Truyện

Truyện (253)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Những Khởi Đầu Của Một Gã Tha Hương - Yên Sơn

Những Khởi Đầu Của Một Gã Tha Hương

YÊN SƠN

 

 

Hắn cứ sống với sức sống vươn lên trong cái ảo tưởng, mơ hồ như một người khách la.ï Hắn luyến tiếc quá tuổi thanh xuân cho nên rất ít khi hắn công nhận là hắn đã đứng bên kia một nửa cuộc đời! Hắn không sợ già nhưng hắn không muốn chấp nhận. Chưa làm được việc gì nên trò nên trống mà đã già rồi nghe thê thảm lắm! Hắn vẫn thường nói đùa với bạn bè, người quen là hắn sẽ không bao giờ quá 50 tuổi! Ai nghe qua cũng ngơ ngác trước khi hắn cười hiền giải thích: "kế tiếp 50 sẽ là 49 đến 48, 47... 40 rồi quành lại 41, 42... và cứ thế!

Có thể trong chiến tranh khốc liệt xưa kia, hắn đã không thể sống hết mình, sống buông thả như bao nhiêu người khác. Hắn đã sống một cuộc sống mà người đời thường cho là mẫu mực, nề nếp vì hắn tự nguyện đánh ván bài "được ăn cả, ngã về không", có nghĩa là nếu số phận an bài cho hắn sẽ làm được gì trong đời thì nhất định không thể chết bất tử được. Hắn lo xây dựng tương lai trước sự ra đi vội vã của bạn bè hàng ngày; hắn cố bồi đắp cho tương lai trong những hoang tàn, đỗ nát, khốc liệt của chiến tranh... Hắn đã nghĩ "nếu có chết cũng nên chọn cái chết oai hùng trong sự thanh bạch bản thân để trả ơn tác tạo của mẹ cha, và để lại cho những người thân yêu niềm thương mến và hãnh diện". Thế nên ở đơn vị nào, bay loại máy bay nào hắn cũng xông pha, cũng tình nguyện. Hắn không bao giờ từ chối khi có bạn bè nhờ đi bay thế khi bận chuyện riêng tư, chuyện gia đình... dù ở đâu, lúc nào hắn cũng nghe kháo là "đi bay thế rất dễ lên bàn thờ". Rất điển hình, có thằng bạn cùng tên khác họ với hắn, ngày xưa cùng chung đơn vị, đang ở gần đây. Bạn bè lâu lâu tụ tập lại với nhau để biết là còn có nhau. Bao giờ cũng thế, chuyện mới chỉ là chuyện áo cơm, rất ít; chuyện cũ ai cũng thuộc lòng, nói hoài vẫn như mới! Người bạn bao giờ cũng tìm dịp nhắc lại cho người chung quanh biết là ngày xửa, ngày xưa, khi nó mê đắm vợ nó bây giờ thường hay nhờ vã hắn bay thế... Và cứ thế, tuổi thanh xuân của hắn cứ ngày một ngày hai phiêu bồng với mây, với gió, với nắng, với mưa trên khắp vùng trời miền Nam nước Việt...

Ôi những toan tính rốt cuộc cũng bất chợt chạy bạt mạng theo đoàn người di tản buồn, không một lời từ giã; không biết mình đi đâu, về đâu vào buổi trưa ngày 29 tháng 4 năm 1975 giữa tiếng bom đạn vang rền, giữa những hổn loạn cùng cực! Bất chợt đến nỗi không kịp mang theo người yêu dấu chỉ ở cách phi trường 45 phút chạy Honda! Cũng may là "ngã nhưng chưa về không" mà "ngã" cho hắn thêm nhiều cay đắng, đau thương hơn khi nhận ra mình phải sống đời tha hương, viễn xứ, để lại sau lưng một quê hương nghiệt ngã, rách nát; để lại sau lưng bao tình thâm, nghĩa trọng, bao ơn nợ bạn bè! Những chặng đường hắn đã đi qua từ khi tan đàn sẫy nghé thật lắm gian truân. Hắn may mắn một cách nhiệm mầu bốc theo được hai đứa em trai đang theo học ở Saigon - hai đứa rủ nhau chạy tìm anh ở khu cư xá độc thân, trong phi trường, từ chiều hôm trước - mà tiếng Anh của cả hai khi giao thiệp lại rất mỏi tay!

Sau vài tuần lễ trong trại tỵ nạn Eglin AFB ở Florida, anh em hắn được bà già nuôi người Mỹ, ở San Antonio, bảo lãnh ra khỏi trại tỵ nạn vào một trưa thứ Bảy cuối tháng 5/1975.

Bà già nuôi là vợ của một cố Trung Tá Không Quân Mỹ thời đệ nhị thế chiến. Bà chia sẻ tuổi già với đứa con trai trung niên, ly dị vợ con, trong một căn nhà gạch cũ. Lợi tức của hai mẹ con là tiền cho thuê mấy mẫu nông trại cộng với tiền hưu bỗng ít ỏi! Ở bà, hắn thấy bà giàu nhất ở tấm lòng quý hiếm. Hắn đã gặp và thân quen với bà từ những ngày vỗ cánh tập bay trên đất nước này vào mùa Thu năm 1969, giữa những háo hức tuổi trẻ và bầu nhiệt huyết tràn đầy mà tương lai và mộng ước ngập tầm tay, với niềm tự hào là một trong những đứa con tuyển chọn của đất nước Việt Nam. Tình cảnh bây giờ hoàn toàn trái ngược! Gặp lại bà trong thân phận một gã tỵ nạn, một thằng chiến bại với những ước mơ cùn lụt, lụi tàn! Hắn đã cúi đầu rơi nước mắt với những dòng suy tư hụt hẫng đó. Hắn là người cứng cỏi, hay ít nhất cũng làm ra vẽ, rất ít khi rơi nước mắt vô nghĩa; thế mà từ dạo cuối tháng tư đến nay, nước mắt ở đâu cứ chực tuôn trào! Hắn nhìn bà đầy mặc cảm pha trộn quý mến, cùng lúc thoáng trong tâm tư muộn phiền của hắn có chút cay đắng nghĩ về những người bạn đồng minh đã đành lòng ngoảnh mặt, quay lưng với dân tộc hắn! Trên đường từ phi trường về, hắn nhận ra những lối cũ thân quen, cũng những xa lộ tròng tréo lên nhau, với I.10 chạy mịt mù về miền viễn tây nước Mỹ xa xăm như cuộc đời vô định của anh em hắn mở ra trước mắt! Chốc chốc hắn lại thở dài, vũng buồn trào dâng mênh mang như những đại dương bao la dưới cánh phi cơ trên những chặng đường tỵ nạn! Hắn ao ước có cái cớ gì để hắn có thể bật khóc cho vơi bớt những u uất trĩu nặng trong tâm hồn!

Sáng Chủ Nhật, anh em hắn theo chân bà già đi lễ nhà thờ! Bà bảo sẽ giới thiệu với người trong họ đạo có thể sẽ được mướn đi làm! Mặc dù hắn đã chuẩn bị tinh thần để bắt đầu cho cuộc sống mới từ trong trại, nhưng vẫn ngỡ ngàng khi nghe bà nói ba chữ "mướn đi làm". Từ hồi nào tới giờ hắn chỉ quen với các cụm chữ "đi chơi, đi học, đi lính, đi bay". Bây giờ cũng là chữ "đi" quen thuộc nhưng chữ "mướn" ở trước và chữ "làm" theo sau! "Mướn đi làm"! Cụm chữ đối với hắn như là một xác nhận đau đớn! Trong thâm tâm hắn có cái gì lạ lẫm lẫn bàng hoàng! Hắn than thầm: "thế là hết thiệt rồi một đời ngang dọc!" Nước mắt hắn lại chực rơi! Ôi quê hương tổ quốc! Ôi những người thân thương! Suốt buổi lễ hắn ngồi nghiền ngẫm trận chiến nội tâm, thỉnh thoảng lẩm bẩm ba chữ "mướn đi làm" như một gã điên! Hai đứa em, bốn mắt nhìn lạc lõng!

Lễ đã xong mà sao anh em hắn vẫn ngồi yên một chỗ, dường như có nhiều cặp mắt bám chặt anh em hắn. Hắn triền miên chao đảo và không biết hai đứa em nghĩ gì! Cả ba lúng túng, vụng về chưa biết xoay trở làm sao thì bà già tiến đến với một trung niên da trắng, tóc vàng. Bà giới thiệu hai bên ngập ngừng bắt tay tay bắt để cuối cùng biết rằng, kể từ sáng mai, Mike sẽ tới nhà bà đón hắn đi phụ việc bảo trì nhà cửa. Mike bảo hắn yên tâm, chỉ làm thợ vịn và học được chút gì hay chút đó; hắn chỉ làm part time và được trả $2/giờ! Bà già mừng rối rít, còn hắn thì lí nhí cám ơn, bộ điệu ngập ngừng không ra thể thống nào cả! Số là trong đầu óc máy móc của hắn những con số đang chạy rì rào: "$2/giờ vị chi $16/ngày, hay ít nhất cũng $320/tháng nhân cho khoảng 1.000 tiền Việt Nam cho mỗi đô la... whoa! Con số hắn chưa từng có suốt đời học trò cũng như lương sĩ quan phi công Việt Nam một trời ngang dọc!" Hắn thấy chát đắng trong miệng, mắt chợt mờ câm! Nhìn lại các em và chính bản thân hắn với bộ áo quần duy nhất của mỗi người đã mặc theo trong lúc chạy loạn, dường như chỉ một thoáng thôi niềm vui chợt đến rồi vội đi!

Ở trại tỵ nạn người ta cũng phát đồ cũ, anh em hắn cũng lựa được vài ba bộ khả dĩ nhưng vẫn thùng thình; thế nên khi nào có dịp cho bảnh bao thì vẫn phải mặc bồ đồ Việt Nam duy nhất, dù đã cũ nhưng vô cùng thân thiết! Bà già thấy hắn lúng túng vội đỡ lời, nói với Mike chắc là hắn "shy" (mắc cỡ) và vốn dĩ ít nói!
7 giờ sáng hôm sau là một ngày mới, một cuộc đời mới của hắn. Hắn ngoan ngoãn làm tất cả những gì thằng Mike biểu làm; hắn làm ngon lành, mau lẹ dù có lúc hắn thật sự rơi nước mắt - Chỉ một tháng thôi mà đã nghìn trùng xa cách, mà đã voi chó đổi đời! - Từ quét rác, lau cầu tiêu, cắt ráp kính cửa sổ đến sơn quét... đủ cả! Cái gì nó chỉ là hắn làm được ngay, nó có vẻ hài lòng lắm!

Buổi chiều trên đường về, thằng Mike đưa ngón tay cái lên trước mặt hắn rồi nói: "you are good, you are number one!" (mày hay quá, mày số một!) Hắn gượng cười cám ơn trả lễ nhưng trong thâm tâm hắn, hắn sôi nổi nghĩ rằng: "máy bay mà tao còn lái đủ loại sá chi công việc không cần đầu óc này!" Hắn xoay người ra cửa sổ như mải mê với cảnh vật chung quanh nhưng cốt để dấu đôi mắt đỏ mọng nước! Hắn bắt đầu thấy giận hắn sao mau nước mắt, sao trở nên ủy mị quá chừng!

Để tránh buồn phiền, hắn bắt đầu tập võ ở vườn sau mỗi chiều đi làm về. Một hôm, John đề nghị đưa hắn đi thăm trường dạy võ gần nhà. Hắn hăng hái đi liền. Không biết John nói gì với ông thầy trong văn phòng mà hắn được ông ta tiếp đãi niềm nỡ. Ông ta là một huyền đai tam đẳng, Mỹ trắng, tên Guidry, khoảng hơn 30 tuổi, tính tình có vẻ hiền hòa. Trước khi ra về, ông ta ngỏ ý welcome hắn tới tập bất cứ lúùc nào, ông sẽ tặng võ phục và không phải trả tiền gì cả. Được lời như cởi tấm lòng!

