Âm nhạc

Âm nhạc (120)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

La Vie En Rose: Édith Piaf hát bằng cả trái tim

La Vie En Rose: Édith Piaf hát bằng cả trái tim

Bộ phim cho thấy những đau khổ bao trùm cuộc đời Édith Piaf đã tiếp thêm sức mạnh cho nghệ thuật của bà, đồng thời khiến từng màn trình diễn của danh ca này đều phảng phất vẻ anh hùng bi tráng, cảm động lòng người.

Ở nước Pháp vào đầu thế kỷ 20, cô bé Édith Gassion 5 tuổi (diễn viên Manon Chevallier thủ vai) bị cha mẹ bỏ rơi, được các phụ nữ tốt bụng trong nhà thổ của bà nội chăm sóc. Một căn bệnh thời thơ ấu đã khiến bé Édith bị mù trong một thời gian ngắn. Nhiều năm sau, cha cô (diễn viên Jean-Paul Rouve thủ vai), một nghệ sĩ nhào lộn trong rạp xiếc và người uốn dẻo đường phố, đã đưa cô con gái lúc này đang ở độ tuổi thiếu niên (diễn viên Pauline Burlet thủ vai) vào đoàn của mình. Khi màn trình diễn trên đường phố của ông không thu hút được khán giả, ông yêu cầu cô nhanh chóng làm điều gì đó. Ngay lập tức, cô cất lời ca bài “La Marseillaise” (Quốc ca Pháp) và khiến đám đông đang tản mác phải dừng lại.

 

BM

Khi Édith (diễn viên Marion Cotillard thủ vai) trưởng thành và sống tự lập, sức mạnh truyền cảm trong giọng hát của cô đã được chủ hộp đêm Louis Leplée (diễn viên Gérard Depardieu thủ vai) phát hiện. Ông trở thành người bảo trợ của cô, đặt cho cô nghệ danh “Piaf,” tiếng lóng Pháp có nghĩa là “Chim Sẻ Mảnh Mai” (Waif Sparrow); tên gọi trìu mến miêu tả vóc dáng nhỏ nhắn của cô trên những sân khấu hòa nhạc lớn. Sau khi ông bầu Leplée qua đời, sự tự tin của cô sụt giảm; cô thậm chí còn bị la ó trên sân khấu. Sau đó, dưới sự hướng dẫn của nhạc sĩ Raymond Asso (diễn viên Marc Barbé thủ vai), Édith lấy lại phong độ, học cách kết nối với khán giả, và tỏa sáng trên sân khấu như một nữ diễn viên.

 

 

Không lâu sau, Édith bắt đầu lưu diễn khắp thế giới, biểu diễn trong các hội trường chật kín khán giả, và thu âm các album phòng thu bán chạy nhất. Ấy thế mà, bi kịch cá nhân vẫn phủ bóng mây đen lên những thành công trước công chúng của cô. Cô đối mặt với sự ra đi của người yêu Marcel Cerdan (diễn viên Jean-Pierre Martins thủ vai), một võ sĩ quyền anh thiệt mạng trong một vụ tai nạn phi cơ. Cô vật vã với cơn đau nhức dữ dội từ bệnh viêm khớp, chấn thương từ một vụ tai nạn xe hơi, và chứng nghiện morphine do sử dụng các mũi chích giảm đau trong thời gian dài. Nhưng không điều gì trong số này có thể cản bước cô, và Édith tiếp tục trở thành một trong những giọng ca được yêu mến nhất ở Pháp.

 

BM

Bộ phim này đã đạt giải Oscar cho hạng mục Hóa trang xuất sắc nhất (Best Makeup Oscar) vì đã cải biến dung mạo của diễn viên Cotillard, 32 tuổi, cao ráo, thành ca sĩ Piaf mảnh khảnh, người sống đến tuổi 47. Nữ diễn viên Cotillard đã đạt giải Oscar cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất (Best Actress Oscar) cho vai diễn Piaf. Trong những năm cuối đời, nhân vật này phải chịu đau đớn và bệnh tật giày vò, gần như không thể đi lại và trông như đã 80 tuổi. Diễn viên Cotillard đã [hóa thân] hoàn hảo vào nhân vật Piaf với đường chân tóc thụt lùi, lông mày mảnh, dáng đi khập khiễng, đầu cúi xuống như bị đè nặng bởi những gánh nặng vô hình; cô gù vai, đẩy cằm về phía trước khoảng một foot (~0.3m) so với cột sống cong vẹo của mình. Ở một số cảnh, nhân vật Piaf do diễn viên Cotillard thủ vai gần như không khác gì một hình nhân que với các chi co quắp lại vì viêm khớp đến mức phải được bế đi. Đôi tay cô run rẩy đau đớn đến mức không thể cầm nổi một ly rượu. Diễn viên Cotillard bắt chước giọng khàn khàn của ca sĩ Piaf khi nói chuyện, một sự tương phản hoàn toàn so với giọng hát dày, đầy nội lực của cô.

