Happy Mother's Day- Trái tim của Mẹ

TRÁI TIM CỦA MẸ 

 Nguyễn Trần Diệu Hương

 

Từ nhiều năm nay, cứ mỗi lần đến ngày Mother’s Day là bà Audrey biến mất. Gia đình hay bạn bè tìm đủ mọi cách để liên lạc với Bà đều không có hiệu quả. Điện thoại nhà, điện thoại sở, cell phone đều chỉ có cái message lạnh lùng: "xin vui lòng để lại lời nhắn, tôi sẽ gọi lại ngay khi tôi có thể". Sau ngày Mother’s Day, ngày chủ nhật thứ hai của tháng 5, bà Audrey xuất hiện lại, vẫn bình thường như không có gì xảy ra.

 Ai đó có thắc mắc hỏi thăm, bà chỉ trả lời qua loa:

- Tôi bị stress hơi nhiều, nên đi retreat hai ngày cuối tuần để tâm trí được thoải mái hơn.

Chỉ có thế, không có gì hơn, nhưng người ta không thắc mắc nhiều vì bà Audrey vẫn đi làm, vẫn hoàn thành tốt đẹp nhiệm vụ của bà là một nhân viên lo về dịch vụ quảng cáo cho một tờ báo điạ phương ở Oregon State

Không một ai biết là đằng sau câu trả lời đó là cả một nỗi niềm vẫn cắn rứt bà từ năm mười bảy tuổi.

 

Hồi đó, cuối năm lớp mười một, được một nam sinh ở cùng xóm đang học lớp mười hai mời đi "senior prom" (dạ tiệc khiêu vũ của học sinh lớp mười hai). Cô nhỏ Audrey lúc đó vừa sung sướng, vừa hãnh diện, vì ít khi học sinh lớp mười một được đi dự dạ vũ của lớp mười hai. Cô về nhà gom góp hết tiền để dành của mình và lén cha mẹ nhịn ăn cả tuần để dành tiền thuê một cái áo dạ vũ màu hồng rất đẹp.

Audrey được cha mẹ cho đi dạ vũ với điều kiện phải về nhà trước chín giờ tối. Anh chàng học sinh lớp mười hai, «date» của Audrey ở cách đó một block đường, mặt mày cũng hiền lành, thường xuyên có mặt ở thư viện điạ phương học hành nghiêm chỉnh, không gây hoài nghi cho bất cứ một bậc cha mẹ nào vẫn luôn để mắt đến các cô con gái dậy thì, xinh tươi vẫn bị so sánh với "các thùng thuốc nổ chậm" trong nhà.

Vậy mà dưới ảnh hưởng cuả «peer pressure», bạn bè cùng trang lứa, hậu quả của việc tham dự "senior prom" năm đó để lại một mầm sống trong Audrey. Khi cha mẹ Audrey khám phá ra việc này, thì chỉ còn hai tháng nữa là Audrey đến ngày sinh nở, quá trễ để có thể có những lựa chọn khác. Hơn thế nữa, là một gia đình Catholic thuần thành, họ không muốn giết một hài nhi vô tội.

Ngày Audrey sinh con, cô chưa đến mười tám tuổi, nên mọi việc đều thuộc quyền quyết định của cha mẹ. Thế là mặc dù "mẹ tròn con vuông", em bé khoẻ mạnh, Audrey được cha mẹ chở về nhà một mình. Bé trai sơ sinh đã được cha mẹ nuôi đến nhận ngay từ lúc được cắt cuống rốn.

 Về nhà, Audrey học tiếp năm lớp mười hai, tốt nghiệp trung học, đi làm, rồi lập gia đình với một thanh niên làm cùng chỗ. Cuộc sống hạnh phúc kéo dài không lâu, Audrey ly dị và bước vào cuộc hôn nhân thứ hai, lần này chắc là rút kinh nghiệm của lần đổ vỡ trước, hôn nhân kéo dài được gần mười năm, rồi lại "đường ai nấy đi".

 Hai cuộc hôn nhân đến rồi đi không để lại một ràng buộc nào với những người trong cuộc vì Audrey không sinh nở lần thứ hai.

 

Lúc này đã đến tuổi nửa đời người, bà Audrey chững chạc hơn, khôn ngoan hơn, và nỗi ân hận cho con năm xưa ngày một lớn dẩn.

 Bà trở về thành phố tuổi thơ, xin vào làm ở một tờ báo địa phương, và đổi lại họ "Springfield" thời con gái cuả mình.

Là chuyên viên nhận đăng và lay out quảng cáo cho một tờ báo điạ phương, mỗi ngày bà Audrey thấy người ta đăng tất cả mọi thứ trên báo, và kết quả cũng cao, vì thỉnh thoảng bà vẫn nhận được những Email cảm ơn khi việc quảng cáo có kết qủa. Thế là bà Audrey quyết định đăng một quảng cáo cho chính mình, với ước mong tìm lại được cậu con trai chưa một lần được bồng bế năm xưa.

 Thế là từ đó, mỗi năm vào ngày 7 tháng 4, sinh nhật cuả cậu con, bà đăng một mẫu tin trên quảng cáo với nội dung không đổi:

"Chúc mừng sinh nhật ngày 7 tháng 4, sinh nhật cậu bé trai Springfield cuả mẹ. Mẹ luôn luôn thương yêu con.

Mẹ đẻ của con – Audrey Springfield".

Cái quảng cáo đó chỉ xuất hiện vào ngày 7 tháng 4 mỗi năm, và kéo dài gần 30 năm, xuất hiện trên báo, nằm khiêm nhường chìm lẫn trong cả chục mẫu quảng cáo đủ loại thượng vàng hạ cám khác.

Chỉ có tin đi mà không có tin về, nhưng bà Audrey không ngừng nuôi hy vọng một ngày nào đó, bà sẽ tìm lại cậu con trai sơ sinh thất lạc. Bà không ngừng cầu nguyện, tiếp tục đăng quảng cáo vào ngày 7 tháng 4 hàng năm trên cùng một tờ báo điạ phương. Hình như đó cũng là một cách làm giảm nỗi ân hận của bà, mặc dù đó không phải là quyết định của cô Audrey ngây thơ mười bảy tuổi, mà là quyết định của các đấng sinh thành.

 Và vào mỗi ngày chủ nhật thứ hai của tháng 5, ngày Mother’s Day ở Mỹ, bà lặng lẽ đi về một nơi nào đó xa xôi, tránh những hình ảnh trên báo chí, TV nói về ngày lễ của Mẹ. Hình như đó là ngày mà nỗi ân hận của bà dâng cao nhất, ngút ngàn chất ngất.

Nhiều năm như vậy, sau hai cuộc hôn nhân đổ vỡ, không có con với cả hai người chồng, mặc dù vẫn còn đẹp ở tuổi 60, bà Audrey không còn nghĩ đến chuyện lập gia đình lần thứ ba. Bà không cảm thấy cô đơn, chỉ thấy nỗi ân hận đã bỏ rơi cậu con trai sơ sinh năm xưa ngày càng lớn dần.