Thế là ngày đi làm vất vưởng, tối về đi bộ đến trường tập võ cho quên đời. Sau một tuần lễ siêng năng tập luyện, ông thầy đề nghị hắn giúp ông dạy hai lớp tối, cách ngày và mỗi lớp 1 tiếng 15 phút; mỗi tuần ông trả $10 tiền mặt. Còn gì mừng hơn, vừa có cơ hội tập luyện, vừa được tiền!

Dạy được một tuần thì xảy ra chuyện! Số là có hai huấn luyện viên dạy ở đó đã lâu - một Mỹ đen 2 đẳng, Mễ bự con 1 đẳng - có lẽ thấy hắn là ma mới nên tính dằn mặt, rủ hắn đấu giao hữu! Hắn đã thấy những ánh mắt không chút thiện cảm của hai đứa này từ lúc nhập trường.

Hắn nói nhỏ với hai đứa là hắn không thích các huấn luyện viên đấu nhau trước mặt võ sinh. Hai thằng cùng nói đâu có sao, ở đây thầy trò còn đấu nhau nữa huống chi chúng ta là huấn luyện viên; hơn nữa đây cũng là cách hướng dẫn cho võ sinh! Hắn tỏ ý không muốn nhưng hai thằng kia cứ ép buộc. Thiệt tình hắn đâu có sợ đấu bao giờ vì xưa kia đã là một trong bốn cột trụ của võ đường Thiếu Lâm Bắc phái Phú Nhuận, và đã một thời mưa gió trên các võ đài tự do từ Saigon ra Đà Nẵng, chưa kể hắn còn là một tuyển thủ Thái Cực Đạo có hạng của Không Quân Tân Sơn Nhất!

Hắn giao hẹn chỉ đấu giao hữu thôi sau khi được sự khuyến khích của ông chủ. (Hắn nghĩ chắc ông chủ cũng muốn thử tài hắn!) Đấu giao hữu là không cố tình gây thương tích nhau. Nhưng thằng Mễ mất dạy vừa ra tay đã muốn hạ độc thủ, cứ xông vào như con trâu cui, không có đòn thế gì cả, lại còn cứ mặt hắn mà đấm! Hắn mà không nhanh tay lẹ mắt thì lỗ mũi ăn trầu như chơi. Hắn chỉ dùng đôi chân nhanh lẹ né tránh dễ dàng. Cứ như mèo bỡn chuột khiến thằng Mễ tức giận sau một hồi đánh không khí. Hắn dừng lại hỏi "mày đấu Thái Cực Đạo hay đấu Quyền Anh? Đấu Thái Cực Đạo không được đấm vô mặt!"... nhưng có lẽ thằng Mễ không hiểu tiếng Mỹ của hắn hay sao nên cứ cái mửng cũ tấn công hoài. Hắn đã nhường vì thấy khả năng của thằng giặc này không bằng võ sinh đai xanh đậm của Việt Nam, phần nữa nó lại thấp đẳng hơn; nhưng hoàn cảnh trước mắt hắn không thể kéo dài hơn được... tự nhủ nếu không nặng tay sợ nó không phục. Hắn dừng lại cảnh cáo thêm lần nữa như thể... phân bua với cả trường trước khi dạy cho nó bài học lễ độ! Chờ thằng con xông tới, hắn không né nữa mà co chân trái lên dùng đầu gối cản sức tới của nó, tay trái đánh nhứ vô mặt địch thủ cùng lúc chân trái đặt xuống, chân phải nhanh như cắt quạt gót 360 độ... nếu hắn không lưu tình co bớt chân, dùng mũi bàn chân thay gót, chắc thằng con đã đo ván. Dù vậy, lỗ mũi nó cũng đã ăn trầu! Cả lớp vỗ ta! Thằng Mễ chưa kịp lên tiếng thì thằng Mỹ đen đã la lên:


- Tại sao mầy vừa nói đấu Thái Cực Đạo không được đấm vô mặt mà mày làm?
- Nó bị đòn chân của tao rõ ràng mà sao mày lại nói tao đấm!
- Tao thấy mày đấm trúng mặt nó trước khi mày quay gót!
Hắn quay hỏi ông chủ:
- Guidry, ông nghĩ sao?
- Có lẽ mày đánh lẹ quá nên tao cũng không chắc thấy!
-Mày đấm vô mũi tao! Thằng Mễ nói.
-Mày muốn xem lại đòn chân vừa rồi không?
Hắn cười hỏi.
Thằng Mễ chưa kịp trả lời thì thằng đen lên tiếng:
- Tao muốn thử đòn chân của mày!
Thấy tình hình căng thẳng, hắn có chút e ngại nhìn ông chủ, thấy ông ta gật đầu và nói:
- Đấu giao hữu với nhau đừng để mất hòa khí!
- Mày nghe không Larry! Hắn nói với thằng đen như cố tình chọc giận nó.

Thằng đen không nói thêm một lời, thủ bộ đợi chờ, hai con mắt tròng trắng nhiều hơn tròng đen ngó hắn không chớp. Hắn thủ bộ với tiếng hét "ki-ai" để thị oai làm mọi người giật mình. Thằng đen tức tốc ra đòn mạnh bạo. Đôi chân nó di chuyển khá nhuần nhuyễn. Hắn nhủ lòng phải cẩn thận hơn rồi lại dùng tài tránh né để thăm dò lối đánh của đối thủ. Quái lạ, lũ này học Thái Cực Đạo mà dùng tay như quyền Anh, chân đá không cao hơn ngực! Dù vậy cú đá ngược chân phải của nó cũng khá thần tốc, còn chân trái rất giới hạn, chỉ đá phang ống yếu xìu! Nó hay xông vô đấm liên hoàn xong là đá ngược; còn mỗi lần phang ống thì lui lại thủ thế! Lúc thằng đen phang lần thứ ba, hắn đưa ống chân trái lên chịu, thằng con đau quá nhăn mặt, chưa kịp lùi thì đã lãnh trọn cú đá ngược thẳng vô ngực, ngã ngồi ra đằng sau. Mọi người cùng ồ lên rồi vỗ tay tán thưởng. Cũng may là hắn đã giảm lực và thằng đen có mang áo giáp chứ không thì đã chết giấc! Hắn đưa tay đỡ đối thủ dậy nhưng thằng đen đã làm lơ tay hắn, tự đứng lên. Hắn xin lỗi đã lỡ chân! Giudry đứng dậy biểu cả ba người bắt tay và chấm dứt buổi tập. Thằng đen bắt tay lấy lệ mà mắt thì lườm dữ dằn!

Tan lớp, Guidry giữ hắn lại. Hắn nghĩ là có chuyện rồi đây. Nhưng không, Guidry chỉ nói là ông ta rất thích lối đánh, nhất là thái độ của hắn. Dù vậy cũng nên cẩn thận. Guidry hỏi hắn dự thi đấu ở Houston vào cuối tuần tới. Ông ta nói sẽ cùng đi với võ đường và ông sẽ đóng tiền dự thi cho hắn, $20 cho cả thi quyền và đấu. Lúc đó số tiền $20 rất lớn đối với hắn (xăng 40 xu/gallon; thuốc lá 15 xu/gói). Hắn ngần ngại nhưng Guidry ép hắn nhận lời rồi cười nói sẽ không trừ tiền hàng tuần đâu mà lo. Hắn cám ơn Guidry rồi ra về.

5:30 giờ sáng sớm thứ Bảy mọi người lục tục lên xe 15 chỗ ngồi, khởi hành ngay cho kịp 10 giờ sáng khai mạc! Từ San Antonio tới Houston với hơn chục võ sinh các cấp, có cả hai thằng ông nội. Suốt chặng đường ba người không trao đổi với nhau một lời!

Lần đầu tiên tham dự đấu võ bên Mỹ, hắn không sợ nhưng cảm thấy hồi hộp! Trên xe, Guidry giảng giải cho hắn và mọi người biết thể lệ thi cử. Xe chỉ dừng lại đổ xăng và cho mọi người đi xả bầu tâm sự, vậy mà đến nơi cũng hơn 9 giờ! Guidry bảo mọi người tự túc mua đồ ăn tại chỗ, hắn thấy giá đắt quá không ăn và đi ra một góc ôn quyền.

Thi quyền buổi sáng. Vận động trường là một sân đấu bóng rổ của trường Đại học Houston, vậy mà đầy nghẹt người thi đấu. Rất đông người về từ các thành phố và tiểu bang lân cận. Nhóm huyền đai của hắn có cả thằng Mỹ đen cùng trường! Chờ đến khi hắn thi quyền đã gần 1 giờ trưa. Giám khảo là hai ông thầy Đại Hàn và một Mỹ đen. Kết quả, Đại Hàn nhất, Mỹ trắng nhì, thằng đen hạng Ba, còn hắn... lọt sổ! Hắn vẫn thù tụi Đại Hàn bao giờ cũng ăn gian nên dù tức lắm cũng đành. Chú Mỹ đen nghiêng đầu, rùn vai, mắt nhướng lên mỉm cười nhìn hắn tuồng như hả hê nhưng hắn tới bắt tay nói lời chúc mừng khi nó ôm trophy đi xuống!

Gần 5 giờ chiều mới tới lượt hắn thi đấu. Nhóm hắn có 12 người, hạng cân 130 lbs-150 lbs, từ 1-3 đẳng. Thằng Mễ ở hạng cân khác nhưng thằng bạn Mỹ đen ở chung nhóm. Nhờ Guidry mua thức ăn đầy đủ nên hắn thắng vòng loại dễ dàng, hạ đối thủ 3-0; Ở vòng hai gặp một chú Mỹ đen khác. Thằng phải gió này cũng chỉ có tay. Chạy vòng vòng, lâu lâu lại xông vô chọc cú vô ngực xong thụt lùi, hắn chưa kịp phản ứng thì trọng tài đã dừng đấu và cho điểm thằng phải gió! Hắn thấy buồn cười quá, chưa biết xoay trở ra sao thì lại bị cú liên tiếp! Trời ơi! Đánh với đấm không ra sao cả! Chỉ cần một điểm nữa là ... tàn cuộc chiến! Không khéo thì cũng sẽ thua như đã chạy cuộc chiến vừa tàn, cũng oan uổng, cũng bất ngơ!ø Hắn nghĩ phải cấp tốc hành động! Để thua vớ vẩn như vầy sẽ mang nhục! Thằng khỉ gió tính ăn quen nhưng... nó vừa nhảy vô, hắn bước ngang chân trái qua, thằng con lỡ đà chưa kịp rút lui đã lãnh đủ một cú quay gót vô đầu với tất cả sức mạnh, thằng khỉ ngã ra bất tĩnh! Hắn bị loại vì cố tình đánh trọng thương (uncontrolled contact). Guidry phản đối dữ dội nhưng không được!

Trong khi chú đen phe ta vào được chung kết, đánh tam giác và lãnh hạng ba! Hắn cười buồn tới bắt tay chúc mừng chú đen (hắn thấy chú đen siết tay hắn chặt lắm), cùng lúc chú Mễ lãnh hạng nhì ở nhóm nặng cân. Tổng cộng võ đường mang về hơn 15 cúp lớn nhỏ trong khi hắn chỉ cười trừ! Chú Mễ và chú đen chịu nói chuyện làm thân với hắn trên suốt đường về. Hắn chỉ đơn giản nghĩ chắc chúng nó đang vui trên sự kém may mắn của mình! Cả xe vui vẻ, cười nói huyên thuyên. Guidry và mọi người cho hắn trúng lô an ủi!

Sau chuyến đi Houston trở về, cả hai chú Mễ và chú đen đều tỏ ra thân thiện với hắn. Chú đen nói với hắn rất chân thành rằng chú rất cảm ơn hắn đã không cho chú đo ván vào tuần trước như chú Mỹ đen ở tournament. Chú Mễ không nói gì nhưng hay hỏi han hắn về kỹ thuật. Lớp hắn dạy đông hơn, thu hút thêm một số học trò con gái Mễ. Hắn tự nhủ "tuy thua trận nhưng thắng tình bạn bè cũng đáng"!

Và ngày tháng vô tình, vô định vẫn tiếp tục dù trường võ đã cho hắn chút niềm vui tạm thời!

 

Yên Sơn

 

Xem thêm...