Có đóa hồng nào lại không có gai

 

BM

Bộ phim của đạo diễn Dahan được đặt tên theo ca khúc làm nên tên tuổi của Piaf [La Vie En Rose]. Nghĩa đen của bài hát là “Cuộc sống màu hồng” (Life in Pink), nhưng ở đây, bản nhạc tượng trưng cho thói quen của ca sĩ Piaf nhìn cuộc sống qua kính màu hồng, một cách ngây thơ để tận hưởng tình yêu và chịu đựng mất mát; sau tất cả, thể loại âm nhạc yêu thích của Piaf  chanson, hay còn gọi là nhạc ballad Pháp. Nhiều ca sĩ đã thu âm các phiên bản của bài hát này, nhưng ngay cả sau hàng thập niên khi ca sĩ Piaf qua đời, bản thu âm của Piaf vẫn được xem là phiên bản chuẩn mực nhất.

 

BM

Với thân hình gầy gò, thật khó hiểu làm sao Piaf lại sở hữu chất giọng mạnh mẽ đầy nội lực đến vậy. Cuộc sống đời thường của bà tỏa ra một nguồn năng lượng sôi động, một joie de vivre (niềm đam mê sống mãnh liệt), giống như rượu champagne trào bọt ra ngoài. Hãy nhìn sự ái mộ của Piaf trong một cuộc gặp gỡ tình cờ với nữ ca sĩ nổi tiếng thời bấy giờ Marlene Dietrich (diễn viên Caroline Silhol thủ vai). Hãy theo dõi sự phấn khích tinh nghịch của Piaf khi bà nghe người khác đọc bài đánh giá tích cực từ nhà phê bình âm nhạc Virgil Thomson về một buổi hòa nhạc của mình.

Piaf cảm nhận được rằng nỗi buồn sẽ luôn xen lẫn vào mọi niềm vui của mình, giống như chiếc gai luôn có mặt trên mỗi đóa hồng. Theo phản xạ, bà dường như đã tôi luyện bản thân cho điều đó. Hãy chú ý xem tiếng “Không!” của bà vang vọng như thế nào trong căn phòng tối om khi ai đó bật tung tấm rèm cửa sổ. Piaf tự hỏi, tại sao căn phòng của bà phải tràn ngập ánh sáng, trong khi cuộc sống của bà lại thiếu thốn điều ấy đến vậy?

 

BM

Trong một cảnh hòa nhạc, ông Dahan che giấu giọng hát của Piaf để nhấn mạnh vào hiệu ứng hình ảnh ấn tượng của mình, như thể rằng nếu không nghe thấy giọng của bà, khán giả có thể nhìn ngắm bà rõ hơn. Cách luyến láy của bà sinh động, thậm chí có phần tinh nghịch. Bà nhún vai. Đôi tay của bà, đầu tiên chống trên hông, sau đó giơ lên cầu khẩn, rồi lại chắp lại, như đang cầu nguyện. Đạo diễn Dahan cung cấp các cảnh quay cận cảnh đôi môi hồng thắm và đôi mắt long lanh của bà. Máy quay của ông lướt trên đám đông khán giả đang ngỡ ngàng, lặng lẽ rơi nước mắt, khi họ cảm nhận được nỗi đau và niềm vui của bà qua từng âm tiết.

Khoảnh khắc đó, dường như chỉ có họ với Piaf. Niềm phấn khích tột đỉnh của bà cũng trở thành của họ. Nỗi buồn của Piaf cũng vậy, khi bà chạm đến [trái tim] họ bằng sự gần gũi vượt trên cả ngôn từ. Khi bà hát lên câu cuối cùng, bà nhắm mắt lại, dường như cố gắng gạt bỏ những cảnh tượng bị từ chối hay chế giễu có thể xảy ra. Nhưng rồi, tiếng vỗ tay vang lên, bà mở mắt ra, ngập tràn kinh ngạc trước sự ngưỡng mộ không hề che giấu của khán giả.