Cách đây hai năm, qua hồ sơ lưu trữ của một adoption agency ở địa phương, bà Audrey được biết cậu bé sơ sinh năm xưa được cha mẹ nuôi đặt tên là Dylan. Thế là câu quảng cáo hàng năm trên báo vào ngày sinh của cậu bé trở thành cụ thể hơn như sau:

"Chúc mừng sinh nhật ngày 7 tháng 4 Dylan của mẹ. Mẹ luôn luôn thương yêu con.

Mẹ đẻ của con – Audrey Springfield".

Sau nhiều thập niên bị gậm nhấm trong nỗi ân hận, nhưng không ngừng cầu nguyện và hy vọng, năm nay, bà Audrey só được món quà quý nhất trên đời với bà vào một tuần trước lễ Mother’s Day

 

Đó là một buổi trưa thứ bảy, yên tĩnh, an nhàn, không gấp rút, bận rộn như những ngày làm việc trong tuần, có một người đàn ông trung niên bấm chuông nhà bà. Từ cửa sổ nhìn ra, bà Audrey nghĩ đó là một nhân viên của UPS đến giao cho bà một cái áo khoác, món hàng mà bà mua qua internet tuần trước.

Bà mở cửa, người đàn ông trung niên trước mặt với trang báo quảng cáo của tờ Portland Tribune trên tay, giọng lịch sự có pha một chút e dè:

- Chào bà, thưa có phải bà là Audrey Springfield không ạ?

 Bà gật đầu: "Vâng, tôi là Audrey Springfield".

Giọng người đàn ông trung niên lạc hẳn đi vì xúc động:

- Thưa bà, tên tôi là Dylan, có thể bà là mẹ ruột của tôi.

Cả hai người quan sát nhau kỹ hơn và cùng nhanh chóng nhận ra những nét quen thuộc của mình trên khuôn mặt người đối diện. Bà Audrey nghẹn ngào không nói được tiếng nào, ôm choàng lấy Dylan, thật chặt, như sợ người con trai lại biến mất khỏi vòng tay của bà nhanh chóng như năm xưa, lúc bà mười bảy tuổi.

 Từ trên cái SUV đậu trước nhà, vợ cuả ông Dylan nhìn vào, và dù không được nghe hai người nói với nhau những gì, bà cũng nhận ra là ông Dylan đã tìm lại được người sinh ra mình sau 43 năm.

Có lẽ trời cũng động lòng trong giây phút trùng phùng của hai mẹ con, một màn mưa phùn chợt kéo đến phủ lên tóc của cả hai người những hạt nước trắng xóa li ti.

 


 

Tháng trước, nhân sinh nhật lần thứ 43, tự dưng ông Dylan tò mò lên search online xem thử có bao nhiêu người sinh cùng ngày 7 tháng 4, cùng nơi sinh với mình ở bệnh viện Oregon State Hospital ở Portland. Ông Dylan đánh vào hàng chữ: "Babies born in April 7th at Oregon State Hospital". Trong vài giây, có hơn 75 ngàn kết quả hiện ra, mà một trong ba kết quả đầu tiên ở trang đầu là dòng quảng cáo chúc mừng sinh nhật Dylan của bà Audrey.

 Dù được bố mẹ nuôi, ông bà Lawrence, cho biết mình là con nuôi từ lúc tròn 21 tuổi, đôi lúc ông Dylan rất muốn đi tìm cha mẹ ruột của mình, nhưng ông không muốn tự làm mình thất vọng, vì chưa chắc là người sinh ra ông còn quan tâm và nghĩ đến ông. Vả chăng, cha mẹ nuôi của ông, ông bà Lawrence không có con, nên thương yêu ông vô cùng.

 Lần này có tên của bà Audrey, ông tìm trên white book, quyển danh bạ điện thoại dày cộm của thành phố Portland, và tìm được cả số phone lẫn điạ chỉ cuả bà Audrey, chắc là mẹ ruột của ông, chỉ ở cách ông có 30 phút lái xe.

Thế là vào một ngày thứ bảy, hai vợ chồng ông Dylan Lawrence lái xe đến địa chỉ cuả bà Audrey với trang báo quảng cáo trên tay, với một kết quả rất cảm động, một "happy ending" sau gần ba mươi năm, bà Audrey kiên nhẫn đăng quảng cáo trên báo chúc mừng sinh nhật ngày 7 tháng 4 cuả cậu con trai thất lạc từ lúc mới chào đời.

 

Dù mới gặp nhau lần đầu, nhưng tình mẫu tử từ bà Audrey và sợi dây huyết thống vô hình đã làm cho hai mẹ con thấy rất gần nhau như họ chưa từng bị chia cách trong 43 năm qua.

 Hai đứa con trai của ông Dylan kể từ bây giờ sẽ có thêm một bà nội thứ hai, bà nội Springfield, ngoài bà nội Lawrence mà các em vẫn thấy từ thuở mới có trí khôn.

 Đêm đó, bà Audrey ngồi suốt đêm trên ghế sofa, không dám nằm ngủ, bà sợ chuyện mới xảy ra lúc sáng chỉ là một giấc mơ. Nếu bà đi ngủ, lúc thức dậy, giấc mơ sẽ không còn.

Đó có lẽ là món quà quý nhất mà Thượng đế đã ban tặng cho hai mẹ con bà Audrey một tuần trước lễ Mother’s Day. Một món quà vô giá không một khoản tiền nào có thể mua được.

Từ đó, mỗi lần đến ngày 7 tháng 4, thay vì đăng quảng cáo, và khóc thầm, bà Audrey sẽ mang một cái bánh sinh nhật đến cho con trai của mình với nụ cười rạng rỡ và với lòng biết ơn ông bà Lawrence đã nuôi dạy em bé sơ sinh Dylan năm xưa trở thành một người lớn đàng hoàng, có nghề nghiệp và tư cách. Và mỗi ngày Mother’s Day, một ngày chủ nhật của tháng 5, bà Audrey không phải lái xe đi xa, lặng lẽ âm thầm với những giọt lệ ăn năn của mình.

Trái tim của người Mẹ, từ một người mẹ non trẻ dại khờ, chưa đủ trí khôn, đến một người mẹ da mồi tóc bạc, đi gần hết cuộc đời lúc nào cũng chứa cả một đại dương tình thương cho các con của mình.

 

 Nguyễn Trần Diệu Hương

------------

Hồng Anh sưu tầm

 

 

Xem thêm...

Đồng Bạc Đông Dương

Đồng Bạc Đông Dương

Đồng Đông Dương (tiếng Pháp: piastre) đơn vị tiền tệ người Pháp cho phát hành và lưu thông tại Đông Dương thuộc Pháp trong thời gian từ năm 1885 đến năm 1954.

Tiền giấy 5 xu

Tiền Đông Dương được chia thành các đơn vị piastre, cent/centime và sapèque. Một piastre bằng 100 cent. Một cent lại bằng 2-6 sapèque tùy theo triều đại. Theo tỷ lệ đó thì một đồng bạc Đông Dương có giá trị từ 200 đền 600 đồng tiền cổ truyền của người Việt. Mặt trước của các tờ tiền giấy hoặc tiền kim loại ghi bằng tiếng Pháp. Mặt sau ghi bằng chữ Hán, chữ Quốc ngữ, chữ Lào và chữ Khmer, song cũng có lúc chỉ ghi chữ Pháp.

