Thế giới quanh ta

Thế giới quanh ta (679)

Hoa Quả Đặc Sản Miền Nam

Hoa Quả Đặc Sản Miền Nam
 
 
Được Thiên nhiên ưu ái về điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng, miền Nam hiện là vựa hoa quả lớn nhất cả nước. Với sự đa dạng cũng như chất lượng tuyệt vời.
Đặc sản miền Nam không chỉ nổi tiếng với các địa danh Du lịch như đảo Phú Quốc, Tây Ninh, Đà Lạt…Món ăn đặc sản miền Nam như gỏi cuốn, hủ tiếu, phá lấu, bánh mì…hay đặc sản bánh kẹo miền Nam mà trái cây đặc sản miền Nam cũng là 1 trong những món ngon không thể bỏ qua khi Du lịch đến vùng đất này.
 
5099 1 HoaQuaMienNamNCaliST
Việt Nam với những đặc sản trái cây độc đáo
 
      Sầu Riêng
Sầu Riêng , trái cây đặc sản miền Nam khó ngửi nhưng “Gây Nghiện”. 
Khi nhắc đến hoa quả đặc sản miền Nam chắc hẳn Bạn sẽ nghĩ ngay đến Sầu Riêng. Đây là loại trái cây đặc biệt với hương vị không thể nhầm lẫn đặc trưng cho mùa Hè. Miền Tây với những vườn trồng Sầu Riêng khổng lồ cung cấp sản lượng lớn từ các loại Sầu Thái, Sầu Riêng Ri6 thơm ngon béo ngậy.
Tuy không phải Ai cũng có thể thưởng thức loại quả này thế nhưng nếu Bạn trót Yêu” Sầu Riêng thì khó lòng từ bỏ được. 
Nếu có cơ hội ghé thăm các Tỉnh Thành khu vực phía Nam, chắc chắn Sầu Riêng  chính là loại quả mà Bạn không nên bỏ qua.
 
5099 2 SauRiengNCaliST
  Sầu Riêng là loại trái cây đặc biệt với hương vị không thể nhầm lẫn
 
       Măng Cụt
Măng Cụt, trái cây đặc sản miền Nam hấp dẫn từ vị “Chua Ngọt”.
Hương vị mà trái Măng Cụt mang đến cho Người thưởng thức quả thực rất tuyệt vời.Vị ngọt ngọt vừa phải, chua chua không hề gắt hòa quyện với hương thơm của hoa quả tươi khiến Măng Cụt  trở thành loại trái cây đặc sản miền Nam không thể chối từ.
       Măng Cụt , trái cây đặc sản miền Nam tốt cho sức khỏe.
Mùa hè chính là mùa của Măng Cụt . Thời điểm này, Măng Cụt  ngọt và ngon nhất vụ. Không chỉ là loại quả thông thường, Măng Cụt  còn có nhiều tác dụng đối với sức khỏe và làm đẹp như hỗ trợ điều trị bệnh tim mạch, tốt cho hệ tiêu hóa, giảm mệt mỏi, chống lại tác động của quá trình oxy hóa,...
5099 3 MangCutNCaliST
Măng Cụt là loại trái cây giải nhiệt lý tưởng cho mùa Hè
 
 
       Chôm Chôm
Chôm Chôm, 1 loại quả không thể bỏ qua trong danh sách đặc sản miền Nam đó chính là quả Chôm Chôm . 
Chôm Chôm được trồng nhiều tại các tỉnh như Bình Dương, Bến Tre, Đồng Nai,... và có nhiều loại. Trong số đó, Chôm Chôm tróc hạt, Chôm Chôm  nhãn được yêu thích hơn cả nhờ vị ngọt và thịt giòn.
Với vẻ ngoài xù xì, đỏ tươi rất khác lạ, Chôm Chôm là món ngon miền Nam lại mang trong mình hương vị ngọt chua thanh thanh. 
Bạn nên chọn những quả còn tươi, râu xung quanh còn xanh và cứng để đảm bảo độ tươi ngon nhất.
 