BM

https://www.youtube.com/watch?v=KhWvG7pBUwg

Rudolph Lambert Fernandez  _  Hữu Minh

 

Nguyên Thy sưu tầm

 

https://baomai.blogspot.com/

Xem thêm...

Nhạc sĩ Thanh Sơn, ông hoàng của những tình khúc mùa Hè

Nhạc sĩ Thanh Sơn, ông hoàng

của những tình khúc mùa Hè

Nói về những ca khúc mang dấu ấn mùa Hè, ông hoàng của những nỗi buồn mùa phượng nở, ít ai có thể sánh ngang với nhạc sĩ Thanh Sơn (1938-2012). Dân mê Bolero, hầu như ai cũng biết những bài hát tuổi hoa niên, ngập tràn những giai điệu thổn thức của ông như Nỗi Buồn Hoa Phượng, Hạ Buồn, Phượng Buồn, Ba Tháng Tạ Từ, Lưu Bút Ngày Xanh…

Dân trong làng âm nhạc coi nhạc sĩ Thanh Sơn là bậc đàn anh dòng nhạc về tuổi trẻ, nhớ thương và vụng dại. Nhiều năm sau 1975, ông thường ngồi trong một quán cafe nhỏ trên đường Trần Quý Cáp (nay là Võ Văn Tần, Quận 3) để trò chuyện với những người cùng thời như nhạc sĩ Hoàng Trang, Mặc Thế Nhân, Hàn Châu… và đồng thời để tìm bài vở, góp làm các album. Vốn từ năm 2000, nhạc sĩ Thanh Sơn nhận làm biên tập, tức vai trò thu thập bài vở, tổ chức các chương trình ca nhạc mới cho Trung Tâm Rạng Đông. Vào thời điểm những ca sĩ hải ngoại bắt đầu về Việt Nam, và một số bài hát cũ được duyệt để in vào CD, nhạc sĩ Thanh Sơn hay giúp cho anh em bạn bằng cách đưa những bài hát đã sáng tác từ thời trước năm 1975 vào chương trình.

Thanh Sơn tên thật là Lê Văn Thiện, ông sinh năm 1938 (có tài liệu ghi là 1940) tại Sóc Trăng. Thanh Sơn được sinh ra trong một gia đình có 12 người con, ông là người con thứ mười.

Năm 1955, nhạc sĩ Thanh Sơn lưu lạc ở Sài Gòn, và bắt đầu học nhạc với nhạc sĩ Lê Thương. Nhưng lúc đầu, ông không nghĩ mình sẽ trở thành một nhạc sĩ mà mơ đến chuyện được đứng trên sân khấu như một ca sĩ. Ngoài giờ học nhạc và làm việc, nhạc sĩ Thanh Sơn cứ mở đài phát thanh để nghe những bài hát mới và tập hát theo.

Và rồi đến năm 1959, Thanh Sơn ghi danh tham dự cuộc tuyển chọn ca sĩ của Đài phát thanh Sài Gòn. Lúc này ông trình bày nhạc phẩm Chiều Tàn của nhạc sĩ Lam Phương và đã đạt giải nhất trong cuộc thi. Tiếc là bây giờ không còn băng ghi âm lưu trữ để mọi người nghe lại, nhưng lúc đó, nhạc sĩ Thanh Sơn đã hát hay và vượt lên nhiều thí sinh, mà sau này đều trở thành những ca sĩ lừng danh như: Phương Dung, Chế Linh, Nhật Thiên Lan… Ban giám khảo trong cuộc thi đó là những người có tên tuổi như: Võ Đức Thu, Dương Thiệu Tước, Thẩm Oánh, Nghiêm Phú Phi.

Sau khi đoạt giải nhất, Thanh Sơn được mời đi hát trong ban Tiếng tơ đồng của Hoàng Trọng. Ông được mời lưu diễn ở nhiều nơi, và mời ghi âm ở Đài phát thanh. Lúc sinh thời, nhạc sĩ Thanh Sơn kể lại chuyện này với nụ cười mỉm “hồi đó, mình nghe người ta hát trên đài mà mê, không biết chừng nào mới có dịp đến mình. Đến khi nghe Đài phát lại mấy bài hát của mình, mới ngạc nhiên sao đời như giấc mộng”. Chuyện ca hát của nhạc sĩ Thanh Sơn thành công đến mức được mời vào diễn trong đoàn Văn nghệ Việt Nam của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ. Năm 1960, ông tham gia hát ở vũ trường Maxim’s và được tham gia đi lưu diễn ở một số quốc gia như: Lào, Miên, Tân Gia Ba, Mã Lai, Nam Dương…

Năm 1965, Thanh Sơn gia nhập quân đội và phục vụ trong binh chủng Quân Vận, sau đó ông được chuyển về Tổng Tham Mưu và vẫn tiếp tục công việc sáng tác. Trong thời gian này, Thanh Sơn đã cho ra đời nhiều ca khúc nổi tiếng viết về đề tài người lính VNCH, nhất là ca khúc Mười Năm Tái Ngộ rất được mọi người yêu thích qua tiếng hát của nữ ca sĩ Phương Dung.