Tôi Yêu Lầm Một Cô Nàng Đào Mỏ Lạ Lùng

Tôi quyết tâm sẽ phải chinh phục được em. Tôi tìm cớ để tiếp xúc với em nhiều hơn.

Gần 5 tháng trời ròng rã tôi mới chính thức nhận được cái “gật đầu” làm quen của em (Ảnh minh họa)

 

 Tôi Yêu Lầm Một Cô Nàng Đào Mỏ Lạ Lùng 

"Vừa nói em vừa đặt trên bàn muốn cuốn sổ tiết kiệm. Tôi liếc nhìn và ngạc nhiên tột độ với con số tiền trong đó. Em cười hì hì “Thấy sợ chưa. Tiền ăn, tiền xe, tiền nhà, tiền hàng tháng… Trong này hết đó”. 

Tôi không định tâm sự chuyện riêng của mình lên đây. Nhưng hôm nay, đọc nhiều bài viết về việc yêu nhầm người yêu đào mỏ. Dù không có nhiều thời gian nhưng tôi cũng xin chia sẻ một câu chuyện có thật đã xảy ra với chính bản thân tôi cách đây vài năm..."

 

Tôi là một kỹ sư công nghệ thông tin, gia đình giàu có và là con trai độc tôn của dòng họ. Khỏi phải nói, ngay từ thuở lọt lòng tôi đã được cưng chiều đủ thứ, thiếu điều chỉ có du hành vũ trụ là chưa đi. Nhưng tôi không phải là dạng ăn chơi đua đòi.

Ngay từ khi 15 tuổi, tôi đã được đi du học ở Mỹ và khi ra trường thì được nhận vào làm cho một tập đoàn lớn ngay tại thành phố Newyork. Năm 30 tuổi, tôi trở về Việt Nam và thay gia đình quản lý một công ty tư nhân lớn (Tôi xin không nêu tên công ty cũ của gia đình). Cũng trong thời gian này, tôi hay đi bar cùng bạn bè và đối tác. Tôi quen nhiều cô gái, ngay cả những diễn viên nổi tiếng hay chưa, hễ có hình thức ưa nhìn là nhanh chóng trở thành “mục tiêu” để tôi “săn đuổi”. Vì đẹp trai, lịch lãm và thuộc giới đại thượng lưu ở thành phố, các mục tiêu của tôi nhanh chóng bị đánh gục. Tất nhiên, tôi cũng tốn không ít “tình phí” để “cưa đổ” những đóa hoa ngọc ngà này. Nhưng tính tôi hào phóng và vì thuộc dạng “đại gia” nên phải “chi tiêu” sao cho xứng danh, tôi ít nề nà tiền bạc, vui là chính.

Tôi đắm mình trong các mỹ nữ hơn hai năm trời cho đến khi tôi quen em. Em là sinh viên một trường đại học danh tiếng ở Thành phố. Tôi quen em khi đến nhà thằng bạn chơi. Em lúc này đang làm gia sư dạy cho cháu của thằng bạn. Cháu bạn tôi đang ôn thi đại học và em luyện thi ba môn Toán, Lý, Hóa tại nhà. 

Xử lý sao khi bị người yêu đào mỏ 
 

Ban đầu tôi không có gì ấn tượng với em ngoài vẻ mặt khá đanh đá. Tôi ngồi phòng khách mà tiếng giảng bài của em vang vọng đến “chói tai”. Tò mò tôi hỏi thì được biết phải “khó khăn” lắm mới mời em về làm gia sư vì lịch dạy và lịch học của em kín mít. Bản tính hiếu thắng trong tôi lại ùa về, mặt dù đã hết việc nhưng tôi cũng nán lại chờ đến khi em kết thúc buổi dạy để có cơ hội thử “trình độ”. 

Khi em vừa cười và chào định ra cổng thì tôi nhờ bạn hỏi em vài chuyện về việc học của con bé. Được thể, tôi cũng thăm hỏi vài ba câu. Trái ngược với suy nghĩ của tôi, em trả lời rành rọt và thẳng thừng. Và tuyệt nhiên, không hề có một nụ cười dù là theo kiểu “xã giao”. Khi em về tôi mới được thằng bạn cho biết, em tới rất đúng giờ, giảng dạy cũng rất đúng giờ và rất hạn chế tiếp xúc với… con trai trong nhà (là nó).

Tò mò đôi chút về em nhưng tôi cũng nhanh quên cho đến khi được thằng bạn mới tới nhà để đãi tiệc “cháu nó thi đậu”. Bữa tiệc gia đình đầm ấm và tất nhiên không thể thiếu vắng em. Ngày đó, em thay bộ sơ mi quần jean thường thấy bằng một bộ váy hồng cánh sen dài chấm gót. Tôi có dịp được ngắm em kỹ hơn và phải thực lòng mà nói là em rất xinh. Xinh không phải kiểu mặt V-line, mũi cao vút da trắng ngần… Em xinh theo kiểu tự tin với thần thái của một người học cao hiểu rộng. Vì thực tế em cao chỉ chừng 1.55 cm, da không được trắng lắm, mũi cũng không cao… Vậy mà tôi lại mê mẩn em ngay trong ngày hôm ấy.

 

Tôi quyết tâm sẽ phải chinh phục được em. Tôi tìm cớ để tiếp xúc với em nhiều hơn. Gần 5 tháng trời ròng rã tôi mới chính thức nhận được cái “gật đầu” làm quen của em. Để kỷ niệm, tôi dẫn em đi vào một nhà hàng thật sang trọng và vào một bar lớn nhất ở thành phố. Tất nhiên, tôi vẫn chưa dám dẫn em đi giới thiệu với bạn bè, gia đình thì càng không. 

Nhưng đó chỉ là một lần duy nhất, kể từ những lần sau hễ tôi gợi ý đi ăn nhà hàng là em lại bảo “ăn nhà hàng hôm đầu tiên gần chục triệu. Anh đưa tiền đó cho em, em nấu anh ăn”. Tất nhiên, tôi không thể từ chối và cũng muốn thử tài nấu ăn của em. Tôi đưa gấp đôi số tiền nhưng em chỉ lấy đúng bằng tiền ăn ở nhà hàng. Bữa ăn chỉ có tôi và em trong căn phòng trọ nhỏ xinh của em. Nhưng thú thật, bữa đó rất vui và tôi phát hiện ra rằng “Em nấu ăn cực ngon”.

 Người yêu đòi mua đồng hồ, túi xách hàng hiệu em có nên chia tay?
 

Sau bữa đó em hỏi thẳng tôi rằng “Anh yêu các cô trước có thường dẫn đi du lịch, đi bar, đi nhà hàng, đi mua sắm gì không?”. Tôi thú nhận là có. Em hỏi bao nhiêu lần một tuần. Tôi thành thực kể. Em ghi chép từng thứ vào một cuốn sổ nhỏ. Sau đó em bảo “Em không cần đi ăn nhà hàng, không cần đi bar, mua sắm. Thay vào đó, mỗi khi anh muốn dẫn em đi đâu, mua gì, ăn gì, anh quy ra thành tiền đưa em là được”. Tôi hơi hoảng với cách suy nghĩ và thẳng thắn của em. Tôi cười và nghĩ rằng em đang nói đùa nên gật đầu cười bảo “OK, vậy cũng đỡ tốn thời gian của anh. Thay vì thời gian đó anh được ở bên em”. 

Tôi chỉ nghĩ sẽ nói cho vui vì con gái ai mà chả thích mua sắm, chưng diện. Nhưng không ngờ, em làm thật. Thậm chí ngay khi dẫn em đi mua xe, em và tôi chọn xong vào quầy thanh toán thì em kéo tay tôi ra bảo “Anh đưa tiền cho em được rồi, coi như là anh đã tặng em”. Lúc này thì tôi cũng hơi bực mới bảo “Vậy khi cần đi đâu thì sao?”. Em cười bảo: “Em chạy xe bốn bánh làm gì, đi đâu chạy xe wave của em là được”. Thật sự, tôi không hiểu nổi em.

 

Ngoài chuyện cái gì cũng quy ra tiền thì em đúng là người yêu tuyệt vời. Em học kinh tế, nhưng em thông thạo hơn ba ngoại ngữ tiếng Anh, Tiếng Trung , Tiếng Nhật. Em còn dự định học tiếp tiếng Pháp. Thú thật, đôi khi tôi cũng mệt vì dù yêu và cho em nhiều, nhưng mỗi lần gặp mặt tôi toàn phải “book” trước vì thời gian của em luôn kín mít.

Tôi muốn được ở gần em nên bàn với em cùng nhau mua một chung cư ở thành phố. Em vui vẻ đồng ý và bảo sẽ đi tìm. Thời gian đó vì bận công tác nước ngoài nên tôi để em toàn quyền quyết định. Đến khi em bảo giá tiền là tôi ký sec và đưa em ra ngân hàng rút. Tôi cũng chưa một lần gặp chủ nhà. Khi em dẫn về xem nhà, tôi cũng rất vui vì nó khá rộng và thoải mái. Tôi nói nên mua một ít nội thất trang trí trong nhà. Em xung phong đi lựa và mua. Tất nhiên, tiền vẫn là của tôi. 

Vậy mà, đến ngày dọn về ở tôi choáng toàn tập. Gần hơn một tỉ tiền mua đồ nội thất vậy mà em mua đúng một chiếc giường, tủ đựng đồ, bàn ủi, quạt và một ít đồ dùng bếp. Trong đó có một số vật dụng đã cũ từ phòng trọ em chuyển qua. Bực mình, tôi hỏi thì em trả lời: “Em hỏi anh nha, anh có nhà ba mẹ, thỉnh thoảng anh mới qua đây. Vậy em mua làm gì cho tốn tiền. Tiền đó để dành dùng làm việc khác không tốt hơn à”. Tôi sẵn giọng: “Em dùng vào việc gì?”, em lại cười xòa: “Nhà này anh mua cho em mà, miễn em thấy thoải mái là được rùi”. “Đến cái máy giặt và tủ lạnh em còn tiết kiệm không mua, tiện nghi thoải mái cái nỗi gì đây?”. Em cười hì hì và ôm tôi thủ thỉ “Giặt máy tốn công ủi lại mau hư đồ. Em giặt tay được rùi. Đảm bảo đồ anh không bao giờ hỏng hóc và nhăn nhúm”.

Thú thật, đến nước này thì tôi bó tay toàn tập. Tôi bảo em không cần phải đi dạy hay làm thêm gì cho mệt, mỗi tháng tôi sẽ đưa em hai mươi triệu. Em cười và cảm ơn tôi rối rít. Thú thật, em không chân dài mà yêu em tôi tốn gấp ba bốn lần các em chân dài khác. Vậy mà tôi vẫn yêu. Bên em, tôi cảm thấy bình yên, vui vẻ. Và quan trọng, những vấn đề nào khó khăn, nếu tôi hỏi, em có thể làm nhà tư vấn, thoải mái mà không cảm thấy một áp lực nào…

 

Tôi dự định sẽ đưa em về ra mắt vào cuối năm. Vậy mà giữa năm, công ty tôi vướng vào vụ kiện tranh chấp, rồi bị các đối tác nước ngoài lừa không trả tiền, hợp đồng thì bị đền. Thậm chí, bán cả nhà, cả xe vay mượn bạn bè, người thân tôi còn không đủ trả nợ. Trong giai đoạn khó khăn này, tôi định bán căn chung cư hai đứa mua thì lại phát hiện là hóa ra trước giờ căn chung cư này là em thuê để ở. Tôi gọi điện cho em thì số máy không liên lạc được trong khi cách đây một tháng tôi và em còn gặp mặt. 

Tuyệt vọng, tôi lâm vào bế tắc. Phải thuê một căn nhà nhỏ cho cha mẹ ở. Còn công ty thì tôi tạm thời đóng cửa và đi xin việc. Các bạn có hiểu nổi tâm trạng của một người đang ở trên đỉnh cao tiền tài và danh vọng bị rớt xuống đáy cùng của sự thất bại mới đau đớn làm sao. Từ biệt thự, tôi ở nhà cấp bốn tồi tàn, xe hơi chục tỷ thì giờ đi xe máy, bạn bè hầu như chẳng còn. Tôi làm công ty nước ngoài lương tháng hơn 2000 USD mà còn chưa đủ trả tiền nợ (Cũng may là số nợ này tôi mượn của người thân nên không phát sinh lãi).