5099 4 ChomChomNCaliST
Chôm Chôm mang trong mình hương vị chua ngọt thanh thanh
 
       Dừa Sáp Trà Vinh
Dừa Sáp Trà Vinh , trái cây đặc sản miền Nam ngon đến từ lớp “Cùi”. 
Thêm 1 điều đặc biệt nữa đó là lớp Cùi của Dừa Sáp  chiếm phần lớn của lõi. Lớp Cùi này mềm và xốp chứ không chắc và cứng. Thế nhưng nhìn hình dáng bên ngoài trái Dừa, bạn khó lòng có thể phân biệt được đâu là Dừa Sáp . Một cây Dừa Sáp nhưng chỉ có khoảng 20% Dừa là Sáp nên Bạn đừng bỏ qua cơ hội thưởng thức nhé.
Một ly nước Dừa, thêm chút đá và thưởng thức giữa cái nóng nực của mùa Hè là điều không thể tuyệt vời hơn. 
Dừa Sáp ngon nhất là được trồng tại Trà Vinh, 1 tỉnh ven biển của đồng bằng sông Cửu Long. Dừa Sáp Trà Vinh chính là 1 loại hoa quả đặc sản miền Nam với hương vị thơm ngon, sệt hơn so với các loại Dừa khác.
 
5099 5 DuaSapNCaliST
Dừa Sáp là món quà tuyệt vời của vùng đất phía Nam
 
       Dừa Nước
Dừa Nước là loại quả đặc sản miền sông nước. Dừa Nước là loại cây mọc dại nhiều dọc 2 bên các dòng sông tại miền Tây từ vùng biển Cần Giờ, Gò Công tới cửa sông Tiền, sông Cố Chiên, Hàm Luông, Vàm Cỏ….
 Loài cây này không chỉ mang lại vẻ đẹp cho vùng đất mà còn là món giải khát tuyệt vời vào mùa Hè. 
Dừa Nước còn góp phần làm nên bao món ngon miền Nam như: chè, làm mứt dẻo, pha chế cocktail. Nước Dừa ngọt thanh, ăn kèm với Cùi Dừa sần sật chính là những gì Bạn có thể thưởng thức từ loại quả đặc biệt này.
 
5099 6 DuaNuocNCaliST
Hạt Dừa Nước  được chế biến thành nhiều món ăn độc đáo
 
       Quýt Hồng Đồng Tháp
Đồng Tháp là nơi cung ứng Quýt Hồng  tươi ngon và chất lượng mà không nơi nào có thể sánh được. 
Những trái Quýt Hồng  Đồng Tháp có lớp vỏ ngoài căng mịn, vàng ươm phớt hồng với hương thơm thoang thoảng rất tươi mát.
Khi bóc lớp vỏ, từng múi quýt tròn mọng lộ ra với mùi vị không thể cưỡng lại được. Với nhiều thành phần tốt cho sức khỏe như các loại Vitamin và khoáng chất, Quýt Hồng Đồng Tháp xứng đáng là loại hoa quả đặc sản miền Nam đáng để thử khi ghé thăm vùng đất này.
 
5099 7 QuytHongNCaliST
Quýt Hồng Đồng Tháp là trái cây đặc sản miền Nam thơm ngon đặc biệt
       
   Bưởi Da Xanh
Bưởi Da Xanh có nguồn gốc từ Bến Tre cũng không nằm ngoài danh sách đặc sản miền Nam. 
Bưởi da xanh Bến Tre là 1 loại quả quý và vô cùng thơm ngon, bổ dưỡng với nhiều thành phần dinh dưỡng có khả năng tăng cường sức khỏe và phòng chống bệnh tật.
Với vẻ ngoài xanh đậm ngay cả khi chín, Bưởi Da Xanh cầm rất chắc tay và có hương thơm nhẹ. Các múi Bưởi bên trong có màu hồng, thường rất ít hạt, thưởng thức có vị ngọt đậm đà và thanh mát.

5099 8 BuoiDaXanhNCaliST

Bưởi Da Xanh là một trái cây đặc sản miền Nam quý và bổ dưỡng
       
    Vú Sữa Lò Rèn
Nếu Bạn vẫn còn thấy thiếu sót cho câu trả lời của câu hỏi miền nam có đặc sản gì thì đó chính là Vú Sữa . 
Vú Sữa là loại quả khá phổ biến vào mùa Hè tại các tỉnh phía trong. Thế nhưng Vú Sữa Lò Rèn lại có hương vị rất riêng. 
Vú Sữa Lò Rèn có vỏ khá mỏng màu xanh hơi ngà. Quả khi chín đi thường căng bóng và cho chút phớt hồng. Phần thịt của Vú Sữa  Lò Rèn dày và ngọt đậm đà hơn hẳn so với Vú Sữa  thông thường. 
 