Chuyện sáng tác của nhạc sĩ Thanh Sơn bắt đầu từ việc ông xin nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ hướng dẫn cho mình, đọc thêm các sách vở âm nhạc khác. Năm 1960, khán giả bắt đầu biết cái tên Thanh Sơn qua nhạc phẩm Lưu Bút Ngày Xanh. Đó cũng là giai đoạn khởi đầu việc hình thành nhiều bài hát học trò, mùa Hè… nổi tiếng của ông. Thích thú với vai trò sáng tác, nhạc sĩ Thanh Sơn bắt đầu cho ra hàng loạt các ca khúc mới, được nhiều nhà xuất bản nhạc giấy chào đón. Đặc biệt trong chuỗi Nỗi Buồn Hoa Phượng của ông được coi như là một nhạc khúc đi liền với giọng hát Thanh Tuyền, trở thành một di sản đặc biệt của tình ca mùa Hè, nền văn nghệ Việt Nam.

 

Sau năm 1975, phải mất một thời gian dài, nhạc sĩ Thanh Sơn mới sáng tác lại. Lập tức ông được khán giả đón nhận nồng nhiệt qua các tác phẩm như Gợi Nhớ Quê Hương, Hình Bóng Quê Nhà, Hương Tóc Mạ Non, Hành Trình Trên Đất Phù Sa, Bạc Liêu Hoài Cổ…

Cũng như các nghệ sĩ của miền Nam, nhạc sĩ Thanh Sơn cũng phải chịu đựng nhiều điều khó khăn và kỳ thị của chế độ kiểm duyệt. Vào năm 2001, có lần ông bị gọi lên Sở Văn hóa Thông tin (lúc bấy giờ Phó Giám đốc là Phạm Minh Tuấn, nhạc sĩ của chế độ mới), để tra vấn việc ông dùng chữ “phu quân” trong một bài hát. Về sau khi bị buộc thay chữ đó, nhạc sĩ Thanh Sơn buồn bực than rằng “chẳng lẽ họ không biết chữ phu quân là người chồng sao?”. Hóa ra, bên kiểm duyệt nghi ngờ ông muốn cài cắm chữ “quân” là ám chỉ… quân (đội) VNCH trong bài hát.

Những câu chuyện như vậy thường được than vãn quanh bàn cafe của các nhạc sĩ Thanh Sơn, Mặc Thế Nhân, Hoàng Trang và Hàn Châu, lúc nhạc sĩ Thanh Sơn còn sống. Những người quen biết được kề cận, mới biết được nỗi niềm và cả những tâm sự nghề nghiệp của họ.

Khó mà tin được là những ngày tháng cuối cuộc đời ấy, những người nhạc sĩ vẫn đôi khi còn trách nhau về những nốt nhạc vụng dại đã từng viết ra hoặc vẫn chất vấn về một câu chữ không rõ nghĩa. Âm nhạc đối với họ không chỉ là nghề, mà là niềm vui, là trách nhiệm và sự đau đáu ước muốn được một lần quay trở lại thời của mình từng được sống tự do, để hoàn thiện nghiệp dĩ.

“Có những lúc nghĩ về một nốt nhạc đã lỡ viết ra, mình ân hận vì muốn sửa cho hay hơn nhưng tiếc là khán giả đã thuộc lòng cái sai của mình mất rồi” – trong một lần ngồi kể lại chuyện xưa, nhạc sĩ Thanh Sơn tần ngần nói như vậy.

Và bao giờ cũng vậy, khi nhắc về Nỗi Buồn Hoa Phượng, ánh mắt của ông bao giờ cũng lấp lánh niềm tự hào. Ca khúc tràn ngập tuổi trẻ, kỷ niệm và thổn thức riêng của mỗi người này vẫn được mọi người trong chiếc bàn ấy bình chọn vui là “quốc ca mùa Hè”.

Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn,
Chín mươi ngày qua chứa chan tình thương,…
Màu hoa phượng thắm như máu con tim,
Mỗi lần hè thêm kỷ niệm,
Người xưa biết đâu mà tìm.

Với những khán giả không thuộc dòng nhạc vàng, những âm điệu và ngôn ngữ này dường như có vẻ là “sến”, nhưng không ai có thể chối cãi rằng những hình ảnh và âm giai của bài hát này đã âm vang trong trái tim nhiều thế hệ, thậm chí làm không ít người phải ngẩn ngơ thổn thức khi nghe bài hát này.

“Phải chi được sống lại ở tuổi 30” – nhạc sĩ Thanh Sơn từng trầm ngâm nói. Tuổi 30 của ông với những bài ca đã tạo nên tên tuổi của ông và tạo nên một vệt dài độc đáo trong di sản văn hóa đặc thù của miền Nam. Tuổi 30, ông đem lại một khung trời giai điệu của tuổi học trò, đẳng cấp và khó quên một khi đã nghe và chiêm nghiệm về nó như Ba Tháng Tạ Từ, Màu Áo Hoa Phượng, Lưu Bút Ngày Xanh, Hạ Buồn, Ve Sầu Mùa Phượng…

Và rồi một ngày, cơn đột quỵ vào năm 2012 khiến chỗ ngồi quen thuộc vắng đi một người. Chiếc bàn nhỏ như một ký ức sót lại của vàng son bolero ngày càng lặng và buồn hơn. Ðôi khi nhạc vẳng lên từ chiếc loa cũ lại làm những người còn lại thở dài. Tiếng hát “giã biệt bạn lòng ơi…” dường như càng thấm thía hơn bao giờ hết.

Và rồi một buổi chiều Tháng Tư năm 2012, khi tin nhạc sĩ Thanh Sơn bỏ cuộc chơi lan đi, dù biết nhưng vẫn làm hụt hẫng nhiều người. Sau dòng nhạc của Thanh Sơn, khó có thể tìm được ai tiếp nối, những giai điệu ngọt đến nao lòng của Hát Nữa Đi Em, hoặc dân dã đến mức lịm hồn như Bạc Liêu Hoài Cổ?

Nền âm nhạc Việt Nam, đặc biệt là miền Nam, đã mỗi lúc mỗi vắng hơn những cái tên quen thuộc. Mọi thứ đang mất dần. Giờ thì “Mỗi lần Hè thêm kỷ niệm, người xưa biết đâu mà tìm…”

mà tìm…”

 


Cuộc đời và sự nghiệp của nhạc sĩ Thanh Sơn –

Người sáng tác nhạc cho học sinh và quê hương miền Nam

Cuộc đời và sự nghiệp của nhạc sĩ Thanh Sơn được đánh giá cao với việc viết nhạc cho tuổi học trò và quê hương Nam Bộ. Ông đã chạm đến trái tim của nhiều người thông qua những bài hát sâu sắc, đầy cảm xúc. Thanh Sơn đã có nhiều sáng tác nổi tiếng như “Lưu luyến trường xưa”, “Tiếng hát trong mơ” và “Chỉ cần bạn thương”. Những bài hát này không chỉ mang âm nhạc đẹp mà còn thể hiện tình yêu quê hương, tình cảm thanh niên và ý nghĩa cuộc sống. Nhạc sĩ Thanh Sơn là gương mặt nổi bật trong làng nhạc Việt Nam..

Chủ đề chính trong tác phẩm của Thanh Sơn có thể chia thành 2 mảng lớn, đó là nhạc về tình yêu, về tuổi học trò, với những ca khúc nổi tiếng: Nỗi Buồn Hoa Phượng, Lưu Bút Ngày Xanh, Hạ Buồn, Ba Tháng Tạ Từ… và những ca khúc quê hương mang âm hưởng dân ca Nam Bộ, tiêu biểu là Hành Trình Trên Quê Hương (sau này ông đổi tên thành Hành Trình Trên Đất Phù Sa), Hình Bóng Quê Nhà, Hương Tóc Mạ Non, Gợi Nhớ Quê Hương…

Ngoài ra nhạc sĩ Thanh Sơn cũng là tác giả của nhiều bài nhạc lính nổi tiếng: Đọc Tin Trên Báo, Mười Năm Tái Ngộ, Hai Người Lính Tâm Sự, Những Vùng Đất Mang Tên Anh (Thăm Những Vùng Địa Sử)…