Hai mươi xu

Piastre phiên dịch sang chữ Hán thành 元 (nguyên); thông dụng gọi là đồng, hoặc đồng bạc hay thậm chí ngắn gọn là bạc (khi tiền Đông Dương còn theo chế độ bản vị bạc cho đến tháng 5, 1930), hoặc đồng vàng (khi tiền Đông Dương theo chế độ bản vị vàng từ tháng 5, 1930 về sau).

Cent tức sou khi phiên âm sang chữ quốc ngữ thành xu. Người Việt Nam còn có thói quen gọi các tiền mệnh giá hàng chục xu trở lên là cắc (gọi chệch từ âm giác của chữ Hán 角). Về sau, người Pháp viết chính thức bằng chữ quốc ngữ là hào và bằng chữ Hán là 毛 (mao). Sapèque tục gọi là đồng kẽm hay đồng điếu là đơn vị có giá trị nhỏ nhất.

Tờ 100 đồng

Theo nghị định ngày 21 Tháng Giêng, 1875 thì Ngân hàng Đông Dương cho lưu hành những tờ giấy bạc đầu tiên với ba mệnh giá: $5, $20, và $100. Loại này mặt trước ghi bằng hai thứ tiếng Pháp và Anh. Mặt sau ghi chữ Nho: Đông phương hối lý ngân hàng (東方滙理銀行).

Kỳ thứ nhì năm 1893-6 thêm tờ $1; kỳ thứ ba 1903-7 thì bỏ phần tiếng Anh nhưng ghi thêm xuất xứ: Cao Miên (高綿), Lục Tỉnh (六省) cho khu vực miền nam và Đông Kinh (東京), An Nam (安南) cho khu vực miền bắc vì lúc đó đã hình thành Liên bang Đông Dương. Tổng cộng có nhiều thay đổi ít nhiều về hình thức, màu sắc. Tờ $20 được người Việt gọi là tờ "hoảnh", đọc trại âm "vingt" của Pháp.

Tờ bạc 200 đồng đông dương có in hình vua Bảo Đại

Bắt đầu từ năm 1919 thì in thêm những tờ với mệnh giá: 10 cents, 20 cents, 50 cents.Sau cuộc Đại khủng hoảng kinh tế, đồng tiền mất giá nên đợt phát hành 1936-9 Nhà nước phải cho phát hành tờ $500.

Năm 1940 với biến động chính trị ở chính quốc, Đệ tam Cộng hòa Pháp sụp đổ, bị thay thế bới chính phủ Vichy chủ trương hợp tác với Nhật Bản thì bên Đông Dương cho phát một loạt tiền giấy mới. Loại tiền này in thêm dòng chữ Phủ Toàn quyền Đông Dương (Gouvernement General de l'Indochine) thay vì Banque de l'Indochine như những tờ giấy bạc trước kia.

Những tờ 10 cents, 20 cents, và 50 cents rồi tiếp theo là tờ 5 cents xuất hiện từ năm 1942 đến 1944. Tuy nhiên cũng trong khoảng thời gian đó thì những tờ giấy bạc mệnh giá $1 đến $500 vẫn giữ dòng chữ Banque de l'Indochine.

Sau Đệ nhị Thế chiến người Pháp tái chiếm Đông Dương. Tình hình xáo trộn nên mãi đến năm 1947 mới phát hành những mẫu tiền mới, trong đó xuất hiện tờ $50 lần đầu tiên.

Đồng bạc Đông Dương tờ $100 ghi chữ Nho:

Đông phương hối lý ngân hàng tức Ngân hàng Đông Dương

Năm 1952, Institut d'Emission des Etats du Cambodge, du Laos et du Vietnam (Viện Phát hành Quốc gia Việt, Miên, Lào) đảm nhận việc phát hành mẫu tiền giấy riêng cho mỗi nước nhưng có giá trị khắp ba nước. Chân dung Quốc trưởng Bảo Đại, quốc vương Sihanouk, và quốc vương Sisavang Vong xuất hiện trên tờ $1. Danh xưng piastre được dùng song hành với những tên bản xứ: riel cho Campuchia, kip của Lào, và đồng của Quốc gia Việt Nam.

Tại Campuchia, các tờ bạc có mệnh giá 1, 5, 10, 100, và 200 đồng/riel được phát hành. Tại Lào là các tờ bạc 1, 5, 10 và 100 đồng/kip. Còn ở Nam Việt Nam là các tờ bạc 1, 5, 10, 100 và 200 đồng/đồng Việt Nam. Loại tiền này đến năm 1955 thì bị thu hồi, nhường chỗ cho tiền tệ của bốn quốc gia độc lập trên bán đảo Đông Dương.

Tờ bạc 100 đồng Đông Dương, 1954

 

Ngọc Lan sưu tầm

 

 

Xem thêm...

Thuyền nhân VN ngậm ngùi với tin Galang thành nơi trị Covid-19

  Thuyền nhân VN ngậm ngùi

với tin Galang thành nơi trị Covid-19

*******

Công nhân Indonesia, hôm 20/3, tại công trình xây bệnh viện chuyên chữa trị người bị lây nhiễm COVID-19 tại trại tị nạn của thuyền nhân Việt Nam ngày xưa trên đảo Galang, Batam, quần đảo Riau.

Công nhân Indonesia, hôm 20/3, tại công trình xây bệnh viện chuyên chữa trị người bị lây nhiễm COVID-19 ở trại tị nạn của thuyền nhân Việt Nam ngày xưa trên đảo Galang, Batam, quần đảo Riau.

Với thuyền nhân Việt Nam từng ở trại tị nạn Galang, Indonesia, tin một trung tâm chăm sóc người bị lây nhiễm COVID-19 đang được xây tại khu tị nạn ngày xưa là sự kiện gây cảm xúc lẫn lộn.

Hôm 4/3, ngay sau khi xác nhận hai trường hợp nhiễm virus corona đầu tiên, chính phủ Indonesia đã lập kế hoạch chuyển trại tị nạn Galang, Batam, thuộc Quần đảo Riau, thành một bệnh viện cho bệnh nhân COVID-19, theo tin của Jakarta Post.

Ngày 9/3, giới chức Indonesia đến thăm địa điểm lần thứ hai và xác định đây là nơi thích hợp nhất để xây bệnh viện, và mọi việc bắt đầu được xúc tiến.

Tiếp xúc với BBC News Tiếng Việt qua điện thoại hôm 22/3, bà Carina Hoàng, thuyền nhân từng ở Galang một thời gian, và là người gắn bó với lịch sử người Việt tị nạn, cho biết khi nghe tin bà thoạt đầu cảm thấy khá ''buồn và lo''.