5099 9 VuSuaLoRenNCaliST
Vú Sữa Lò Rèn có hương thơm của Sữa và Va ni rất đặc biệt
       
    Thanh Trà
Khi ngửi mùi hay vừa ăn Thanh Trà,  Bạn sẽ liên tưởng ngay đến Xoài. 
Thanh trà là trái cây đặc sản miền Nam có vỏ màu vàng tươi đẹp mắt, khi ăn có độ giòn và tuyệt vời hơn khi chấm với muối ớt. 
Bạn cũng có thể thưởng thức Thanh Trà bằng cách xay sinh tố cùng đường và đá để thưởng thức trong mùa Hè.
 
Thanh Trà có vỏ màu vàng tươi đẹp mắt có thể thưởng thức bằng nhiều cách
 
Mùa Hè chính là thời điểm tuyệt vời nhất để thưởng thức các loại hoa quả đặc sản miền Nam. 
Dù những loại trái cây này có được trồng tại những vùng đất khác nhưng vẫn không thể sánh được Hương vị tại “Thiên đường” phía Nam
     
Minh Phương
Xem thêm...

8 MÓN ĂN CÓ NGUỒN GỐC TỪ CHIẾN TRANH, MỘT SỐ MÓN CHÚNG TA VẪN ĂN ĐẾN NGÀY NAY

8 MÓN ĂN CÓ NGUỒN GỐC TỪ CHIẾN TRANH

MỘT SỐ MÓN CHÚNG TA VẪN ĂN ĐẾN NGÀY NAY

Một số thực phẩm chúng ta thường thấy hoặc rất thích ăn kỳ thực là có nguồn gốc từ những năm tháng chiến tranh, khi người ta phải trải qua bao thăng trầm, thậm chí là phải chịu đói.


Hạt socola M&M cho đến nay vẫn là món ăn vặt phổ biến của mọi người ở mọi lứa tuổi, nhưng chúng từng bị quân đội Mỹ hạn chế khẩu phần. (Ảnh: Shutterstock)

Chiến tranh thường kích thích sự đổi mới kỹ thuật và thay đổi văn hóa. Kỹ thuật và văn hóa ẩm thực cũng là một phần trong đó. Thuận theo sự va chạm và hội nhập của các nền văn hóa cũng như sự xuất hiện của các kỹ thuật mới để bảo đảm nguồn cung lương thực, một số loại thực phẩm và món ăn mới đã xuất hiện, thậm chí đã dần trở nên phổ biến sau chiến tranh và còn trở thành món ăn hàng ngày hiện tại của chúng ta.

Sữa đặc

Thêm một chút sữa đặc khi pha cà phê hoặc làm món tráng miệng sẽ làm chúng có vị ngọt ngào và thơm nức mùi sữa. Loại thực phẩm này có thể khởi nguồn từ giữa thế kỷ 19. Vào thời điểm đó, học giả Gail Borden nhìn thấy rất nhiều người bị bệnh do uống sữa hết hạn sử dụng, vậy nên ông muốn phát minh ra một loại chế phẩm sữa có thể sử dụng được lâu dài. Ông đã sử dụng các phương pháp khử nước, tinh chế và đóng lon để sản xuất ra sữa đặc. Vào năm 1856, ông đã thành lập công ty sữa đặc đầu tiên trong lịch sử “Eagle Brand.”

Sữa đặc, một loại thực phẩm phổ biến, đã bắt đầu trở nên phổ biến từ thời Nội chiến Hoa Kỳ. (Ảnh: Shutterstock)

Tuy nhiên, hai nhà máy đầu tiên của ông Borden đều bị phá sản, sữa đặc của ông cũng không trở nên phổ biến. Mãi cho đến thời kỳ Nội chiến Hoa Kỳ vào những năm 1860, khi chính phủ Hoa Kỳ mua số lượng lớn sữa đặc để cung cấp cho các binh sĩ ở tiền tuyến, sản phẩm này mới bắt đầu được hàng ngàn hộ gia đình biết đến. Nestle, một công ty sữa đặc rất nổi tiếng sau Nội chiến, đã thành công nhờ lấy cảm hứng từ “Eagle Brand.”