Gần 37 tuổi đầu, tôi phải làm lại từ đầu. Mẹ tôi vì sốc nặng mà bệnh nằm liệt giường. Ba tôi phải ngày đêm chăm sóc vì không có tiền thuê người giúp việc. Nhìn cảnh nhà như vậy, thú thật ngoài thời gian làm việc, tôi không còn dám bù khú bạn bè như trước. Ngay cả em, tôi còn không dám dành thời gian nhớ đến. Vì mỗi lần nhớ, tôi càng hận tôi đã dại dột bị em lừa dối đau đớn đến vậy.

Một buổi tối, sau khi gặp khách hàng, tôi về ra chợ mua đồ ăn cho mẹ thì thấy có cuộc gọi nhỡ. Tưởng khách hàng gọi nên tôi gọi lại thì nghe giọng nói quen thuộc của em trong điện thoại “Anh đang ở đâu vậy?” Nghe giọng nói thân thương, tôi vừa hạnh phúc, vừa giận… Giọng tôi run run nói xối xả “Em gọi tôi làm gì nữa. Em lừa dối tôi như vậy chưa đủ à. Tôi không còn tiền cho em nữa đâu”. Đầu dây bên kia tôi nghe giọng em thảng thốt “Em hỏi anh giờ đang ở đâu. Em muốn gặp anh”. “Được, gặp thì gặp”. Tôi cho em địa chỉ quán cafe gần nhà và mua vội thức ăn về cho ba mẹ. Thú thật, tình yêu đối với em vẫn còn nhưng hận thù thì còn cao hơn nữa. Tôi muốn gặp em để chửi vào bộ mặt trơ tráo và tham lam của em cho hả dạ. 

Khi tôi đến nơi thì đã thấy em ngồi đó với hai ly nước ép quen thuộc. Nhìn tôi, em cười như chưa hề có chuyện gì xảy ra. “Sao có mấy tháng mà anh ốm quá vậy?” Tôi không trả lời. Em vẫn cười toe toét “Em ra trường rồi. Em đi làm bữa giờ đó anh. Công ty cũng tốt lắm. Em làm trưởng phòng đó nha”. Bao nhiêu dự định muốn nói với em ban đầu tan biến đâu hết. Tôi im lặng nghe em say sưa nói. Em vẫn kể như giữa chúng tôi chưa có gì “Anh biết không, cách đây bốn tháng em đi công tác nước ngoài đó. Thiệt đã luôn, em ký được bốn hợp đồng khủng bố”. 

Em uống gần nửa ly nước, đột nhiên em dựng lại và hỏi “Công việc anh không tốt đúng không?”. Thành thực mà nói, lúc này tôi đã không còn giận em nữa rồi. Nhưng tôi vẫn hỏi “Bữa giờ em biến đi đâu, tại sao?”. Em bịt miệng tôi lại và nói nhanh: “Biết ngay anh có nhiều điều muốn hỏi em mà. Thôi, để em nói hết cho nhanh”.

 

Vừa nói em vừa đặt trên bàn muốn cuốn sổ tiết kiệm. Tôi liếc nhìn và ngạc nhiên tột độ với con số tiền trong đó. Em cười hì hì “Thấy sợ chưa. Tiền ăn, tiền xe, tiền nhà, tiền hàng tháng… Trong này hết đó. À, thêm tiền em làm thêm ở công ty nè, tiền đi dạy nữa nè. Ấy quên, nó có thể còn hao hụt một chút đỉnh vì em đã dùng một ít tiền đi mua “đức” cho anh rồi.

 

Với em, có lẽ là người đào mỏ lạ lùng nhất mà tôi mang ơn nhiều nhất.

Giờ đây, vợ chồng chúng tôi đã mua lại được nhà (Ảnh minh họa)

 

Tôi còn đang há hốc mồm thì em thì thầm “Bây giờ em làm ra được nhiều tiền lắm nha. Không cần tiền hằng tháng của anh nữa rồi”. Nói xong, em hôn tôi cái “chụt” và ôm tay tôi nói vừa đủ tôi nghe “Trời ơi, có mấy tháng mà nhớ anh quá trời luôn à”.

 

Các bạn ạ, trong đời, tôi gặp và yêu nhiều người đào mỏ. Nhưng với em, có lẽ là người đào mỏ lạ lùng nhất mà tôi mang ơn nhiều nhất. Giờ đây, vợ chồng chúng tôi đã mua lại được nhà. Em đã bỏ chiếc xe Wave cũ và chịu dùng chiếc Airblade. Tôi đã mở lại công ty và dù có năn nỉ gãy lưỡi em vẫn không chịu ở nhà hay cùng làm chung với tôi. Em luôn bảo “Tiền em làm là để mua đức cho anh”. Mỗi kỳ lĩnh lương ra, em đưa hết số tiền của mình đi từ thiện ở các vùng sâu vùng xa và cười toe toét mỗi khi ai đó hỏi mượn tiền. Tính vợ tôi hào phóng mà cũng kỹ lưỡng, xấu chứ chẳng xinh vậy mà làm tôi yêu mê mệt. Cuối năm nay, chúng tôi sẽ đón cặp song thai đầu lòng

Đêm nay ngồi viết những dòng tâm sự này mà bà xã tôi vẫn đang ở bên cạnh đay nghiến “Giờ còn chưa đi ngủ nữa. Em cho anh mười phút để shut down và năm phút vô màn đó

 

 Nguồn:  (vietnamnet.vn)

 Gia Huy sưu tầm 

Xem thêm...

Đi chơi Chùa Hương – Tuyến Chùa Hương Tích, Chùa Tiên, Chùa Giải Oan, Đền Chấn Song

Đi chơi Chùa Hương

Tuyến Chùa Hương Tích, Chùa Tiên, Chùa Giải Oan, Đền Chấn Song

Nguyễn Giụ Hùng

Chúng tôi cùng cười vui vẻ tìm đường ra khỏi cổng chùa Thiên Trù tức “chùa Ngoài” để rồi tiếp tục cuộc hành trình vào chùa Hương Tích tức “chùa Trong”. 
      Vừa ra khỏi cổng chùa Thiên Trù, tôi mời mọi người vào một quán cơm bên lề đường ăn bữa trưa cho no bụng rồi mới tiếp tục lên đường. Cơm nước xong, chúng tôi đi thêm được một quãng ngắn dốc núi đá gồ ghề. Tôi ghé vào gian hàng mua cho mỗi người một cây gậy tre để chống và riêng cho Mơ một đôi dép cao su màu trắng hiệu “con hổ” ta thường thấy bán trong các chợ ở Hà Nội. Mơ nhất định từ chối không nhận đôi dép. Tôi phải lên mặt giận Mơ mới chịu xỏ chân đi đôi dép ấy. 
      Đường đá gồ ghề, chỉ cần lơ là, không cẩn thận là bị hụt chân hay vấp ngã. Đường đi càng ngày càng nhỏ lại, càng ngày càng dốc cao. Chúng tôi băng được hai đoạn dốc nên cũng đã thấm mệt. Mơ đi với Uyên phía trước bỏ tôi và Thi lại phía sau. Tôi đi bên Thi để giúp đỡ nàng khi cần. 
      Tôi và Thi đi thêm đoạn ngắn nữa thì thấy Uyên và Mơ đã đứng đợi chúng tôi bên gốc cây hoa đại già bên đường. Mơ đề nghị:
      - Các anh chị nghỉ mệt một tý rồi chúng ta vào chùa Tiên.
 
blank
Chùa Tiên với tượng bà Chúa Ba (*)
 
Nhìn theo đường chim bay, chùa Tiên coi như kế cận chùa Thiên Trù mà khi đi thì lại phải leo tới hai cái dốc. Đứng tại sân chùa Thiên Trù ta có thể thấy người leo dốc để vào chùa Tiên. Và khi đứng tại cửa động chùa Tiên, ta có thể thấy toàn cảnh quần thể chùa Thiên Trù nằm ở phía dưới, cùng một vùng khá rộng gồm núi và thung lũng xung quanh.
      Chùa Tiên nằm bên trong động Tiên Sơn. Động Tiên Sơn không sâu lắm cũng không rộng lắm, nhưng có vẻ bề thế. Thạch nhũ bên trong động đẹp và có nhiều hình thù phong phú. Chùa Tiên có lẽ cùng xây dựng đồng thời với chùa Thiên Trù và chùa động Hương Tích. Một bài thơ Nôm khắc trên đá gồm tám câu theo thể thơ Đường của Tĩnh Vương Trịnh Sâm đề năm Canh Dần (1770) để ca tụng vẻ đẹp của chùa. Như vậy là khi đó, động Tiên Sơn đã có và đã là nơi thờ phượng đẹp đẽ rồi.
          Chùa Tiên mơ nở trắng
          Khe động lách mình vào
          Ngẩng đọc thơ chúa Trịnh
          Chữ cũ dường lao xao.
          (Trích “Đi Chùa Hương” của Phạm Hổ)
Sau khi rời khỏi động Tiên, chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình. Gió mát và cảnh vật đẹp chung quanh không đủ làm chúng tôi quên cái mệt của leo dốc núi. 
          Lên cao, lên cao mãi
          Chân mỏi tưởng đường xa
          Đỉnh cao ngoái nhìn lại
          Chùa Tiên vẫn cạnh ta.
          (Trích “Đi Chùa Hương” của Phạm Hổ)
Đường núi đá càng ngày càng dốc, có khi phải leo đến cả trăm bậc đá. Bây giờ chúng tôi mới thấy cái tiện dụng của chiếc gậy chống. Nó giúp chúng tôi leo núi vừa đỡ mệt và bước đi vững chãi hơn nhiều. 
      Đường đã có những chỗ cheo leo, chênh vênh nguy hiểm, một bên là vực, một bên là triền núi. Tôi đi sát bên Thi để có phản ứng kịp thời, phòng khi Thi bị trượt chân hay vấp ngã. 
      Tới một con dốc ngoặt, tôi bảo Thi dừng lại để nàng nghỉ mệt. Đứng bên Thi, cùng dựa lưng vào vách đá để thở, nhìn “thung mơ” phía dưới chân núi, dù mệt nhưng vẫn thấy nó đẹp làm sao. Cảnh trí vừa hùng vĩ vừa rất nên thơ. Cây cỏ một mầu xanh tươi. Núi đứng sừng sững mà vẫn không vướng mắt. Đứng nghỉ một lúc, tôi hỏi Thi:
      - Em còn mệt lắm không?
      - Thế anh có mệt lắm không? Thi hỏi ngược lại tôi.
      - Anh không mệt.
      - Vậy chúng ta đi tiếp nhé! Thi đề nghị.
      - Ừ! 
      Tôi nắm tay Thi dẫn đi. Hai bàn tay chúng tôi đan vào nhau cùng song bước. Chúng tôi nhìn nhau mỉm cười sung sướng, tràn đầy yêu thương và hạnh phúc. Thỉnh thoảng Thi đi sát vào người tôi, vừa ôm lỏng cánh tay tôi, vừa ngước nhìn tôi với ánh mắt đầy trìu mến và chiêm ngưỡng. Tôi nói chiêm ngưỡng vì Thi đã tin tưởng vào người mình yêu có khả năng che chở được cho mình trong những lúc khó khăn. Tôi cứ cho là như thế và mỉm cười một mình với ý nghĩ đó. Lúc này đường đã xoai xoải dễ đi, thêm vào đó sức thanh niên lại hồi phục nhanh.
      - Này Thi! em có biết mấy câu thơ này không? Đây là tâm sự của cô gái 15 tuổi gặp và thầm yêu một chàng trai trên đường cùng đi trẩy hội chùa Hương. 
          Làn gió thổi hây hây,
          Em nghe tà áo bay,
          Em tìm hơi chàng thở,
          Chàng ơi, chàng có hay?
          Đường dây kia lên giời
          Ta bước tựa vai cười,
          Yêu nhau, yêu nhau mãi
          Đi, ta đi, chàng ôi!
          Ngun ngút khói hương vàng
          Say trong giấc mơ màng
          Em cầu xin Giời Phật
          Sao cho em lấy chàng!
          (Trích “Chùa Hương” của Nguyễn Nhược Pháp)
Tôi vừa đọc xong đến đấy, Thi “véo” nhẹ tôi cười khúc khích:
      - Em không giống cô ấy!
      - Ừ, em không giống, nhưng anh giống!
      Thi lại “véo” tôi thêm một cái nữa, nhõng nhẽo:
      - Anh ghê lắm đó! 
      Tôi hôn nhẹ lên mái tóc Thi. Thi vội ngước lên nhìn tôi hốt hoảng:
      - Đừng anh! Chị Uyên trông thấy thì ngượng lắm!
      Tôi và Thi buông tay nhau tiếp tục bước đi, nhưng bây giờ cả hai chúng tôi đều cảm thấy như quên hết cả mệt nhọc mà chỉ sợ con đường còn lại sẽ trở nên quá ngắn để được đi bên nhau như thế này lâu hơn.
      Chúng tôi tiếp tục đổ dốc xuống con đường bằng phẳng hơn. Uyên và Mơ đang đợi chúng tôi không xa ở phía trước. Thi bỏ tôi, đi vội về phía hai người.
      Thi hỏi:
      - Hai chị có mệt không?
      - Không! Uyên trả lời. Có chị Mơ cùng đi nói chuyện vui nên chị đi nhanh lắm.
      Tôi cũng vừa trờ tới. Mơ lên tiếng:
      - Chúng ta chuẩn bị để vào thăm chùa Giải Oan ở phía trước kia nhé. Tới đó có quán hàng nước, chúng ta nghỉ chân luôn thể.
 