''Buồn là di tích lịch sử không ít thì nhiều cũng sẽ bị thay đổi. Lo là như vậy những cuộc viếng thăm tảo mộ của người Việt mình sau bao nhiêu năm vẫn đang xảy ra, không biết có còn được tiếp tục.'' Carina Hoàng giải thích.

''Du khách hiện đã bị cấm đến vùng này. Sau một thời gian nữa thì không biết sẽ ra sao?'' Người phụ nữ một thời từng tổ chức những chuyến giúp người Việt đi Indonesia tìm mộ người thân, bâng khuâng.

''Dù sao đây cũng là một tin tích cực, xóa bớt những u ám của nạn virus corona lây lan khắp nơi khiến bao nhiêu người chết, và dồn nhiều gia đình vào tình cảnh khó khăn.'' Bà nói.

Trại tỵ nạn Galang phải đóng cửa?

Ký ức của một thuyền nhân

Được hỏi cảm tưởng, nhà báo Đinh Quang Anh Thái, từng ở trại tị nạn Galang 6 tháng vào năm 1984, phát biểu:

''Galang từng dung chứa những phận người buộc phải trốn chế độ cộng sản, căn bệnh ung thư của nhân loại, nay nơi này lai đang tay cứu trị một dịch bệnh khác cũng phát sinh từ một xử sở bị cộng sản cai trị. Galang luôn là phần đất lành cho những người gặp nạn.''

Đường vào trại tị nạn Galang

 Đường vào trại tị nạn Galang
'Galang luôn là phần đất lành cho những người gặp nạn'
'Galang luôn là phần đất lành cho những người gặp nạn'    
Cổng chùa tại trại tị nạn Galang
 Cổng chùa tại trại tị nạn Galang

Tin trại trại tị nạn Galang đang được biến thành bệnh viện chuyên chăm sóc người bị lây nhiễm COVID-19 không được phổ biến rộng rãi, nhưng nhà báo tự do Bùi Văn Phú, từng có thời gian làm việc ở đây, là một trong những người theo dõi kỹ tin này.

Trao đổi với BBC News Tiếng Việt sáng 23/3, ông Bùi Văn Phú chia sẻ:

''Hồi đầu tháng tôi có nghe tin là chính phủ Indonesia dự định dùng Galang để cách ly và chữa trị những người bị nhiễm Covid-19. Nơi này trước đây là trại tị nạn đón tiếp người tị nạn Việt Nam từ 1979 đến 1996 và nơi này đã có hệ thống nước sạch, có điện.''

''Theo những người Việt, cựu thuyền nhân trở về thăm trại trong những năm qua thì nhiều toà nhà, nơi làm việc của những cơ quan giúp người tị nạn trong đó đến nay vẫn còn trong tình trạng có thể sử dụng được. Các nhà thờ, nhà chùa cũng còn được bảo trì.''

Cho biết không ngạc nhiên khi chính phủ Indonesia chọn Galang để xây bệnh viện, nhà báo Bùi Văn Phú giải thích:

''Khi nghe tin này tôi không ngạc nhiên vì biết Galang vẫn còn những hạ tầng cơ sở để đón tiếp và săn sóc cho người bệnh nếu họ phải cách ly ở đó, như từng đón tiếp thuyền nhân vượt biển trước đây, vì ở đó đã có hệ thống nước sạch, có nhà máy phát điện và một số toà nhà còn dùng được, chỉ cần tân trang lại. Đây là một đảo có hạ tầng cơ sở tốt, con đường tráng nhựa từ cầu tầu vào Galang 1 rồi Galang 2 vẫn còn tốt. Nhiều cựu thuyền nhân đã trở lại thăm Galang trong những năm qua.''

Trại tị nạn Galang, 1986

Trại tị nạn Galang, 1986 (ảnh Bùi Văn Phú)

Trại tị nạn Galang, 1986

Trại tị nạn Galang, 1986

Trại tị nạn Galang, 1986

 Quyết định nhanh, thi hành chóng

Kế hoạch chuyển trại tị nạn Galang, Batam, Quần đảo Riau, thành một bệnh viện cho bệnh nhân COVID-19 được đưa ra rất nhanh, ngay sau khi chỉ mới hai trường hợp nhiễm virus corona đầu tiên được xác nhận vào hôm 4/3.

Tư lệnh Không quân Hadi Tjahjanto của Quân đội Indonesia (TNI), người đứng đầu cuộc kiểm tra địa điểm, sau khi đến trại tị nạn Galang để thị sát, cho biết nơi đây được chọn làm nơi xây bệnh viện COVID-19 vì một số tòa nhà của địa điểm vẫn tồn tại sau khi được sử dụng làm trại tị nạn từ năm 1979 đến năm 1996.

Mới khởi công ngày 6/3, công trình xây trung tâm chữa trị người bị lây nhiễm COVID-19 tại trại tị nạn người Việt ngày xưa trên đảo Galang, Indonesia, đến 20/3 được cho là đã xong 40%

Bản quyền hình ảnh NurPhoto/Getty Images

Địa điểm này cũng có nước sạch và điện, trong khi hòn đảo chỉ nằm cách sân bay quốc tế Hang Nadim 50 km.

Dự tính ban đầu của chính quyền gặp phải phản ứng tiêu cực của dân quanh vùng, nhưng sau khi chính quyền gặp dân giải thích rõ tình trạng nguy kịch do virus corona gây ra trên khắp thế giới, mọi người đã bớt quan tâm.

Theo Jakarta Post, ông Tjahjanto giải thích rằng nhà thương này sẽ điều trị cho bệnh nhân bị nhiễm COVID-19 đồng thời hoạt động như một trung tâm kiểm dịch. Một trung tâm kiểm dịch virus corona trước đó đã được thành lập tại Natuna, quần đảo Riau.

Bệnh viện, dự kiến có thể chứa 1.000 bệnh nhân, cũng sẽ được trang bị với phòng cách ly, chiếm 2% tổng công suất của bệnh viện.

 Mới khởi công ngày 6/3, công trình xây trung tâm chữa trị người bị lây nhiễm COVID-19 tại trại tị nạn người Việt ngày xưa trên đảo Galang, Indonesia, đến 20/3 được cho là đã xong 40%

Bản quyền hình ảnh NurPhoto/Getty Images
  Mới khởi công ngày 6/3, công trình xây trung tâm chữa trị người bị lây nhiễm COVID-19 tại trại tị nạn người Việt ngày xưa trên đảo Galang, Indonesia, đến 20/3 được cho là đã xong 40%
Nhà thương cũ trong trại tị nạn Galang
Bản quyền hình ảnh Carina Hoang
Image caption Nhà thương cũ trong trại tị nạn Galang

''Chúng tôi sẽ chuẩn bị 50 phòng cách ly vì quy trình y tế của Tổ chức Y tế Thế giới quy định rằng 2% công suất của bệnh viện phải là phòng cách ly,'' ông Tjahjanto cho biết.

"Chúng tôi sẽ cung cấp các cơ sở điều trị, bao gồm các phòng có thông khí áp lực âm, sử dụng các bộ lọc tiêu chuẩn để giúp tăng tốc phục hồi. Chúng tôi hy vọng bệnh viện sẽ sớm được hoàn thành. Việc xây dựng có thể không mất nhiều thời gian. Nguồn nước đã có sẵn, mọi thứ đã được chuẩn bị theo đúng tiêu chuẩn.'' Jakarta Post trích lời ông Tjahjanto.