Thực phẩm đóng hộp

Nói đến sữa đặc thì phải kể đến kỹ thuật cơ bản của nó là đóng lon. Kỹ thuật này được phát triển trong những năm hỗn loạn của Cách mạng Pháp.

Rất nhiều loại thực phẩm đóng hộp ngày nay đều có lịch sử từ thời Cách mạng Pháp. (Ảnh: Shutterstock)

Vào năm 1795, quân đội Pháp đã treo giải thưởng 12,000 Franc cho người tìm ra kỹ thuật giúp thực phẩm không bị hỏng trong thời gian dài. Đến năm 1806, Nicolas Appert, người được mệnh danh là “Cha đẻ của khoa học thực phẩm,” đã phát minh ra kỹ thuật đóng lon. Quy trình sản xuất cơ bản của nó là nung nóng lon ở nhiệt độ cao để thực phẩm không bị hư hỏng trước khi mở.

Tuy nhiên, vào thời điểm đó, chính phủ Pháp đã không trao thưởng cho Appert. Mãi đến năm 1810, Bộ Nội vụ Pháp mới đồng ý thưởng 12,000 franc cho Appert, nhưng điều kiện là ông phải tiết lộ kỹ thuật này cho xã hội. Kết quả là cùng năm đó, Appert đã xuất bản cuốn sách với tựa đề “Nghệ thuật bảo quản thực phẩm làm từ động vật và thực vật.” Đây là cuốn sách đầu tiên về kỹ thuật bảo quản thực phẩm hiện đại.

Lẩu bộ đội (Budae Jjigae)

Lẩu bộ đội cổ điển thường có nước dùng cay, sền sệt và nhiều loại thịt đã qua chế biến cùng với rau và mì ống v.v. Phương thức nấu ăn này xuất hiện trong thời kỳ Chiến tranh Triều Tiên. Vào thời điểm đó, những người lính thiếu lương thực thường cho giăm bông, thịt ăn trưa, xúc xích và các loại thịt khác được nhập lậu từ căn cứ quân sự Hoa Kỳ vào súp, sau đó thêm vào bất cứ thực phẩm nào hiện có để nấu.

Lẩu bộ đội Hàn Quốc là món ăn dùng giăm bông, thịt ăn trưa và các hàng viện trợ khác của Hoa Kỳ, thêm vào kim chi và mì ăn liền để giải quyết tình trạng thiếu nguyên liệu trong Chiến tranh Triều Tiên. (Ảnh: Dương Tiệp/ Epoch Times)

Do đó, chúng ta có thể thấy lẩu bộ đội thường bao gồm nhiều loại thịt chế biến sẵn của Hoa Kỳ, thậm chí cả đậu đóng hộp và phô mai Mỹ. Đồng thời, trong nồi lẩu cũng sẽ có nhiều món ăn Hàn Quốc đa dạng như kim chi, tương ớt Hàn Quốc, mì ramen, súp cá cơm, v.v.

Spam

Người ta thường cho rằng thịt hộp Spam được sản xuất bởi công ty Hormel vào năm 1937. Nó đã trở nên phổ biến trên toàn thế giới sau khi quân đội Hoa Kỳ tham gia Đệ nhị Thế chiến.

Thịt hộp Spam là thịt hộp được chế biến từ thịt lợn, muối, đường, tinh bột và gia vị, có thể ăn ngay sau khi mở. Đây là bữa ăn khẩn cấp của quân đội Hoa Kỳ trong Đệ nhị Thế chiến khi nguồn cung cấp thực phẩm khan hiếm. (Ảnh: Shutterstock)

Là thực phẩm tiêu chuẩn của quân đội Hoa Kỳ, thịt hộp Spam đã cùng quân đội đi đến rất nhiều khu vực ở châu Âu và châu Á. Vào thời điểm đó, ngành công nghiệp thực phẩm ở rất nhiều nơi đều bị chiến tranh tàn phá và thịt hộp Spam đã trở thành nguồn cung cấp thịt để binh sĩ sinh tồn.

Sau chiến tranh, thịt hộp Spam bắt đầu hòa nhập vào văn hóa ẩm thực của các vùng miền. Hàn Quốc có lẩu bộ đội, Singapore có cà ri Spam, Philippines có Spam sisig… Thịt hộp Spam đã trở thành nguyên liệu chính cho rất nhiều món ăn mỹ vị.