       Uyên và Mơ tự động tách ra đi lên trên, tôi và Thi thành một cặp đi phía sau. Nhìn khuôn mặt rạng rỡ của Thi, đôi má ửng hồng với đôi mắt sáng thông minh, cặp môi lúc nào cũng đỏ hồng một cách tự nhiên, những hạt mồ hôi còn lấm tấm trên trán với vài sợi tóc dài dính trên đó, tôi buột miệng khen:
      - Đẹp!
      - Ai đẹp?
      - Anh! Tôi trả lời đùa rồi chỉ ngón tay vào mình.
      - Ha! Ha! Anh hỏi chị Mơ đi, chị ấy là người thật thà đấy! 
      Nói xong câu ấy, Thi cười vang. Tiếng cười vang xa làm Uyên và Mơ đi phía trước quay lại nhìn. Thi im ngay. Tiện tay, nàng “véo” nhẹ vào cánh tay tôi:
      - Em ghét anh lắm!
      Con gái thật buồn cười, ai mà hiểu nổi. Thi đang nghĩ gì mà nàng lại nói ra một câu có vẻ “lạc đề” đến thế. 
 
blank
Chùa Giải Oan (*)              Động Tuyết Kình (*)        Am Phật Tích (*)

Chẳng còn mấy bước, chúng tôi đã đứng trước cửa chùa Giải Oan. Mơ cho biết chùa Giải Oan nằm ở quãng giữa đường kể từ chùa Thiên Trù và động Hương Tích. 
      Chúng tôi ngồi nghỉ chân ngay quán nước bên cạnh chùa, uống bát nước chè xanh. Tôi mời Mơ thêm một cốc “nước mơ” màu vàng chanh đựng trong một hũ thủy tinh lớn. Những quả mơ nổi lềnh bềnh trong hũ thủy tinh trông thật hấp dẫn làm sao. Nước mơ là một loại nước giải khát tốt, có dược tính cao. Chúng tôi không quen uống nước này nên sợ bị đau bụng. 
      Chùa Giải Oan ở lưng chừng núi, thấp và dài, có ba cửa uốn cong. Trên cửa chùa có bốn đại tự “Giải Oan khê tự” tức chùa suối Giải Oan. Trước chùa trồng nhiều cây hoa đại cổ thụ. Trong lòng chùa có một khe đá khá rộng như một “bể nước” để chứa nước từ dòng suối qua khe núi chảy vào. Vào mùa nước, bể đầy nước. Khách hành hương ghé vào chùa cầu xin, rồi lấy nước trong bể để uống, rửa mặt hay đem về lấy phước. Vào mùa khô cạn, nhà chùa phải gánh nước đổ vào đấy.
      Mùa mưa, nước đổ như thác từ trên núi đổ ào ào vào chín ngọn suối trước chùa gọi là suối Cửu Long Tuyền hay là suối Giải Oan. Ngay cửa suối có một phiến đá tạc bốn chữ “Kỳ Sơn Thủy Tú”, đó là bút tích của Trịnh Sâm đề năm Canh Dần (1770).
      Truyền thuyết suối Giải Oan được kể rằng (1): 
      Bà Chúa Ba tức công chúa Diệu Thiện, công chúa thứ ba của vua Diệu Trang, ở nước Tây Trúc (Ấn Độ), quyết định theo việc tu hành cầu mong đắc đạo. Nhiều phen vua cha ngăn cấm không được bèn ra lệnh phóng hỏa đốt chùa. Bỗng hùm thiêng phóng đến cứu Bà Chúa Ba chạy về núi này.
          Quan quân áp đến xôn xao
          Bỗng đâu mãnh hổ rẽ vào tha đi.
      Từ trên mình hổ bước xuống, Bà để lại dấu chân trên đá, người ta lập một cái am thờ nơi đó gọi là am Phật Tích, còn gọi là động Thanh U. Chỗ bà tắm gội để rửa oan thì thành chùa Giải Oan. Gần chùa Giải Oan có động Tuyết Quỳnh hay Tuyết Kình.

chua
Đền Chấn Song (Đền Cửa Võng)

Từ chùa Giải Oan, chúng tôi đi thêm một quãng nữa thì tới đền Chấn Song hay đền Cửa Võng. Gọi là đền Chấn Song vì ngay cửa động trông giống như cái cửa sổ có chấn song để bảo vệ động. Còn gọi là đền Cửa Võng vì trước đây, trước cửa động có những loại cây leo kết lại như cái võng.
      Bên trong đền vẫn còn tượng Bà Chúa “Thượng Ngàn” tức bà chúa canh giữ rừng. Tượng bà ngoảnh mặt ra ngoài. Ở đền này thường diễn ra cảnh lên đồng, có hát chầu văn.
      Qua đền Chấn Song, đường đi lại bắt đầu phải leo lên dốc cao bằng những bậc đá xếp. Đường đi càng gần động Hương Tích dốc càng cao. Thi và Uyên cứ đi được một khúc đường thì phải đứng lại nghỉ để thở. Mơ đã mang hộ cho Uyên chiếc ba-lô vậy mà Mơ vẫn cứ đi thoăn thoắt. Tới chỗ khó leo Mơ dìu Uyên vượt qua chỗ ấy.
      Tôi thấy mọi người đã cởi hết áo len tự bao giờ. Trời có những cơn gió mát lạnh của mùa Xuân, tôi vẫn thấy trên mặt Thi lấm tấm đổ mồ hôi mặc dù tôi đã mang ba-lô hộ cho Thi từ con đốc chùa Tiên. Thi phải lấy vạt áo dài để lau. Tôi cố vượt lên nhanh cho kịp Uyên. Mơ dùng nón để quạt, đứng nhìn chúng tôi tủm tỉm cười.
      Chiếc gậy chống lúc này thật đắc dụng, đắc dụng hơn lúc ở khúc đường núi gần chùa Thiên Trù. Tôi nghĩ bụng nếu chúng tôi không có những chiếc gậy này chắc còn phải vất vả hơn nhiều.
          Đường mây đá cheo leo
          Hoa đỏ, tím, vàng leo
          Vì thương me quá mệt
          Săn sóc chàng đi theo
          Me bảo: “Đường còn lâu
          Cứ vừa đi ta cầu
          Quan-thế-âm-bồ-tát
          Là tha hồ đi mau”
          (Trích “Chùa Hương” của Nguyễn Nhược Pháp)

Đến đây, con đường dài đến động Hương Tích cũng đã được thu ngắn lại. Chúng tôi phải leo lên thêm một cái dốc thật cao nữa như một thử thách cuối cùng. Khi vừa tới đỉnh dốc, chúng tôi cùng đứng lại nghỉ chân. Tôi lấy trong ba-lô ra ba chai “nước suối” mang theo từ nhà. Tôi chia cho Uyên và Mơ mỗi người một chai, tôi và Thi uống chung. Vừa leo dốc mệt, lại vừa khát nên không ai từ chối. Uống xong thấy tỉnh cả người. Bây giờ mọi người mới nhìn nhau cười nói. Tôi lấy trái cây đưa cho mọi người nhưng đều bị từ chối trừ Thi lấy một quả quýt, bóc chia tôi một nửa.
      Chúng tôi đi thêm quãng ngắn nữa thì tới cổng vào chùa Hương. Vì chùa Hương nằm trong động Hương Tích, do đó chùa Hương còn được gọi là chùa Hương Tích. Mà chùa Hương là “trọng điểm” của quần thể vùng Hương Sơn gồm cả hệ thống dẫy núi Hương Sơn, sông Đáy, suối Yến và hàng chục hang động, hàng chục chùa chiền hay “chùa động” (chùa trong động) thuộc khu vực rộng chừng 6 cây số vuông này. Vì là “trọng điểm” nên khi ta nói đi xem thắng cảnh hay đi hành hương chùa Hương là ta muốn nói chung đến cả cái quần thể Hương Sơn. Nhưng có cái khác biệt, khi ta đi thăm hết cả quần thể Hương Sơn mà không đến chùa Hương Tích hay động Hương Tích này thì ta chưa có thể nói là ta đã đến được Hương Sơn. Ngược lại, nếu ta chỉ cần đến động Hương Tích không thôi, ta cũng có thể đủ để nói là ta đã đi đến Hương Sơn rồi. 
      Vì cái tính chất quan trọng và đặc thù đó nên tuyến đường từ Bến Đục đến động Hương Tích luôn luôn là tuyến đường chính, mặc dù ta còn hai tuyến đường khác nữa không kém phần ngoạn mục, đó là tuyến đến chùa Hinh Bồng và tuyến đến chùa Tuyết Sơn. 
      Nói đến hội chùa Hương, ấy chính là nói đến sự quần tụ đông đảo của du khách và khách hành hương đến động Hương Tích này đây. Họ đến đây để thưởng ngoạn cảnh thiên nhiên kỳ thú cũng có, để lễ Phật Bà tức Bà Chúa Ba với lòng thành kính tín ngưỡng cũng có, và đến để cầu xin cũng có. Mặc dù nhiều người đến đây với nhiều mục đích khác nhau, nhưng kẻ đến để cầu xin thì chiếm số đông hơn cả nên hội chùa Hương còn được gọi là “hội Cầu May”.
 
 
 Quả núi có động Hương Tích là quả núi cao thứ hai của hệ thống núi vôi Hương Sơn, sau núi Bà Lồ ở phía trước núi chùa Hương. Ở đây có ngôi chùa cổ nhưng nay đã đổ nát.

Cổng chùa Hương làm bằng đá, được làm từ năm Giáp Dần (1914) đến năm Ất Mão (1915) do thợ Kiện Khê đẽo đạc. Từ cổng chùa ta nhìn xuống một khoảng đất sâu, bằng phẳng ở phía trước động được gọi là thung Châu vì “thung” (2) này có một hòn núi tròn nhỏ được ví như là viên “ngọc châu” do rồng nhả ra. Nếu ta đứng ở cổng chùa nhìn xuống thì quả thật cửa động Hương Tích giống như “miệng con rồng” đang há to ra. Cửa động có hình dáng đều đặn và cân đối.

Mơ cho biết vào ngày lễ hội chùa Hương, cứ đứng từ trên độ cao của cổng nhìn xuống cửa động, khói hương từ trong động tỏa ra trông như một lớp sương mù phủ lấy cửa động và những âm thanh trầm trầm, ù ù, của tiếng cầu kinh xen lẫn tiếng ồn ào của đám đông người cũng từ trong đó vang xa tới đây.