Bốn ngày sau khi công bố dự án, Jakarta Post đưa tin tổng thống Joko Widodo sẽ đến Galang để đích thân kiểm tra tiến độ xây dựng của nơi sẽ được đặt tên là Cơ sở Quan sát và Kiểm dịch Bệnh Truyền nhiễm.

Được biết chính phủ Indonesia sẽ cung cấp 340 giường trong giai đoạn xây dựng đầu tiên, dự kiến sẽ hoàn thành vào cuối tháng 3. Khi công trình hoàn tất, nơi đây sẽ được trang bị tổng cộng 1.000 giường.

Tính đến ngày 20/3, tiến độ xây dựng Bệnh viện đặc biệt Corona (COVID-19) như phác họa đã đạt tới 40% và nhắm mục tiêu sẵn sàng để sử dụng vào cuối tháng 3 năm 2020.

Công việc xây Cơ sở Quan sát và Kiểm dịch Bệnh Truyền nhiễm này của Indonesia được xúc tiến hết sức gấp rút.

Nhưng cho đến nay, virus corona dường như đang thắng cuộc đua này, vì tính đến hôm 23/3, Indonesia đã có tổng cộng 514 ca nhiễm trên 20 khu vực, với 48 tử vong. Tỷ số người chết khá cao (9.33%) so với tỷ lệ trung bình 3% của phần còn lại trên thế giới.

Đất lành chim đậu?

Hầu như những người BBC News Tiếng Việt có dịp tiếp xúc đều nghĩ về trại tị nạn Galang với nhiều thiện cảm, và cho đó là nơi mà họ hay đồng hương đã một thời gian dài được cưu mang.

Điều này dễ hiểu. Trại tị nạn Galang được sử dụng từ năm 1979 đến 1996, từng đón nhận và lo cho 250.000 [theo Jakarta Post - con số này có nơi cho là ít hơn] người tị nạn Việt Nam trốn khỏi quê hương sau hậu quả của Chiến tranh Việt Nam.

Nhà báo Đinh Quang Anh Thái đã nói đến truyền thống là ''mảnh đất dành cho những người gặp nạn'' của Galang, còn ông Bùi Văn Phú cũng có vẻ đồng ý với điểm này khi vạch ra:

''Trước khi Galang được dùng làm trại tị nạn cho thuyền nhân Việt Nam, thời Thế Chiến thứ Hai nơi này đã là trại giam tù binh. Vì thế dùng Galang để cách ly và chữa bệnh cho người nhiễm Covid-19 sẽ không mất nhiều thời gian cho chính quyền chuẩn bị.''

Bà Carina Hoàng, hiện là nữ diễn viên cho chương trình The Heights nổi tiếng của Úc, dùng cụm từ ''lịch sử đã lập lại'' để nói về việc một trung tâm chuyên chữa trị cho người bị nhiễm Covid-19 được xây tại trại tị nạn Galang cũ.

''Sự kiện này cho thấy, địa điểm Galang này, một lần nữa, lại là nơi nương náu cho những người gặp khó khăn nhất trong đời. Bốn mươi năm trước Galang đã đón nhận và bảo vệ 250,000 người tị nạn Việt Nam, thì bây giờ một lần nữa nơi này lại đón tiếp những người kém may mắn nhiễm phải bệnh dịch nguy hiểm giết người mà ai cũng phải xa lánh.'' Bà Carina Hoàng nói.

''Tuy nhiên tôi cũng nghĩ, bốn mươi năm trước, khi mọi việc xong rồi, đóng cửa trại rồi, thì di tích lịch sử để lại là 503 ngôi mộ của thuyền nhân. Bây giờ thì trong sau cơn dịch corona này, nhà thương sẽ đón nhiều bệnh nhân được đưa đến đây để săn sóc và chữa trị, và đương nhiên, chúng ta hy vọng là đa số sẽ khỏe mạnh. Nhưng ít thì nhiều, cũng sẽ có người phải nằm xuống, và những ngôi mộ của họ liệu sẽ có đóng góp thêm vào nghĩa địa ở đây không hay Galang sẽ phải có thêm một nghĩa địa khác?''

''Càng nghĩ tôi lại càng thấy Galang có lẽ là địa điểm lý tưởng để lập một trung tâm cách ly và nơi chữa trị cho căn bệnh dễ lây lan này.''

''Galang tuy hơi hẻo lánh, vì nó chỉ có cái trại tị nạn mở ra để phục vụ cho người tị nạn thôi chứ không có gì chung quanh đó hết. Nhưng nó cũng không phải là nơi hoàn toàn bị cô lập, vì nó nằm trong Batam, và Batam là một đảo lớn, có rất nhiều phương tiện di chuyển rất thuận lợi, một ngày có vài chuyến phà đi đi về về từ Singapore, có phi trường, có đường cho xe hơi chạy. Xuống phà rồi mình có thể đến Galang, chỉ cần đi taxi là cũng có thể tới.'' Carina Hoàng phân tích.

''Vậy thì, với lịch sử là nơi được dựng lên để cứu giúp người tị nạn Việt Nam, thì tại sao người Indonesia không nên biến nó thành nơi cứu trợ cho bệnh nhân của họ? Và mình là ai mà lại không vui vì sự kiện này, và chỉ quan tâm đến di tích lịch sử của mình có bị ảnh hưởng hay không?'' Bà kết luận.

Làm sao quên được

Vui, buồn, ngạc nhiên hay không ngạc nhiên trước tin này, quan tâm lớn nhất của thuyền nhân Việt Nam là không mất đi dấu tích lịch sử của một giai đoạn quan trọng trong đời họ.

Với Phan Minh Vũ, hiện đang sống ở Mỹ Tho, tin về công trình xây cất ở khu tị nạn Galang lập tức kéo anh về nơi đã trải qua một thời niên thiếu.

Vũ là một thuyền nhân không may mắn. Sau 6 năm sống tại Galang, anh không đủ điều kiện được đi nước thứ ba và phải trở về Việt Nam. Nhưng trong ba năm vừa qua, năm nào anh cũng ''về Galang,'' Vũ tâm sự với người viết.

Sự gắn bó của Vũ với trại tị nạn cũ được biểu hiện qua tên tài khoản Facebook của anh, rất đơn giản, nhưng bộc bạch hết tâm tư: ''Trại Tị Nạn Galang.''

''Lần cuối em ở Galang là tháng Tư năm 2019. Em về để xây lại mộ cho bà ngoại nuôi. Còn hai năm trước, em bay về đó để gặp bạn bè ở cùng trại ngày xưa từ Mỹ về thăm lại Galang.''

Năm nào hình như cũng có nhóm từ nước ngoài về thăm ''nơi chốn bao kỷ niệm,'' Vũ nói.