Thanh dinh dưỡng socola

Tiền thân của thanh dinh dưỡng socola hiện đại là thanh socola được gọi là “Logan bar.” Trong Đệ nhị Thế chiến, thanh năng lượng do Hershey sản xuất này là thực phẩm tiêu chuẩn của quân đội Hoa Kỳ. Chúng có lượng calo rất cao và có vị ngọt nên được binh lính ưa chuộng. Nhưng nó cũng có một nhược điểm, đó là socola rất dễ tan chảy, hơn nữa vì quá ngon nên dễ bị quân lính ăn trước. Sau đó, công ty Hershey cũng phát triển một loại thanh năng lượng mới dành riêng cho quân đội. Socola trong đó không dễ tan chảy và hương vị cũng không ngon lắm.
 
Những thanh socola của Hershey từng là mặt hàng thực phẩm tiêu chuẩn của quân đội Hoa Kỳ. (Ảnh: Shutterstock)

Sản phẩm socola tương tự còn có hạt socola “M&M’s.” Loại kẹo này có lớp phủ bên ngoài cứng hơn, nên việc socola ở giữa có tan chảy hay không không thành vấn đề. Khi hạt socola này xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1941, nó là thực phẩm khẩu phần chỉ dành cho quân đội Hoa Kỳ. Phải đến sau Đệ nhị Thế chiến, khi nhà sản xuất Forrest Mars đưa sản phẩm này ra thị trường thì nó mới dần trở nên phổ biến.

Bánh Woolton (Woolton Pie)

Bánh Woolton cũng là sản phẩm của Đệ nhị Thế chiến. Tên của nó xuất phát từ tên của ông Lord Woolton, Bộ trưởng Bộ Thực phẩm Anh vào thời điểm đó.

Woolton Pie là món ăn tiện lợi của người Anh trong Đệ nhị Thế chiến. (Ảnh: Shutterstock)

Bánh Woolton lúc đó không phải là một món ăn cầu kỳ mà chỉ là sự kết hợp ngẫu nhiên của các nguyên liệu thông thường. Nó được làm bằng cách nấu rau trong nước thịt đặc, sau đó thêm bột yến mạch để hút nước, cuối cùng phủ lên trên bằng bánh mì giòn hoặc khoai tây. Người ăn chay cũng có thể chọn bánh mì nướng với súp rau củ và dầu thực vật.

Trong những năm chiến tranh, khi việc phân chia khẩu phần lương thực được thực hiện, loại thực phẩm với nguyên liệu đơn giản và cách chế biến dễ dàng này đã giúp rất nhiều người có được những bữa ăn bổ dưỡng và hấp dẫn.

Bánh sừng bò (Croissant)

Bánh sừng bò còn được gọi là bánh mặt trăng, bánh mì sừng bò, bánh mì sừng cừu. Bánh sừng bò có thể có nguồn gốc từ thời chiến tranh nhưng vấn đề này cho đến nay vẫn còn gây tranh cãi.

Có nhiều cách nói ​​​​khác nhau về nguồn gốc của bánh sừng bò. Một trong những cách nói phổ biến nhất là nó bắt nguồn từ Vienna vào năm 1683. (Ảnh: Pixabay)

Về nguồn gốc của bánh sừng bò, một trong những cách nói phổ biến nhất là vào năm 1683, người Áo đã làm ra một loại bánh mì hình trăng lưỡi liềm có tên là “kipfel” để ăn mừng việc đánh bại quân đội Đế chế Ottoman tấn công Vienna. Hình dạng của chiếc bánh mì này giống với hình trăng lưỡi liềm trên lá cờ Ottoman. Sau này, người Pháp đã phát minh ra phương pháp làm bánh ngọt và sử dụng phương pháp này để nướng bánh sừng bò, từ đó làm ra loại bánh mì mà chúng ta thấy ngày nay.

Chính bởi đoạn lịch sử này, bánh sừng bò đã bị một số lực lượng Hồi giáo coi là biểu tượng cho chiến thắng của người châu Âu trước người Hồi giáo. Trong cuộc nội chiến ở Syria năm 2013, phiến quân phản chính phủ thậm chí còn cấm bán loại bánh mì này ở Aleppo.