Chung quanh động phủ một mầu xanh tươi của cây rừng, lại điểm thêm mầu sắc của những chùm hoa dại đủ loại, cùng phảng phất hương thơm của những cây lan rừng làm cho cảnh vật trở nên hòa ái trong tiếng chuông tiếng mõ.

Để tới cửa động, chúng tôi phải đi xuống với 120 bậc đá, hai bên là những bụi cây rừng. Khi vừa tới cửa động thì đập ngay vào mắt một hàng chữ gồm năm chữ Nho lớn, tạc trên một mảng đá phẳng, nằm ở trên cao, ngay phía bên cánh trái cửa động. Ấy là năm chữ “Nam Thiên Đệ Nhất Động”, bút tích của Trịnh Sâm viết vào tháng Ba năm Canh Dần (1770). Một quả chuông đồng được treo trên giá gỗ đặt dưới đất ngay ngoài cửa động cùng nằm bên phía trái, cùng phía với năm chữ Nho của Trịnh Sâm.

Từ cửa động bước vào, ta thấy có một cột đá thật to, người ta gọi nó là “đụn gạo” Theo phong thủy, cột đá này được ví như “lưỡi rồng” trong miệng con rồng. Bên cạnh “đụn gạo” có một chỗ nền đá bị trũng gọi là “cối giã gạo” Trước “đụn gạo”.

Đi sâu thêm vài bước nữa, ta thấy một khối thạch nhũ to tròn từ trên nóc động phủ xuống có hình dáng như một nhũ hoa đàn bà, có nước từ khe núi chẩy xuống nên khối thạch nhũ này có tên là “bầu sữa mẹ”. Khu vực này có nhiều giọt nước đọng từ trên nóc động nhỏ xuống như mưa nhẹ.

Cửa chùa cách một tiếng chân

Trong mưa, ngoài tạnh như ngăn nửa trời.

(Trích “Nhật Trình” của Nguyễn Thấu).

Khách hành hương hay tới đây hứng nước từ “bầu sữa mẹ” nhỏ xuống để lấy phước. Cũng có người coi nước đó như thần dược, thuốc tiên, lấy về để chữa bệnh.

Bên cạnh “Bầu sữa mẹ” có hai khối đá con nhẵn trông giống như hai đứa trẻ con đang bò. Hòn lớn gọi là “cậu”, hòn nhỏ hơn gọi là “cô”. Những ai hiếm muộn đến đây xoa đầu “cô” hoặc “cậu” tùy theo ước muốn có con trai hay con gái. Người ta tin rằng làm như thế, các “cô” các “cậu” sẽ theo mình về nhà làm con. Mọi vật thể trong động này đều được linh thiêng hóa theo lòng tin tín ngưỡng hay tôn giáo của mỗi người.

Vào sâu thêm trong động ta thấy một bệ thờ bằng đá có nhiều tượng Phật. Bệ thờ này, bốn góc có trạm bốn người đàn ông cởi trần, đóng khố, hai tay chống lên bệ đá như đang đỡ bệ đá lên. Bệ đá này được hai cung tần nhà họ Trịnh cúng vào chùa.

 

Trên bệ thờ có một bức tượng Phật Bà tức Bà Chúa Ba được tạc bằng đá xanh. Đây là công trình nghệ thuật tạc đá cao và độc đáo, độc đáo vì hoàn toàn mang sắc thái Việt nam, hay nói khác đi là Việt Nam hóa hình tượng của Phật Bà khác hẳn với những tượng Phật Bà có tính cách

ước lệ mà ta thường thấy ở các chùa chiền khác ở nước ta. Bức tượng này có thể coi như là tượng đẹp nhất trong tất cả các tượng Phật thuộc quần thể Hương Sơn.

[Phía trong cùng động còn có hình tượng của thạch nhũ được đặt tên như là “cây tiền”, “cây bạc” vì có vẩy thạch nhũ lấp lánh. Lại có cả “chuồng trâu bò”, “chuồng lợn”, “ao cá”. Người nào muốn cầu xin cho nhà mình, chuồng trâu bò có nhiều trâu bò, chuồng lợn có nhiều lợn, ao cá có nhiều cá thì cứ tới nơi đó cầu xin. Âu cũng chỉ là sự mê tín trong dân gian nhưng nó thể hiện tín ngưởng phồn thực mong sinh xôi nảy nở của nông dân ta] (3)

Trong động có cả “đường lên giời”, đó là khe núi thông lên phía trên có ánh sáng lọt vào. “Đường xuống âm phủ” là khe đá ăn sâu xuống đất, nhìn xuống thấy sâu thăm thẳm.

Khi chúng tôi trở ra khỏi động thì thấy Thi đang xoa tay lên những cục đá “cô”, đá “cậu”.

Mơ cười to hỏi Thi:

- Thi, em làm cái gì đấy?

- Em đang xoa lấy phước, nước ở đây mát lắm.

- Em có biết là em đang cầu xin có được nhiều con không? Những người hiếm muộn thường đến đây xoa đầu những hòn đá đó để cầu xin các “cô”, các “cậu” theo mình về nhà làm con. Em chưa có chồng thì cần gì phải cầu?

- Em đâu có biết! Thi vừa nói vừa chạy vội ra ngoài.

Mọi người trong chúng tôi cười ồ. Tôi nói nhỏ vào tai Thi:

- Chết em rồi! Tối nay các “cô” các “cậu” theo về, chui vào bụng “lúc nha, lúc nhúc”, lại gãi rốn em nữa, buồn lắm đấy.

Thi cười rồi xoa xoa tay vào bụng mình.

Tôi nói nhanh như sợ ai nghe thấy:

- Anh muốn có nhiều con!

- Đây này! Cho anh đấy! Thi đưa tay xuống bụng mình, giả “vốc” một nắm “cô, cậu” rồi bỏ sang bụng tôi. Nói xong Thi cười cười, bỏ đi ra chỗ khác.

Quanh quẩn hoài trong động

Chân mỏi chẳng muốn ra

Một mùi hương quá khứ

Thấm dần vào hồn ta ...

(Trích “Đi Chùa Hương” của Phạm Hổ)

Tôi đợi Uyên lễ Phật xong, chúng tôi cùng ra khỏi động. Thi lẽo đẽo theo sau.

Trời đã xế bóng ngả sang chiều. Chúng tôi trở lại chỗ dấu mấy cây gậy, cầm chúng theo để dùng trên đường về. Vừa mới được nghỉ ngơi, vừa có gậy chống nên công việc leo lên 120 bậc thang đá từ cửa động lên cổng chùa cũng không lấy gì làm khó khăn lắm.

Đường từ chùa Thiên Trù lên chùa Hương phải lên dốc nhiều vì Chùa Hương ở trên động núi cao. Nay đường đi từ chùa Hương trở về chùa Thiên Trù thì đổ dốc nên dù đường có gồ ghề, khúc khuỷu, cũng vẫn ít mệt hơn.

Chúng tôi vừa đi vừa ngắm cảnh lúc hoàng hôn. Sáng sớm có cái đẹp vui tươi, cảnh vật như mới choàng tỉnh dậy, chim hót líu lo. Trưa có cái đẹp của trưa, nắng mát chiếu phủ xuống những tàng cây, bãi cỏ và toả xuống thung lũng mơ trắng như trắng cả chân mây. Buổi chiều có cái đẹp của một chút gì phảng phất của lắng đọng, êm đềm. Mơ cũng còn được gọi là mai:

Mai nở trắng cành-mai hội hoa

Sườn non gần gũi, thung xa xa

Xôn xao khắp núi như vui chuyện

Lời lá, lời hoa, lời gió qua ...

(Trích “Mùa Hội” của Bế Kiến Quốc)

Bóng tà chim nháo nhác

Cây um, vượn líu lo

Nào nghe bông thúy nở

Chỉ thấy đám mây mờ.

(Trích “Vịnh Hương Sơn” của Bùi Dị do Đào Ngọc Bình dịch)

May mắn hôm nay trời đẹp, chúng tôi không bị cơn mưa nào. Nếu gặp cơn mưa đổ xuống, dù nhỏ lất phất cũng đủ làm đường đi sẽ trở nên ướt át và trơn trợt, khó đi.

Khi về qua chùa Giải Oan, chúng tôi lại dừng chân dùng nước giải khát tại quán hàng bên chùa rồi mới đi tiếp. Thật sự khoảng cách giữa Thiên Trù (chùa Ngoài) tới chùa Hương Tích (chùa Trong) chỉ hơn hai cây số một tý, nhưng vì đường vòng vèo, khúc khuỷu, gồ ghề, lên dốc, xuống dốc, lại bị trơn trượt nếu có trời mưa nên thời gian đi phải mất khá nhiều.

Tôi đi lặng lẽ bên Thi. Tôi đưa tay sang nắm lấy tay Thi cùng song bước.

Em không nói, anh cũng đi yên lặng

Đường mây xuyên sơn mây tỏa chân chùa

...

Nay ta đến đây cùng sánh vai hạnh phúc

Động chùa xưa đã ấm ngát hương trầm

Phật cũng mỉm cười trong nến hương chói rực

Cuộc đời này, ta ước đã ngàn năm.

(Trích “Hội Chùa Hương” của Anh Thơ)

Nhìn sang Thi, tôi thấy nàng trong sáng quá và cũng hồn nhiên quá. Thỉnh thoảng Thi lại liếc nhìn tôi mỉm cười rất nhẹ, thoảng nhẹ như mùi hương thơm của nhánh lan rừng. Thi ngước mặt lên nhìn tôi nũng nịu, hai tay nàng bóp nhẹ tay tôi hỏi:

- Anh ...! Mặt em bẩn lắm hả? Sao anh cứ nhìn em?

- Không! Tôi định khen Thi “Em đẹp lắm” nhưng rồi thôi.

Chúng tôi lại lặng lẽ đi bên nhau.

Nơi bụi trúc dẫn đường

Chim cu gù lạc lối

Nơi nhành mai vẫy gọi

Thung lũng trắng bay hương

Hạnh phúc cũng là đây

Khi tình anh đã tới

Nhũ đá tình yêu bày

Hang chùa Trong mát rượi

Thôi anh đưa em về

Thuyền yêu ta đã giục

Chùa Trong ra Bến Đục

Nắng chiều đang dần mê ...

Suối Yến đợi chờ ta

Trời sao buông thạch nhũ

Đêm như ... chùa Hương mở

Ở trên đầu hai ta.

(Trích “Đi Trong Hương Chùa Hương” của Chế Lan Viên)

 

Ghi chú:

(1) Sẽ được nói rõ hơn trong Chương PHỤ LỤC

(2) Thung: là phần đất trũng trong vùng núi đá vôi.

(3) [ ] Lược trích từ cuốn “Thắng Cảnh Hương Sơn” của tác giả Trần Lê Văn

(*) Hình ảnh lấy từ cuốn “Du Lịch Chùa Hương”- Nhà xuất bản Thông Tấn, Hà Nội (2009)

 

Nguyễn Giụ Hùng
 
(*) Hình ảnh lấy từ cuốn “Du Lịch Chùa Hương”- Nhà xuất bản Thông Tấn, Hà Nội (2009).

 

Mời nghe

Em Đi Chùa Hương 


Cô Đôi Thượng Ngàn

(Ở đền Chấn Song thờ bà chúa Thượng Ngàn, thường có lên đồng và hát chầu văn)

 

 

 

Xem thêm...

Nỗi Buồn Chiêm Dân - Yên Sơn

Nỗi Buồn Chiêm Dân

Yên Sơn

 

ngày 9.01.20

Việc làm với Mike, người chủ đầu tiên đời tỵ nạn, không như hắn tính – $2.00/giờ, ngày 8 tiếng, sẽ giàu sụ hơn thời đi mây về gió – mà là ngày làm ngày không, ngay từ tuần lễ đầu tiên.

Nhớ lại chiều thứ Sáu hôm đó, khi cầm cái chi phiếu $28.00 (sau khi khấu trừ mấy loại thuế khóa) về cho hai thằng em coi mà lòng hắn luống bùi ngùi. Hắn tự hỏi, “Như thế này thì làm cách nào để tự lập!” Hai đứa em buồn rầu hỏi anh với số tiền đó có đủ nuôi sống tạm thời được ba anh em một tuần không? Hắn phải mỉm cười trấn an là thế nào cũng sẽ làm được nhiều giờ hơn!