Phan Minh Vũ trong lần về thăm trại tị nạn Galang năm 2019

Bản quyền hình ảnh Phan Minh Vũ
Image caption Phan Minh Vũ trong lần về thăm trại tị nạn Galang năm 2019

Vũ vượt biên năm 1990, lúc 15 tuổi, và ''ở Galang 6 năm mấy, cho đến khi rớt thanh lọc, trại đóng cửa năm 1996, phải về lại Việt Nam.''

''Cả tuổi thơ ở đó, từ 15 đến gần 22. Đó là một kỷ niệm khó quên trong đời em. Em không làm sao quên được chị ơi.''

Được hỏi có người yêu ở đó không, Vũ trả lời: ''Hồi đó em nghèo chết bà luôn, ai đâu mà yêu!''

''Em cực lắm, làm đủ nghề. Làm bún, chạy bán quán cà phê, đi gánh nước đá và gánh cá thuê. Đi biển lưới cá để tìm thức ăn sống qua ngày. Cực mà vui. Bởi chị thấy nick Facebook của em là 'Trại Tị Nạn Galang' là vậy.'' Vũ tâm sự.

Phan Minh Vũ những ngày làm bún ở Galang kiếm sống

Bản quyền hình ảnh Phan Minh Vũ
Image caption Phan Minh Vũ những ngày làm bún ở Galang kiếm sống

Nghe phong phanh tin Galang trại tị nạn ngày xưa được xây nhà thương mới, Vũ lo cái nhà thương ngày xưa chữa trị cho biết bao người Việt bị đập đi mà lòng rưng rưng, thuyền nhân trẻ ngày xưa giờ đã 45 tuổi kể lại.

Tìm không thấy báo nào đưa tin ngoài tờ Jakarta Post, tiếng Anh không rành, tra Google đọc được chập chõm, không rõ nhà thương sẽ được xây ở khu nào, nhà thờ, ngôi chùa, rồi bảo tàng viện, di tích nào còn hay mất, Vũ chạy lên Facebook liên lạc với người bạn Indo ngày xưa, giờ là chủ một khách sạn ở Galang để hỏi. Anh kể lại.

Bà chủ khách sạn chỉ biết hiện giờ du lịch vào khu này đã bị cấm. Vũ lo hỏi người bạn Indo khác.

''Tìm nhau qua Facebook không chị ơi. Em tìm được bạn cũ là Waril Usman, hiện đang sống ngay gần đó. Waril cho tụi em thông tin rất chính xác.''

Theo Waril, thoạt đầu có tin sẽ xây lại Bệnh viện trong khu Galang 2, nhưng ngay hôm sau lại có tin bệnh viện Galang 2 được giữ lại, mà xây bệnh viện mới ở trường học Zone D, họ làm đường mới ngay tại khu đổ rác ngày xưa.

Vũ cho biết nghe tin từ Waril anh thở phào: ''Vậy là không ai đụng gì đến mấy di tích lịch sử của người tị nạn mình. Em hết lo rồi.''

Có lẽ không chỉ là nơi chứa nhiều kỷ niệm khó quên của người tị nạn Việt Nam, trại tị nạn Galang, từ sau khi đóng cửa năm 1996, đã dần dà trở thành một tài sản quốc gia của Indonesia.

Được cai quản bởi Liên Hiệp Quốc trong thời gian trại mở cửa, trại tị nạn Galang bây giờ do cơ quan Batam Industrial Development Authority quản trị, Đến năm 2000, cơ quan này đã biến trại tị nạn Galang thành một địa điểm du lịch.

Theo Jakarta Post, mỗi tháng khoảng 6.000 người đến thăm trại tị nạn cũ rộng 80 hecta này. Ngoài những du khách thuần túy muốn xem một địa điểm lịch sử, rất nhiều người đến đây là thuyền nhân đã từng sống ở Galang, hiện có cuộc sống thoải mái ở quốc gia thứ ba.

Carina Hoàng tại trại tị nạn Galang năm 2009 trong một chuyến đi tảo mộ

Bản quyền hình ảnh Carina Hoang
Image caption Carina Hoàng tại trại tị nạn Galang năm 2009 trong một chuyến đi tảo mộ
Nhà báo Đinh Quang Anh Thái trong lần về thăm trại tị nạn Galang năm 2007
Bản quyền hình ảnh ĐQAT
Image caption Nhà báo Đinh Quang Anh Thái trong lần về thăm trại tị nạn Galang năm 2007

Họ đến để thăm, tảo mộ người thân hay bạn bè, hay mang con em đến để chia sẻ và ôn lại lịch sử của một thời quan trọng trong cuộc đời, mà giống như Phan Minh Vũ, họ không thể nào quên được.

Facebook của một người bạn Indonesia của Phan Minh Vũ thông báo là vào ngày 28/3, tổng thống Indonesia Joko Widodo sẽ đến Galang làm lễ khánh thành Cơ sở Quan sát và Kiểm dịch Bệnh Truyền nhiễm Galang.

Sau biến cố này, chắc hẳn lịch sử của trại tị nạn Galang sẽ càng thêm phong phú.

 

Thanh Hương sưu tầm

 

 

 

Xem thêm...

Hoa phượng tím nở rực chân trời nước Úc

Lãng mạn sắc hoa phượng tím

nở rực chân trời nước Úc

 

city, Sydney, Sydney Opera House, Photography Wallpapers HD ...

Hoa phượng tím đẹp nao lòng mùa xuân nước Úc | VinaServicesGroup

Khi sắc thu đang bao trùm khắp Bắc bán cầu thì ở Nam bán cầu lại bắt đầu rực rỡ trong hương sắc mùa xuân đầy mê hoặc. Mùa đông lạnh giá của Úc rồi cũng qua đi mang theo một mùa xuân ấm áp, đây cũng là lúc những cánh hoa phượng tím (hay còn gọi là Jacarandas) ở xứ sở Chuột túi bắt đầu bung nở.

mua hoa phuong tim o australia

  Mùa xuân nước Úc được chào đón bằng mùa hoa phượng tím đẹp quyến rũ. Những cây phượng cao to, tỏa bóng bung nở từng chùm hoa lớn nhuộm kín hai bên đường, len lỏi từng góc phố, không gian chỉ duy màu tím yêu kiều hòa quyện cùng đất trời mùa xuân tươi mát, yên ả. 

KHÁM PHÁ MỘT SYDNEY TƯƠI ĐẸP VÀ THỜI TRANG

Thành phố Sydney được biết đến là thành phố lớn nhất và lâu đời nhất ở Úc. Bao quanh thành phố là cảng Jackson nổi tiếng nên Sydney có biệt danh là “Thành Phố Cảng”. Đến với Sydney bạn sẽ được chiêm ngưỡng kỳ quan thế giới Nhà Hát Con Sò, những bãi biển xinh đẹp và những cây cầu độc đáo.