Nước sốt thịt cay (Chili con carne)

Nước sốt thịt cay có lẽ xuất hiện lần đầu tiên ở San Antonio, Texas. Vào đầu thế kỷ 19, khu vực này vẫn là lãnh thổ của Vương quốc Tây Ban Nha. Một nhóm phiến quân chủ yếu bao gồm người Tây Ban Nha-Mexico, người Mỹ gốc Pháp và hậu duệ của thực dân Anh, đã tấn công khu vực này. Phiến quân ban đầu hứa sẽ bảo vệ các quý tộc địa phương, nhưng sau đó đã sát hại họ. Động thái này đã khiến người dân địa phương phẫn nộ. Do đó, người dân từ chối cung cấp lương thực cho quân nổi dậy.

Nước sốt thịt cay có khẩu vị đậm đà. Đằng sau nó là một câu chuyện tình yêu trong thời kỳ chiến tranh. (Ảnh: Shutterstock)

Tuy nhiên, có một cô gái quý tộc và một người lính của phiến quân đã yêu nhau. Cả hai đã mở một nhà hàng Mexico ở San Antonio và nấu ăn cho quân nổi dậy. Một trong những món ăn nổi tiếng của họ là nước sốt thịt cay. Người phụ nữ quý tộc có tên Jesusita de la Torre này cũng trở thành “Nữ hoàng cay San Antonio” đầu tiên.

Những thực phẩm trên đều có nguồn gốc từ thời chiến tranh. Ngày nay, với những cải tiến trong kỹ thuật công nghiệp và kỹ thuật nấu nướng, chúng có thể đã thay đổi đáng kể so với những ngày đầu. Khi ăn những món ăn này và nghĩ đến những cuộc chiến tranh cách đây nhiều năm, chúng ta có lẽ sẽ cảm nhận được cảm giác đặc biệt về những thăng trầm của cuộc sống thời đó.

Lưu Cảnh Diệp thực hiện
Toàn Phong biên dịch / Theo: epochtimesviet
 
Ngọc Lan sưu tầm
 
 
 

Xem thêm...

Amish là ai?

Amish là ai?

 Vụ bắt cóc và trở về của 2 cô gái người Amish tại New York lên báo, một lần nữa dư luận lại quan tâm đến dân “Amish”… Cảnh Sát phải cần họa sĩ để vẽ chân dung của các cô gái bị mất tích, vì dân Amish không được chụp hình, họ là những người từ chối sử dụng công nghệ, sống đơn giản, biệt lập, còn được gọi là dân “Pennsylvania Dutch” (Dân Hòa Lan ở Pennsylvania).

Thành phố Amish, indiana. nguồn. Patheos     

Dạo chơi bờ sông Charles, Boston, tôi gặp một nhóm người da trắng ngồi bên bãi cỏ xanh đầy nắng, họ vui chơi, thổi sáo, hát những ca khúc lạ tai. Các cô gái tóc vàng, mắt xanh, đẹp tự nhiên, không một chút son phấn, trang phục áo đầm dài màu đen, yếm choàng trắng, nón trắng, kiểu giống những người làm nông trại ở Âu Châu; đàn ông, nón đen, áo trắng quần đen, quai đen. Tôi chào, họ tươi cười chào lại, sao tôi vẫn thấy họ rất khác biệt với dân Mỹ thường gặp, hỏi ông ngồi bên

– Họ là dân Amish ở Mỹ.

Lịch sử người Amish ở Hoa Kỳ

Dân Amish đã có mặt ở Mỹ lâu lắm rồi. Người đầu tiên tới đây vào đầu thế kỷ 18 vì trốn khỏi cuộc thanh trừng tôn giáo ở Âu Châu và tìm đất sống. Amish là những người thuộc giáo phái Anabaptist của Giáo Chủ Jakob Ammann từ Thụy Sĩ lúc cuối thế kỷ 17, họ tin rằng “Các tín đồ phải tuân theo lời giáo huấn của Chúa” và “Từ bỏ thế giới” trong cuộc sống hằng ngày của họ. Tên Amish xuất từ tên của Giáo Chủ Ammann.