Hắn cố ép bà già nhận tấm check nói là để phụ tiền chợ với một chút tự hào là đã có thể chia sẻ gánh nặng với bà dù rất nhỏ nhoi. Hắn chỉ xin lại $5, đêm hôm đó ngồi nắn nót viết mấy chữ rất ưu ái gửi cho thằng bạn chí thân còn nằm dài người trong trại Fort Chaffee.

Trong những ngày làm ít nghỉ nhiều, thằng John, con trai của bà, giúp đưa hai đứa em hắn đi ghi tên học tiếng Anh, và mang về cho hắn cuốn sách học thi bằng lái xe. Hắn trố mắt hỏi:

– Bao giờ tụi tao mới có đủ tiền mua xe mà biểu học?

– Trước sau gì ai cũng phải có xe, ở Mỹ không có xe kể như không có chân. Hơn nữa, tao đâu thể đưa tụi mày đi hoài được và rồi tụi mày khi có việc làm bình thường sẽ dọn ở riêng, nhất là tụi mày cần bằng lái xe để mở trương mục ngân hàng và đổi check!

– Tao còn giữ bằng lái xe hơi ở Việt Nam, liệu có đổi qua bằng Mỹ được không?

– Theo tao biết là không, nhưng để tao đưa mày lên nha lộ vận hỏi thăm!

Và rồi việc không trông đã tới! Mike cho biết hết việc! Nó tử tế hứa là khi nào có việc mới sẽ lại nhờ hắn tiếp tay! Hắn đón nhận tin không vui với tấm lòng dửng dưng! Thế là bà già lại chạy đi hỏi người trong họ đạo sau các buổi lễ Chủ Nhật.

Một lần hắn cắc cớ hỏi mấy đứa em sau buổi lễ:

– Hai đứa cầu nguyện gì trong những buổi lễ?

Thằng anh thực thà nói:

– Mình con nhà đạo Phật mà cầu cái gì ở nhà thờ hả anh?

Thằng em láu táu:

– Cầu cho chúng con chóng có việc làm, amen! Còn anh?

Hắn phì cười tiếp lời:

– Chúa ở cùng anh chị em và ở cùng tụi mình! Anh cầu Chúa giúp tụi mình về nước!

– Tụi em nhớ Ba Mẹ anh chị em quá, không biết gia đình bây giờ tản lạc ở đâu, không biết anh lớn có bị chúng bắt bớ hành hạ không nữa!

Nụ cười chưa kịp nở trọn vẹn trên môi thì sự đau thương đã lấp tràn lên tâm hồn của ba gã con trai tỵ nạn!

Trạng thái tình cảm của ba anh em hắn rất thường thay đổi trong vòng mấy mươi giây đồng hồ mỗi lần tìm được niềm vui bất chợt. Một chiếc lá rơi cô đơn, một cơn gió thoảng vô tình, một tiếng ve sầu bất chợt, hoặc những tiếng dế giữa đêm thâu đều nhắc nhớ những kỷ niệm thân thương ở quê nhà! Chỉ mới mấy tháng trôi qua mà đã như miên viễn trong khi con đường đi tới của anh em hắn thì mịt mờ như sương khuya trên lối mòn bản Thượng!

Vài tuần sau, với sự cần mẫn đi lễ cuối tuần và do sự liên hệ của bà già, hắn được gửi gấm đi làm ở nhà thương Santa Rosa dưới phố. Làm housekeeping!

Hắn được người ta chỉ vẽ cho những chuyến bus đi về giữa nhà ở và phố xá. Hắn được dạy lau dọn các phòng vệ sinh và chạy máy đánh bóng sàn nhà. Cái máy mắc dịch to quá cỡ! Lúc đầu cố điều khiển chiếc máy làm hắn nhớ ray rứt cái cảm giác ngày đầu tiên ngồi vào ghế bên phải trên chiếc vận tải cơ C.123 ở Lockbourne Ohio năm nào! Hắn dàu dàu nét mặt khiến thằng giám thị quan ngại hỏi hắn có vấn đề gì không, hắn chỉ đáp gọn lỏn “nhớ nhà”!

Làm ở nhà thương kẻ ra người vô tấp nập! Trong đám người mỗi ngày, hắn thấy đủ các sắc dân. Hắn “kỵ” dân Á Đông lắm vì Tàu, Nhật, Đại Hàn cũng na ná giống Việt Nam. Hắn rất mặc cảm gặp người Việt, vì chỉ mới đây thôi từ một phi công ngang trời mà bây giờ đã ra phận cu ly!

Mỗi lần thấy bóng dáng Á Đông là hắn cảm thấy mặt hắn nóng bừng, hắn vội vàng bước xéo chỗ khác! Mỗi lần như thế hắn lắc đầu tự nhủ, “Ai cũng thế mà, đời có lúc nọ lúc kia – ở nước Mỹ, theo sách nói, việc gì cũng đáng trọng, chỉ khác nhau ở tư cách con người.”

Hắn tự hứa nhiều lần là phải chấp nhận sự thay đổi này dù bỉ thử tới đâu, vì còn có chọn lựa nào khác! Nhưng sao trong lòng hắn không thể gột rửa được!

Cuối cùng, hắn đành xin nghỉ sở! Hắn sợ bà già buồn nên mỗi ngày đáp xe bus lông bông ngoài phố, hỏi han đủ chỗ… Hắn quyết định tìm cách ghi danh học college song song với tìm việc làm. Họ nói cho hắn biết là hắn có thể xin được grant, học không tốn tiền, có thể xin trợ cấp welfare… Hắn đâu có hiểu welfare là cái giống gì, nghe người ta nói hoàn cảnh anh em hắn sẽ được giúp đỡ là mừng hết biết rồi! Hắn đem “tin mừng” về trình lại cho bà già và John nghe, John nổi lôi đình phán rằng, “Ngày nào tụi mày còn ở đây thì đừng bao giờ nhắc đến hai chữ welfare. Welfare chỉ để dành cho những người lười biếng, tàn tật, tụi mày đều mạnh khỏe, có học, không việc gì phải nghĩ tới chuyện nô lệ đó!”

Hắn bấn xúc xích, xin lỗi lia chia mà thực ra không biết lỗi ở chỗ nào dù trong thâm tâm nghĩ rằng, “Có lẽ welfare chỉ để dành cho tụi da đen và người không đi làm được.” Mà ngẫm nghĩ cho cùng John nói cũng có lý!

Niềm vui tắt ngúm như ngọn đèn khô dầu, nhưng chí đã quyết, ít nhất cũng tìm cách cho các em vào truờng đại học học đại. Hôm sau, hắn trở lại trường, kéo theo hai đứa em, trình bày hoàn cảnh của anh em hắn với ước muốn được đi học trở lại. Họ giúp lo thủ tục giấy tờ cho ba anh em ghi danh vào học khóa mùa Thu.

Xong việc trường học, hắn lại tiếp tục lang thang tìm việc bằng xe bus và lô-ca-chưn khắp phố! Ai giúp ý kiến gì cũng lắng nghe, biểu điền đơn ở đâu cũng điền, cơ quan nào cũng tới.

Một hôm đang thơ thẩn trước thành Alamo, hắn bỗng thấy một gia đình Á Đông bốn người, bên này đường trông như bạn hắn. Hắn mừng như bắt được vàng, vội băng qua đường bất chấp xe cộ, chạy tới tay bắt mặt mừng. Thằng bạn… quá ngỡ ngàng, trố mắt ngó hắn và xổ một tràng tiếng Anh, giọng ngoại quốc:

– You must be mistaken!

Hắn dội lại ngó kỹ, bồi hồi:

– Are you not Vietnamese”

– No! Me Chinese!

Trời ạ! Hắn bẽn lẽn, thẹn thùng, quê một cục giữa buổi trưa mùa hè San Antonio! Không thể độn thổ được, hắn lủng lẻng cười vớt vát!

– You look like my friend, xó-ri!

Những ngày không đi làm, hắn cảm thấy không khí trong nhà có vẻ ngột ngạt! Ông hàng xóm tốt bụng bên cạnh, cựu giáo sư Anh ngữ trong quân đội nay đã về hưu, thương tình lôi hai đứa em hắn đi làm lặt vặt ngày vài ba tiếng để kiếm chút tiền. Việc học hành cũng vì thế mà chả đâu vào đâu. Biết vậy nhưng ưu tiên vẫn phải là tự lo cho cuộc sống mới càng sớm càng tốt. Tụi hắn thấy thương bà già quá và cũng tội nghiệp cho thân phận của mình, muốn cố gắng nhiều hơn nữa nhưng không biết làm sao hơn.

Một hôm, bà già và John kêu anh em họp lại để thông báo “tin mừng”! Bà cho biết vì tình cảnh gia đình bà không thể giúp nổi cho ba anh em, bà rất tiếc bà đã phải liên lạc với cơ quan từ thiện USCC và họ đã tìm được người bảo trợ mới. Bà bảo cả ba anh em sẽ được một ông chủ nông trại bão lãnh. Ở đó họ hứa sẽ dạy cho hắn lái máy… cày (vâng “cày” chứ không phải “bay”); hai đứa em sẽ được dạy cuốc đất trồng khoai. Họ sẽ cấp nhà ở riêng, sẽ cho mượn một chiếc xe hơi cũ để làm phương tiện. Cuối tuần bà sẽ đưa anh em về nhà mới! Bà giảng giải là cơ hội cho ba anh em cùng đi làm một chỗ rất khó kiếm ở phố, họ lại không đòi hỏi phải nói tiếng Anh; bà khuyên anh em cố gắng làm lụng một thời gian để đời sống được ổn định rồi tính cách khác.

Không nói ra, nhưng qua bao ngày tù túng, cả ba anh em cảm thấy như sắp được giải thoát khỏi cảnh đời bất định. Dường như cả ba anh em đều không nghĩ tới những việc tụi hắn sắp phải làm. Ở với nhau mấy tháng dài, nghĩ đến ngày chia tay lòng hắn rất bùi ngùi. Hắn tỏ lòng biết ơn sâu xa đối với bà già và John đã cưu mang anh em hắn. Hắn nói hắn rất thông cảm tình cảnh của bà và cầu nguyện Chúa luôn ban ơn phước để bà sống lâu và mạnh khỏe.

Buổi chiều trôi chậm chạp với màu nắng lụa vàng, hắn thẫn thờ nhớ xót xa về một nơi chốn đã bỏ lại, về một người tưởng rồi sẽ cho hắn những đứa con bụ bẫm, xinh đẹp khi chiến tranh lắng dịu. Không biết sau cuộc đổi đời nàng đã ra sao, ở đâu, làm gì với dáng dấp tiểu thơ đài các đó”! Hắn nhớ cha mẹ anh chị em bao nhiêu, nhớ nàng bấy nhiêu. Đã nhiều đêm hắn bàng hoàng thức giấc sau những cơn mê sảng thống khổ…

Hắn đi ra võ đường dạy bữa cuối để từ giã mọi người. Guidry nói rất tiếc không đủ sức để giữ ba anh em hắn được. Hắn nói với mọi người là dù chỉ dạy và tập ở đây một thời gian ngắn nhưng hắn rất buồn khi phải quyết định rời xa; bỏ dạy võ là điều bất đắc dĩ nhưng mong rằng khi có cơ hội sẽ trở lại. Cả trường tiễn chân hắn cùng với những đôi mắt to đen láy buồn đìu hiu, cầm tay quyến luyến. Guidry trả tiền công cho hắn còn cho thêm $20 gọi là chút quà hạnh ngộ dù hắn cố tình không nhận.

Hắn đã học biết người Mỹ rất giàu lòng nhân đạo dù trong sâu kín của tâm hồn hắn vẫn trách oán đồng minh trở mặt quay lưng. Trong thâm tâm hắn nghĩ có lẽ đây là một sách lược chung của chính phủ Mỹ nhằm xoa dịu phần nào những tang tóc mà họ dự phần trách nhiệm; dường như họ cố tình đền bù những lỗi lầm của họ đã gây ra! Suốt chặng đường tỵ nạn đến nay hắn toàn gặp những con người tốt bụng, ai cũng tỏ vẻ thân thiện và sẵn lòng giúp đỡ!