Tuy không phải là thủ đô của nước Úc nhưng Sydney lại là một biểu tượng của sự văn minh, hiện đại và phồn hoa. Nơi đây có mức sống cao nhất Úc, có rất nhiều địa điểm du lịch tham quan tuyệt đẹp để trải nghiệm

Nhà hát Con Sò

Nhà hát Con Sò Đừng tin ai đó nếu họ nói đã đi du lịch Úc – Sydney mà không có một bức ảnh nào chụp Nhà hát Con Sò. Những cánh buồm đồ sộ mang tính biểu tượng đến mức vắng nó Sydney như mất cả tâm hồn. Ngoài khám phá kiến trúc và nội thất nhà hát, bạn nhớ dành thêm thời gian để dự một buổi hòa nhạc hoặc biểu diễn nào đó ở đây.

Tốt nhất là bạn nên đến vào dịp thành phố tổ chức Lễ hội Ánh sáng và Âm nhạc thường niên Vivid Sydney. Từ tháng Năm đến tháng Sáu, Nhà hát Con Sò và những công trình biểu tượng khác của Sydney như Cầu Cảng, Tháp truyền hình… trở thành những tác phẩm ánh sáng đồ sộ, hút mắt thật lộng lẫy.

Cầu cảng Sydney

Cầu cảng Sydney Cầu cảng Sydney là một trong những địa điểm nổi tiếng và được lên hình nhiều nhất của đất nước Úc. Đây là cây cầu vòm bằng thép lớn nhất thế giới với phần đỉnh cao 134m so với mặt nước. Cầu Sydney Harbour đã kết nối trung tâm thành phố Sydney với bờ biển Bắc của cảng, kể từ khi nó được đưa vào sử dụng từ năm 1932. Nó là cây cầu lớn nhất thế giới (nhưng không phải dài nhất) về thép vòm cầu.

Trải nghiệm leo cầu Bridge Climb là một dịch vụ rất được yêu thích do mang đến tầm nhìn bao quát toàn thành phố, do đó du khách phải đặt chỗ trước. Dịch vụ leo cầu sẵn có ở các ngôn ngữ khác nhau và leo cầu nhanh là một lựa chọn cho những người muốn tận dụng triệt để thời gian của họ ở thành phố. Dịch vụ BridgeClimb cổ điển kéo dài 3,5 giờ là lựa chọn thông dụng nhất. Du khách sẽ lên cao hơn 1.000 bậc để đi bộ dọc theo vòm bên ngoài của cây cầu ở phía Nhà hát Opera Sydney. Tận hưởng tầm nhìn 360 độ và tạo dáng chụp ảnh với nhóm bạn ở đỉnh cây cầu.

Nhà thờ Thánh Mary

 Nhà thờ Thánh Mary  Nhà thờ được xây dựng từ đá sa thạch địa phương và theo lối kiến trúc “gothic” - di sản kiến trúc của các nhà thờ từ thời trung cổ ở châu Âu. Được thành lập vào năm 1821, Nhà thờ St. Mary còn được gọi là Nhà thờ Đức Bà của giáo phận Công giáo Úc. Nhà thờ được xây dựng vào năm 1865 nhưng không may đã bị phá hủy bởi một vụ cháy. Dự án xây dựng lại nhà thờ bắt đầu vào năm 1865 và phải mất hơn 60 năm để hoàn thành vào năm 1928.

Nhà thờ St. Mary là công trình kiến trúc tôn giáo lớn nhất và lâu đời nhất của Úc ở góc đường College Street và đường Prince Albert, đối diện Công viên Sydney Hyde. Bất kì ai cũng có thể đến tham quan để chiêm ngưỡng được hết vẻ tráng lệ của nhà thờ. Chắn chắn một điều rằng ngay sau khi du khách bước vào, họ sẽ lập tức cảm nhận được ngay bầu không khí vô cùng trang nghiêm, tráng lệ của nhà thờ.

Triển lãm Sculpture By The Sea

Triển lãm Sculpture By The Sea Triển lãm điêu khắc ngoài trời hàng năm Sculpture By The Sea diễn ra tại bãi biển trứ danh Bondi, từ tháng Mười đến tháng Mười Một, tạo nên những cảnh đẹp hiếm thấy. Trong suốt thời gian triển lãm, Bondi không còn là bãi biển chỉ để trẻ em xây lâu đài cát mà trở thành một sân chơi khổng lồ cho các nhà điêu khắc khắp thế giới với những tác phẩm nghệ thuật đẳng cấp. Triển lãm này mở cửa miễn phí hoàn toàn.

Chợ cá Sydney

Chợ cá Sydney Chợ cá Sydney (SFM) nằm cách trung tâm thành phố 2 km về phía tây. Có lịch sử từ năm 1945, đây được mệnh danh là chợ cá lớn thứ ba thế giới. Chợ có cảng cá và sàn đấu giá hải sản của các mối bán buôn vào mỗi sáng hàng tuần.

Chợ mở cửa từ 7h đến 16h30 với nhiều quầy bán lẻ, lớp dạy nấu ăn và nhà hàng phục vụ các món hải sản cho dân địa phương và khách du lịch. Ước tính, mỗi ngày có 50-55 tấn hải sản các loại được tiêu thụ tại chỗ và xuất đi khắp nơi trên thế giới. Tại đây có hơn 100 loại hải sản được đánh bắt trực tiếp từ Australia, New Zealand hay từ khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Bước chân vào chợ cá trước hết bạn sẽ bị choáng ngợp bởi không khí tấp nập của khu nhà hàng và vô vàn hải sản tươi rói từ mọi vùng của nước Australia, nhập khẩu từ New Zealand hay Canada được bày bán. Du khách có thể đi xe hơi hay buýt công cộng đến chợ. Mức giá các món hàng từ 15 AUD trở lên và tùy theo ngày bán, có thể rẻ hơn một chút nếu đó là Today’s Special.

Thiên đường cho tín đồ mua sắm

Thiên đường cho tín đồ mua sắm Tọa lạc ngay giữa trung tâm du lịch, ẩm thực và mua sắm hàng đầu của Sydney là Khách sạn Swissôtel Sydney. Phòng nghỉ đẳng cấp 5 sao, dịch vụ thân thiện cùng vô số tiện nghi khác đã trở thành thương hiệu của chuỗi khách sạn này.

Nếu là một tín đồ mua sắm thì Swissôtel đích thị là nơi nghỉ của bạn. Ngay bên dưới khách sạn là khu mua sắm Myer, còn Pitt Street Mall, Queen Victoria Building và trung tâm Westfield Sydney mới mở nằm ngay bên kia đường. Trạm tàu điện Town Hall của CityRail cũng nằm cách đó vài phút đi bộ.

WOLLONGONG - THÀNH PHỐ CỦA BIỂN CẢ

WOLLONGONG - THÀNH PHỐ CỦA BIỂN CẢ Cách thành phố Sydney 80km về phía Nam là thành phố Wollongong– thành phố lớn thứ ba tại bang New South Wales, nổi tiếng với những bãi biển tuyệt đẹp. Cái tên Wollongong của thành phố xuất phát từ tiếng "woolyungah" trong ngôn ngữ cư dân bản địa Úc, có ý nghĩa là “Sound of the sea” – âm thanh của biển với đường bờ biển dài và đẹp, không khí trong lành và cả những con người thân thiện, mến khách.