Gia đình Amish. nguồn.flowerpatchcottage.com

Ngôn ngữ

Người Amish sử dụng phương ngữ “Pennsylvania Dutch”, được phát triển từ ngôn ngữ của tổ tiên Thụy Sĩ và Đức, tuy nhiên, trong hơn 3 thế kỷ, ngôn ngữ của họ đã phát triển và thay đổi rất nhiều đến nỗi người nói tiếng Đức bản địa cũng khó mà hiểu được. Chữ “Dutch” (Hòa Lan) trong “Pennsylvania Dutch” không ám chỉ đến đất nước Hòa Lan với địa hình bằng phẳng và tràn ngập hoa, mà là “Deutsch” – tiếng Đức. “Pennsylvania Dutch” là một phương ngữ của Đức. Người Amish nói tiếng Đức nhưng cách phát âm không giống tiếng Đức bây giờ. Ngôn ngữ của họ còn bị ảnh hưởng bởi tiếng Anh do môi trường sống xung quanh. Một số người Amish, đặc biệt là ở tiểu bang Indiana, nói một thứ tiếng gần với tiếng Đức, Thụy Sĩ.

Nơi sinh sống

Với việc canh tác nông nghiệp là nền tảng căn bản trong cuộc sống, người Amish không bị ảnh hưởng bởi những lối sống hiện đại giữa một quốc gia tân tiến nhất thế giới. Họ luôn tìm kiếm những vùng đất mới cách xa các khu đô thị. Sau lần đầu định cư tại Ohio, bây giờ thì dân Amish có mặt trên 30 tiểu bang và cả Canada, Ohio đông nhất, sau đó là Pennsylvania và Indiana.

Đàn ông Amish. nguồn. beardoholic.com

Dân số

Dân Amish là một trong những nhóm có dân số gia tăng nhanh, khắp nước Mỹ. Theo phúc trình của Trung Tâm Thanh Niên Anabaptist và cuộc nghiên cứu tại Elizabethtown College ở Lancaster, Pa. Dân số Amish tăng trưởng từ 5,000 người năm 1920 tới gần 300,000 bây giờ. Vào năm 1984, chỉ có 84,000 người Amish, như vậy so với hiện tại đã tăng hơn 3 lần. Dân Amish coi một gia đình đông con như là phước lành Chúa ban và càng đông thì càng có nhiều sức lao động đáp ứng cho nghề nông của họ.

Công việc, thuế và nghĩa vụ quân sự

Với dân Amish, nông nghiệp là truyền thống lao động. Tuy nhiên, trong thế kỷ qua, theo phúc trình của Trung Tâm Trẻ Amish, số lượng người Amish tham gia vào công việc thương mại đã gia tăng nhiều, đáng kể nhất là nghề làm đồ gỗ, tủ bàn giường ghế và bán sản phẩm nông nghiệp. Họ cũng có những nhóm xây dựng, làm nhà cho những người không phải là Amish, đôi khi cũng có người làm việc tại hãng xưởng của người Mỹ, chẳng hạn như xưởng xe hơi, đặc biệt tại Indiana.

Họ cũng đóng thuế lợi tức của mình, thuế tài sản, thuế hàng hóa, thuế bất động sản và thuế trường học. Trên thực tế, nhiều người Amish trả thuế trường học 2 lần, cho cả trường công và trường tư.

Tuy nhiên, họ không nộp và cũng không nhận được tiền bảo hiểm xã hội. Quốc Hội đã miễn trừ cho dân Amish vào năm 1965, vì cho rằng đó là hình thức bảo hiểm thương mại. Dân Amish tin rằng những thành viên của nhà Thờ phải giúp đỡ về sức khỏe và vật chất cần thiết cho người trong cộng đồng.

Amish được miễn phục vụ trong Quân Đội vì niềm tin vô đối kháng, một thuật ngữ của chủ nghĩa hòa bình.

Trẻ em Amish. nguồn.humansarefree.com

Luật lệ

Cuộc sống của dân Amish được điều hành bởi “Quy tắc Ordnung” tiếng Đức nghĩa là “Tổ Chức”. Đây là luật bất thành văn của người Amish, trong đó nhấn mạnh sự khiêm tốn, nghe lời và giản dị. Họ phản đối bất cứ hình thức bạo lực nào, đồng thời tránh tham gia chiến tranh, quân đội. Họ cũng tránh dính líu đến pháp luật, muốn tha thứ nhiều hơn là trừng phạt. Luật lệ thay đổi tùy theo cộng đồng.

