắt để đưa ra kết luận sau cùng, bệnh nhân có đang gặp phải tình trạng khô mắt không.

 

chẩn đoán khô mắt
Khô mắt được chẩn đoán dựa trên kết quả khám mắt tổng quát cùng xét nghiệm chuyên môn

Phương pháp điều trị khô mắt

Sau khi kết luận chính xác người bệnh đang gặp phải tình trạng khô mắt, bác sĩ sẽ đưa ra lời khuyên cũng như phương pháp điều trị phù hợp nhất. Đa phần các trường hợp bệnh nhân khô mắt đều được chỉ định điều trị, sử dụng thuốc tại nhà.

  • Sử dụng nước mắt nhân tạo: Thông thường với những trường hợp khô mắt nhẹ sẽ được chỉ định dùng nước mắt nhân tạo có độ nhờn cao, không chất bảo quản. Một số loại nước mắt phổ biến như: Systane, Genteal… Hoặc một số loại nước mắt nhân tạo ngoài cung cấp độ nhờn còn có nhiều công dụng tối ưu hơn như: Cấp ẩm tốt, hạn chế bốc hơi nước góp phần bảo vệ bề mặt nhãn cầu… Thường được chỉ định sử dụng với các trường hợp bệnh tiến triển nặng hơn.
  • The 11 Best Eye Drops to Relieve Dry Eyes

 

  • Dùng thuốc làm tăng tiết nước mắt: Nhóm thuốc chuyên dụng này chỉ được phép sử dụng khi có sự cân nhắc kỹ lưỡng, thông qua của bác sĩ. Chúng giúp kích thích sự bài tiết nước cùng chất nhầy ở mắt. Nhóm thuốc này thường được chỉ định sử dụng cùng nước mắt nhân tạo với những bệnh nhân khô mắt diễn biến nặng hơn.
  • Rolando Toyos on X: "Dry Eye Disease med eye drops - what is the difference  between Restasis and Xiidra https://t.co/rcxcefFUfG  https://t.co/yUHtzo9t12" / X

 

  • Dùng thuốc điều trị viêm bờ mi, viêm bề mặt nhãn cầu: Sử dụng thuốc giảm viêm được chỉ định sử dụng ở những trường hợp người bệnh gặp phải các tổn thương ở mí mắt. Thông thường các loại thuốc mỡ tra mắt thường được ưu tiên dùng nhiều.

 

  • Phương pháp duy trì phim nước mắt: Biện pháp này nhằm ngăn không cho nước mắt chảy qua đường lệ hay giúp người bệnh giữ cho nước mắt ở lại lâu hơn bằng cách: Nút các điểm lệ lại bằng nút silicon hay phẫu thuật đóng lại điểm lệ vĩnh viễn. Thủ thuật xâm lấn này thường được chỉ định khi điều trị nội khoa bằng nước mắt nhân tạo cùng các loại thuốc khác không thể cung cấp đủ độ ẩm cho mắt, tuy nhiên rất ít người bệnh được chỉ định dùng đến phương pháp này.

Người bệnh phải sử dụng thuốc tuân thủ chỉ định của bác sĩ về liều dùng cũng như cách sử dụng. Duy trì vệ sinh mắt thường xuyên bằng nước muối sinh lý, chườm ấm cho mắt thường xuyên. Tái khám mắt định kỳ theo lịch hẹn của bác sĩ để theo dõi diễn biến bệnh lý, tình trạng phục hồi của mắt.

 

Cách phòng ngừa khô mắt

Khô mắt kéo dài sẽ khiến cho thị lực suy giảm nghiêm trọng. Một số biện pháp sau đây sẽ giúp bạn đề phòng cũng như giảm thiểu tối đa nguy cơ của bệnh khô mắt:

  • Chớp mắt thường xuyên

Bạn hãy duy trì thói quen chớp mắt thường xuyên từ 12 - 18 lần/phút, đặc biệt là khi phải tập trung làm một việc gì đó trong thời gian dài như: Đọc sách, xem tivi, làm việc trên máy tính liên tục hay lái xe trong khoảng thời gian dài…

  • Uống đủ nước mỗi ngày

Uống đủ 2 lít nước mỗi ngày để cung cấp đủ nước, độ ẩm cho cơ thể, duy trì cân bằng cho hoạt động, sinh hoạt hàng ngày cũng như phòng ngừa nguy cơ thiếu hụt nước của cơ thể dẫn đến tình trạng khô mắt. Nước còn giúp đào thải bớt các độc tố bên trong cơ thể.

 

Cách phòng ngừa khô mắt
Duy trì thói quen uống đủ 2 lít nước mỗi ngày

 

  • Bảo vệ mắt tránh xa các tác nhân gây hại

Thiết lập thói quen ra ngoài đeo kính râm để bảo vệ đôi mắt bạn tránh khỏi các tác nhân gây hại từ môi trường, thời tiết như: Nắng nóng, ánh sáng gay gắt, gió, khói bụi… tác động xấu đến vùng mắt gây bệnh khô mắt.

 

  • Thiết lập chế độ sinh hoạt khoa