Vịnh Jervis

Vịnh Jervis Được thiên nhiên ưu ái ban tặng khung cảnh tuyệt đẹp, Vịnh Jerivis là nơi lý tưởng dành cho những ai muốn tạm lánh khỏi cuộc sống xô bồ ồn ã thường ngày. Không chỉ mang trong mình nét đẹp hài hòa của vùng biển tinh khiết, vịnh Jervis còn khiến du khách cảm thấy thích thú với các khu bảo tồn thiên nhiên. Ghé thăm công viên quốc gia Jervis hay Booderee, du khách có cơ hội chiêm ngưỡng nhiều loài động vật hoang dã, khám phá những điều bí ẩn của giới tự nhiên, tiếp xúc gần hơn với nền văn hóa thổ dân vô cùng đặc sắc.

Ngoài ra, bạn cũng có thể đến với thị trấn Huskisson, cảm nhận hương vị cuộc sống yên bình nơi đây, thưởng thức các món ăn độc đáo, đặc trưng của vùng biển và rất nhiều món đồ thú vị đang chờ bạn “rinh” về làm quà.

Hố nước phun Kiama

Hố nước phun Kiama Hố phun nằm trong lòng dãy đá tổ ong bên bờ biển nam New South Wales, gần với ngọn hải đăng Kiama có lịch sử gần 2 thế kỉ. Sự hình thành nên hố phun nước này là hoàn toàn tự nhiên, không qua bất kì tác động từ con người nào, bất kế là khoảng thời gian nào trong ngày, việc chiêm ngưỡng khung cảnh thiên nhiên này luôn khiến người xem bị thu hút. Ngay cả khi tối muộn, nơi đây vẫn có nhiều du khách ghé thăm bởi ngọn hải đăng Kiama gần đó sẽ thắp sáng khu vực này đến tận 1:00 sáng, khiến những cột nước trở nên lung linh hơn so với ban ngày.

Vào những ngày lặng gió, hố phun Kiama không có đủ lực sóng nên thường không tạo được những cột nước đáng kể nhưng du khách hoàn toàn có thể sang bên hố phun "Little" nhỏ hơn gần đó. Tuy khung cảnh không thật sự kì vĩ bằng nhưng trải nghiệm không hề thua kém so với hố phun Kiama. Ngoài ra, khi những cơn gió từ phía đông nổi lên làm lệch hướng nhữn con sóng sẽ thổi tung những bọt nước đập vào bờ đá, đem lại cho du khách cảm giác vô cùng sảng khoái mát mẻ khi được bụi nước tạt vào người.

Bên cạnh việc chiêm ngưỡng những hố phun nước, du khách có thể tiếp tục ghé thăm Bảo tàng Pilots Cottage cách đó không xa. Sau đó đến với trung tâm thông tin du lịch, nơi du khách được tìm hiểu về lịch sử của vùng Kiama từ xưa cho tới nay. Hoặc đơn giản là tổ chức những buổi dã ngoại và ngồi nghỉ dưới bóng râm rừng thông Norfolk gần đó.

Công viên Symbio Wildlife

Công viên Symbio Wildlife Ghé thăm công viên, du khách có cơ hội chiêm ngưỡng tận mắt những loài động vật bản địa ở Úc hay như Quỷ Tasmanian, hổ Sumantra, báo cheetah-loài động vật chạy nhanh nhất thế giới, hay cả những giống loài ngoại lai độc đáo.

Ngoài ra, trong khuôn viên cũng thiết kế những khu vực chuyên biệt cho việc tổ chức dã ngoại. Một bữa ăn trưa trong công viên được bao quanh bởi một thế giới hoang dã chắc chắn sẽ là một trải nghiệm khó quên.
mua vé máy bay sài gòn đi úc
Hàng ngày, tại công viên diễn ra vô số các hoạt động tương tác giữa các loài động vật và du khách. Ví dụ như những buổi trình diễn của khỉ, của động vật bò sát, của hổ hay báo cheetah. Một dịch vụ được nhiều du khách yêu thích vì có thể lưu giữ lại kỉ niệm, chính là chụp ảnh cùng những con thú. Du khách được nhân viên hướng dẫn đứng cạnh hoặc thậm chí là ôm một số loài động vật tại đây để chụp ảnh cùng chúng. Giá dịch vụ này dao động từ 20 đến 50 đô Úc, phụ thuộc số lượng ảnh chụp.

NGÂY NGẤT SẮC HOA PHƯỢNG TÍM

NGÂY NGẤT SẮC HOA PHƯỢNG TÍM Không kiêu kỳ như hồng, không đài các như Golden Watte nhưng phượng tím lại khiến bao du khách mê mẩn bởi vẻ đẹp mong manh, mềm mại và lãng mạn ấy. Hoa Phượng tím hay còn gọi là Jacarandas. Chúng thường nở thành từng chùm, bông hoa có hình ống dài khoảng một đốt ngón tay. Cánh hoa mỏng và nhẹ tựa như hoa giấy. Mặc dù chỉ mới du nhập vào Úc chưa lâu nhưng chỉ cần nhìn thấy dòng người nườm nượp đổ về các thành phố lớn của Úc mỗi độ xuân sang cũng đủ thấy sức hấp dẫn của phượng tím Jancadaras đến nhường nào.
mua hoa phuong tim o australia

Từ tháng 9 – 12 là khoảng thời gian lý tưởng để du khách có thể chiêm ngưỡng những cành phượng tím rực rỡ trong nắng sớm. Trên mọi góc phố, con đường từ thành phố Sydney, Melboure đến những vùng xa xôi hơn như Brisbane, Grafon đều ngập tràn trong sắc tím dịu nhẹ. Thật tuyệt vời biết bao khi giữa khung cảnh đầy lạng mạn và thi ca ấy, ta được tản bộ dưới hàng phượng rực rỡ, ngắm nhìn những cánh hoa nhỏ xinh lung linh trong ánh bình minh hay hoàng hôn, thư thả ngắm nhìn và lắng nghe những âm thanh của cuộc sống. Là câu chuyện rủ rỉ của một cặp đôi đang bắt đầu hẹn hò; là tiếng cười rúc rích, giòn tan trong nắng sớm của lũ trẻ; tiếng chim hót lảnh lót ở đâu vọng lại và gió mùa xuân nhẹ nhàng lắc rắc những bông hoa chuông màu tím xuống mái tóc cỏ xanh…
 
tiền vé máy bay từ sài gòn đi úc
Mùa Phượng tím Jacarandas chắc chắn sẽ trôi qua rất nhanh và không chờ đợi bất cứ ai, để đừng lỡ hẹn bạn hãy nhanh chóng “xách ba lô lên đường và đi” để tận hưởng và chìm đắm trong nắng xuân dịu nhẹ, trong sắc tím mơ màng của những cành phượng vĩ ở xứ sở nước Úc.
 
Theo Nhu Nguyen
 
Hoàng Điệp sưu tầm
SAY ĐẮM LÒNG NGƯỜI - HOA PHƯỢNG TÍM JACARANDA - YouTube
Xem thêm...
Theo dõi RSS này