Từ chối công nghệ hiện đại

Với lối sống từ chối sử dụng mọi tiện nghi của nhân loại và trung thành với truyền thống cách đây từ hàng trăm năm, phần lớn cộng đồng người Amish bị cấm sở hữu xe hơi, không dùng điện từ các đường dây công cộng, không sử dụng các loại máy nông nghiệp tự động, không dùng tivi, đài phát thanh và máy tính, không học phổ thông và đại học, không tham gia quân đội và bài trừ việc ly hôn. Họ không được phép lắp điện thoại trong nhà, không dùng điện thoại di động. Gần đây, một số nơi cho phép người Amish sử dụng điện thoại bàn, một số nhà sẽ dùng chung một chiếc và để chúng ở một nhà kho bên ngoài nhà.

Đối với người Amish, việc chụp ảnh cũng bị cấm vì họ cho rằng điều đó nuôi dưỡng cho sự phù phiếm cá nhân. Họ tin rằng công nghệ sẽ khiến cộng đồng của mình bị đồng hóa bởi xã hội bên ngoài. “Người Amish lo sợ rằng, công nghệ và truyền thông hiện đại sẽ đưa các giá trị ngoại lai vào văn hóa của họ”, một bài báo trên trang web của Trung tâm Nghiên cứu cho biết.

Tin tức thế giới là chuyện cần thiết, nhưng họ lo sợ những giá trị khác biệt của nước ngoài sẽ xâm nhập vô nền văn hóa bảo thủ của mình.

Một số luật lệ của dân Amish gần như mâu thuẫn, chẳng hạn bình điện 12 volt của xe hơi được cho phép dùng trong nhiều cộng đồng, trong khi điện 120 volt thì cấm.

Một điều khác, dân Amish không được phép lái xe có động cơ, nhưng cho phép mướn người ngoài, như dân Mỹ lái cho họ.

Amish ở nông trại. nguồn. absolutehistory

Học vấn

Trẻ con Amish thường chỉ học tới lớp 8, hầu hết là trường tư, khoảng 10% học trường công. Họ có quyền chấm dứt đi học lúc 14 tuổi, điều này đã được Tòa Án Tối Cao Mỹ xác định theo luật năm 1972 bằng tiếng Anh và Đức của Amish.

Cộng đồng đa dạng

Dân Amish không phải là một nhóm người, họ có 4 cộng đồng khác nhau, “Nhóm đời cũ”, “Nhóm đời mới”, “Amish cách tân”, “Amish Mennonites”, còn nhiều chi nhánh phụ và theo luật lệ khác nhau từ 4 cộng đồng chính này, thí dụ như Beach Amish và Amish Mennonites dùng điện và sử dụng xe hơi, trong khi các cộng đồng khác vẫn xài xe ngựa.

Các cô Amish. nguồn. newsela

Trang phục

Y phục đơn điệu, ít màu mè, thường là trắng đen, xám, xanh là truyền thống của dân Amish, vài cộng đồng tuân thủ theo màu trắng đen, những nhóm khác thì dùng các màu nhẹ, họ ít dùng nút, vì họ cho rằng chúng có nguy cơ làm lộ cơ thể và muốn sự tự nhiên, thay vào đó áo quần dân Amish được dùng khuy thắt, móc nhỏ và ghim, những áo quần đặc biệt như áo choàng, áo khoác ngoài được dùng cho lễ nghi tôn giáo.

Quy ước

Giai đoạn duy nhất mà người Amish có thể thả lỏng và không thực hiện theo “Quy tắc Ordnung” được gọi là “rumspringa”, diễn ra trong khoảng thời gian ở độ tuổi 16, trước khi người Amish được rửa tội và chính thức gia nhập vào cộng đồng. Từ “rumspringa” trong tiếng Đức của Pennsylvania có nghĩa là “chạy rông”, vì đây là lần cuối người Amish có cuộc sống tự do trước khi vào khuôn phép. Theo truyền thống Amish, khi tới 16 tuổi, thanh niên bắt đầu quen biết, có quan hệ vui chơi bạn bè trai gái vào những ngày cuối tuần.

Đây cũng là giai đoạn quan trọng để thanh niên Amish quyết định xem họ có muốn gia nhập lâu dài vào cộng đồng hay không. Trong khoảng từ 18 đến 21 tuổi, nếu đồng ý gia nhập, họ sẽ được rửa tội. Nếu không, họ có thể rời khỏi cộng đồng người Amish.