Thêm trường hợp của một người tốt bụng nữa. Thay vì John và bà già đưa anh em hắn đi về miền đất hứa Pearsall, cách San Antonio gần 60 dặm đường; nhưng ông hàng xóm Johnson đã giành phần đưa anh em hắn đi.

Sáng thứ Bảy khởi hành sau khi chào từ biệt tất cả những hàng xóm của bà già. Mặc dù hắn tỏ ý không chịu nhưng ông Johnson cũng nhất định ghé chợ mua cho một bộ nồi niêu xoong chảo và những thứ cần thiết. Hắn nhân cơ hội cố tình tìm “nước mắm” vì mấy tháng rồi vẫn không chạm mặt! Hắn nói tếu với với ông Johnson là tụi hắn nhớ “nước mắm” hơn nhớ người yêu; nước mắm là thứ đồ dùng thiết thực nhất trong đời sống hàng ngày của những con người Việt Nam bơ vơ trên đất lạ.

Ông Johnson dồn hết ba mớ đồ lỉnh kỉnh và ba anh em hắn trên một chiếc xe Ford đời một ngàn chín trăm… hồi đó – Ông nói nó chạy tốt lắm đấy – vậy mà vẫn rộng chán vì “gia sản” của anh em hắn có gì đâu ngoài mớ áo quần khiêm nhượng!

Xe phóng tàng tàng trên xa lộ vắng vậy mà cũng phải mất hơn một giờ đồng hồ mới đến nơi cần đến. Gió buổi chiều lồng lộng giúp làm giảm bớt sức nóng thiêu đốt của vùng nông trại, hương đồng cỏ nội nghe sao quen thuộc! Ánh nắng chiều chênh chếch trên khu nông trại rộng thênh thang. Xa xa, vài ngôi nhà rất thưa thớt không thấy bóng dáng con người! Những đám bụi ngập trời do những chiếc máy cày rải rác thải vào khoảng mênh mông cho hắn thấy tất cả nỗi cô đơn mà hắn có thể cảm nhận được!

Nhà ở của anh em hắn là chiếc mobile home cũ kỹ, nằm giữa đồng không mông quạnh! Hắn cảm nhận ngay đây không phải là nơi ăn chốn ở của quê hương thứ hai dù hắn cố tình tìm kiếm! Nhìn hai đứa em, thấy chúng buồn đìu hiu khiến lòng hắn chùng xuống. Hắn muốn nói câu gì an ủi hai đứa nhưng cổ hắn tắt nghẹn, chỉ đập nhẹ tay trên vai hai đứa.

Hắn biết hai chú nhỏ nhớ nhà lắm, nhớ xót xa những buổi cơm mẹ nấu trong khung cảnh đầm ấm gia đình nhưng không dám thốt ra lời nói từ khi bước chân lên tàu giữa bom bay đạn lạc! Đã có nhiều đêm hắn giật mình thức giấc giữa canh thâu vì tiếng khóc thút thít trong mơ của chú em nhỏ nhất!

Người sponsor là một người Mỹ trắng khoảng độ 50 tuổi cũng vừa chạy xe tới. Ông ta bắt tay chào mừng từng người rồi dắt vào nhà. Cái trailer trông bên ngoài có phần khiêm nhượng, nhưng bên trong được dọn dẹp gọn gàng, sạch sẽ; bộ sa lông và các giường ngủ đã cũ nhưng được trưng bày trang nhã, có đầy đủ những thứ cần thiết cho cuộc đời độc thân của anh em hắn. Có lẽ họ mới sửa sang lại trước khi đem anh em hắn về.

Nhà có hai phòng ngủ, hai phòng vệ sinh, nhà bếp và phòng khách nhỏ nhắn. Ông Johnson giúp anh em hắn dọn đồ đạc cho gọn gàng, nói chuyện với chủ nhân rồi quyến luyến chào từ giã. Ông đưa số điện thoại bảo anh em hắn có cần gì gọi cho ông ấy biết. Anh em hắn bùi ngùi tiễn ông ra xe, đứng trông theo cho đến khi bóng chiều phủ trùm xuống con đường ngoằn ngoèo đơn lẻ cùng với đám bụi xám xịt mịt mờ sau xe. Mặt trời cũng khuất dần sau rừng cây xa xa, để lại những tia nắng vàng yếu ớt soi rọi vào những linh hồn lạc lõng bơ vơ! Hắn chợt cảm khái phát sinh mấy câu thơ:

Mình bơ vơ đất lạ
Truân chuyên đời tha hương
Mây về khuất bóng tà dương
Chiều nghe canh cánh nỗi buồn Chiêm dân!

Phải, hắn đang nghĩ đến những đau thương của dân Chiêm Thành mất nước khi xưa!

Ông chủ cũng chào từ giã, nói để cho anh em hắn nghỉ ngơi, sau khi sơ lược cho anh em hắn biết cuộc đời sắp tới và chỉ đường đi đến khu chợ gần nhất khoảng mươi phút lái xe. Hắn chợt nghĩ ở Mỹ dường như ở đâu cũng có người tử tế!

Cuộc đời sắp tới là cày sâu cuốc bẩm, được trả thù lao $1.90/giờ, không trả phụ trội dù ngày làm trung bình 10-12 tiếng mùa hè và 8-10 tiếng mùa đông. Anh em hắn không phải trả tiền thuê nhà kể cả các tiện nghi, được cấp cho chiếc xe pickup cũ để lái đi nông trại. Tính ra một ngày ba anh em có thể làm gần $50, tốt hơn nhiều so với tình trạng sống những tháng ngày qua.

Theo lời khuyên của bà già, cả ba anh em dự định đi làm một thời gian, cố để dành tiền cho việc học tương lai… Đáng lẽ nên vui mừng nhưng sao lòng dạ đầy u uất và buồn nao nao! Hai đứa em nằm dài trên ghế salon phòng khách rồi ngủ vùi sau những chuỗi thở dài não nuột, chắc là đang buồn ghê gớm lắm! Hắn buồn quá và cũng muốn thử chạy chiếc xe do con ông chủ đem lại khi nãy, chạy một vòng nông trại mà không biết chạy đâu. Chỗ nào có đường là cứ xông tới.

Đường sá vắng hoe, lâu lâu mới thấy vài chú Mễ vừa đi vừa nhậu vừa xỉn. Lòng hắn mênh mang buồn trên những con đường vắng.

Khi quay về trailer, thấy nhà cửa sáng rực, dường như trong nhà có đèn nào là hai chú em bật lên tất. Hai đứa đang lui cui trong bếp và mùi cơm khê tràn ngập khắp phòng! Dù sao hai chú cũng đã quen sau bao lần khê sống mấy tháng qua. Thời buổi đó đâu có nồi cơm điện, phải dùng xoong để nấu.

Hắn nói: “Bộ hai đứa không nhớ lời mẹ dạy à, đổ gạo vào, vo xong, cho nước ngang lằn chỉ ngón trỏ rồi đặt lên bếp, khi cơm sôi phải quấy đều kẻo khê, vậy mà sao cháy khét?” Hai đứa cùng nói không biết anh đâu nên quanh quẩn đi tìm quên luôn nồi cơm đang nấu! May mà không cháy nhà! Thế là ba anh em lấy đồ hộp khui ăn với bánh mì lát.

Dù bụng đói cồn cào, dù vừa ăn vừa thay nhau kể lại những món mẹ nấu nhưng cả ba đều nuốt không trôi vì quạnh vắng quá! Hắn nói đùa cho hai chú em vui: “Rất tiếc mẹ không biết chúng ta sẽ chạy tuốt qua Mỹ nên chưa kịp dạy nấu đồ ăn Mỹ”! Thay vì cười, cả ba cùng đỏ mắt!

Mấy tháng qua, hắn dạy hai chú em nấu gà… bảy món, toàn những món hắn chế biến không học theo sách vở nào hết gồm món gà kho ketchup với hành tây; cánh gà luộc chấm xì dầu… thịt bò thì mua loại cắt mỏng về chiên beefsteak, cắt miếng nhỏ làm bò lúc lắc đổ lên đĩa rau xa-lách giòn; còn thịt heo thì kho muối, xì dầu và ớt, nướng lò… xoay qua xoay lại cũng chỉ có từng ấy món vì cả ba anh em thuở Saigon vẫn cơm hàng cháo chợ từ khi từ giã mẹ để tiếp cận với đời! Giả dụ nếu có ai hỏi ăn hoài từng ấy sao không ngán; hắn sẽ hỏi lại là có còn chọn lựa nào khác hay không!

Sáng sớm ngày thứ Hai, thằng Jack, con trai ông chủ tới kéo ra đồng. Sau khi dùng xe đưa anh em hắn quan sát một vòng nông trại gần tiếng đồng hồ với những cánh đồng dưa hấu, dưa tây, hoa mầu đủ loại bạt ngàn, Jack bỏ anh em hắn với đám Mễ đang cắm cúi bê những quả dưa hấu khổng lồ. Trong đời hắn chưa từng thấy dưa hấu to lớn như ở đây bao giờ. Quả nào quả nấy to như con bê non! Có quá nhiều quả dưa phải dùng hai người lực lưỡng mới đem nó ra gần đường để xe truck đi lượm!

Vừa nắng, vừa công việc quá nặng nhọc, hai chú học trò đừ đẫn bỏ cả cơm chiều! Thêm một ngày nữa thì cả hai ngả bệnh nóng sốt. Uống thuốc cảm có đỡ hơn đôi chút nhưng không thể đi làm ngày hôm sau được! Hắn dặn hai chú em ở nhà tự lo ăn và uống thuốc, còn hắn chạy xe ra đồng!

Có lẽ thằng chủ sợ hắn cũng sẽ ngả bệnh nên bảo thằng con dạy cho hắn lái máy cày và phụ di chuyển hệ thống tưới nước. Hắn học cái gì cũng mau mắn nên thằng Jack rất bằng lòng và bắt đầu tâm tình với hắn. Hắn có dịp nói về chuyện “ngày xưa” của hắn một cách say sưa quên cả mệt nhọc.

Buổi trưa hắn chạy về ăn cơm và thăm các em, thấy hai chú nhỏ có vẽ nặng hơn, nghĩ tới được mẹ săn sóc mỗi khi tụi hắn bệnh, hắn lại nghẹn ngào thương cảm muốn rơi nước mắt! Hắn chạy ra đồng nói với thằng Jack. Jack về theo hắn, đưa hai chú nhỏ đi bác sĩ.

Sau hai ngày thì hai chú học trò mới khỏi bệnh trong khi mỗi ngày hắn vẫn phải đi làm! Trong lúc bệnh, hai chú nhỏ than chắc là không chịu nổi với cái nắng thiêu đốt của vùng nông trại! Hắn khuyên hai chú nhỏ cố gắng chịu khổ cực một thời gian ngắn, cố gắng làm để dành tiền rồi mới tính cách khác được, chứ bây giờ tứ cố vô thân, không tiền bạc, không phương tiện, không thân nhân… biết đi đâu về đâu!

Cuối tuần hắn chất ba anh em lên xe chạy lông bông và hát “phố núi cao”… dù không phải phố núi nhưng không dám chạy quá xa nên dăm mười phút lại chạy về chốn cũ… buổi chiều buổi sáng buổi trưa lòng cứ bâng khuâng!

Hai đứa em xin học lái xe. Ở giữa đồng ruộng bao la nên không sợ đụng ai, tha hồ chúng nó chạy. Chiếc xe cũng làm cho nỗi buồn lắng xuống đôi chút!

Chưa đầy một tháng sau thì anh em hắn đành giã từ ông chủ nông trại sau khi tìm được việc làm mới cho cả ba anh em. Nhà, xe đành trả lại và cám ơn tấm lòng bảo trợ của ông. Anh em hắn, theo lời chỉ dẫn của anh chàng Mễ sở thất nghiệp, thuê được một căn nhà kho nhỏ bé của một cư dân về hưu hợp với túi tiền đang có./-

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này