Cô gái gốc Việt & người phi công Anh từng cứu mình

 Cô gái gốc Việt và

người Phi Công người Anh từng cứu giúp mình

45 năm trước, Vu Lieberman chào đời trên con tàu chết máy và trôi giạt giữa biển.

Hai trực thăng của Không quân Anh đã lên đường giải cứu cô bé một ngày tuổi này.

7h18 phút, ngày 2/5/1975, thuyền trưởng Anton Martin Olsen của tàu Clara Maersk (Đan Mạch), nhận được tín hiệu cầu cứu từ một tàu buôn Việt Nam mang tên Trường Xuân đang trôi dạt trên biển Đông.
 
Trên tàu có khoảng 3.600 người từ Sài Gòn ra đi. Họ đang đói khát, còn động cơ tàu thì ngừng hoạt động. Ông Olsen lập tức ra lệnh cho con tàu chở hàng của mình chuyển hướng và đến giữa trưa, bắt đầu cuộc giải cứu.
 
 
Không quân hoàng gia Anh giải cứu cô bé sơ sinh.
 
Sau khi chuyển người từ Trường Xuân lên tàu mình, thuyền trưởng Olsen đưa tàu Clara Maersk cập cảng Hong Kong. Hai ngày sau, ông thông báo một công điện khẩn cấp yêu cầu đón 4 người tị nạn: một đứa trẻ sơ sinh ốm yếu, anh trai 2 tuổi,  người mẹ và một phụ nữ bị vỡ ruột thừa. Không quân Hoàng gia Anh đã cử hai chiếc trực thăng đến giải cứu.
 
Cô bé - với đôi vai cong hình chữ U và xương cổ bị gãy, mắt bịt kín do bị nhiễm trùng - và ba người đồng hương của cô đã bay đến Bệnh viện quân đội ở Hong Kong. "Chúng tôi được cảnh báo nhưng tại thời điểm đó chúng tôi không biết có bao nhiêu người trên tàu", ông Jones, 68 tuổi, nói từ Anh.
 
 
Ngày ấy Jones là một trung sĩ trong phi đội 28 của Không quân Hoàng gia Anh, đóng tại sân bay quốc tế Kai Tak Hong Kong. Đến giờ Jones vẫn còn ký ức rõ ràng về sự nguy hiểm, khó khăn trong nhiệm vụ không vận bốn người này. "Không có đủ thời gian để đánh giá về những gì xung quanh", Jones nói.
 
Trong khi trực thăng của anh thả dây đón người phụ nữ Việt bị vỡ ruột thừa thì đồng nghiệp của anh, Tim Bailey, trên chiếc trực thăng thứ hai đón bé sơ sinh và hai người thân của bé từ boong tàu Clara Maersk.
 
Họ không có thiết bị mang theo cho bé sơ sinh, điều này có nghĩa Bailey phải bế cô bé trên tay. "Đó chắc chắn là một phút khiến bạn nín thở", Jones nói.
 
Trong cuốn nhật ký của Jones đã ghi lại chuyến khứ hồi 2h50 phút từ căn cứ Kai Tak đến tàu Clara Maersk và trở lại. "Thông thường chúng tôi không đi ra biển như vậy", ông nói. Chiếc trực thăng có lượng nhiên liệu hoạt động trong khoảng hai tiếng rưỡi.
 
Ngay sau khi trở về Hong Kong, hai chiếc trực thăng này được làm sạch và chuẩn bị tham gia hộ tống Nữ hoàng Elizabeth cuối ngày hôm đó. "Phi đội 28 của chúng tôi sau đó được biết đến với tên "28 nick of time" vì chúng tôi luôn luôn đi về đúng thời gian", Jones nói.
 
Mới đây, Duc Nguyen, nhà sản xuất phim tài liệu người Mỹ gốc Việt ở California đã tổ chức một triển lãm về những thuyền nhân tị nạn. Người lính không quân Jones đã liên lạc với Duc Nguyen, qua đó nhờ kết nối với đứa trẻ sơ sinh ốm yếu mà ông đã hỗ trợ giải cứu.
 
Ngày 2/5 vừa qua, ngày sinh nhật thứ 45 của Chieu Anh Vu Lieberman, cô và Jones lần đầu tiên nói chuyện qua Zoom. "Tôi đã nhìn thấy bạn 45 năm trước. Bạn đã không nhìn thấy tôi, nhưng đây là những bức ảnh bạn được chuyển đến bệnh viện", Jones nói với Vu-Lieberman.
 
Họ đã chia sẻ những hình ảnh, thông tin - những thứ được cho là mảnh ghép còn thiếu để hoàn chỉnh "bức tranh cuộc đời" mình. "Đây là món quà sinh nhật tuyệt vời nhất. Tôi có một cảm giác ớn lạnh chạy qua trong người", Vu-Lieberman nói.
Ngày ấy Jones là một trung sĩ trong phi đội 28 của Không quân Hoàng gia Anh, đóng tại sân bay quốc tế Kai Tak Hong Kong. Đến giờ Jones vẫn còn ký ức rõ ràng về sự nguy hiểm, khó khăn trong nhiệm vụ không vận bốn người này. "Không có đủ thời gian để đánh giá về những gì xung quanh", Jones nói.
 
Trong khi trực thăng của anh thả dây đón người phụ nữ Việt bị vỡ ruột thừa thì đồng nghiệp của anh, Tim Bailey, trên chiếc trực thăng thứ hai đón bé sơ sinh và hai người thân của bé từ boong tàu Clara Maersk.
 
Họ không có thiết bị mang theo cho bé sơ sinh, điều này có nghĩa Bailey phải bế cô bé trên tay. "Đó chắc chắn là một phút khiến bạn nín thở", Jones nói.
 
Trong cuốn nhật ký của Jones đã ghi lại chuyến khứ hồi 2h50 phút từ căn cứ Kai Tak đến tàu Clara Maersk và trở lại. "Thông thường chúng tôi không đi ra biển như vậy", ông nói. Chiếc trực thăng có lượng nhiên liệu hoạt động trong khoảng hai tiếng rưỡi.
 
Ngay sau khi trở về Hong Kong, hai chiếc trực thăng này được làm sạch và chuẩn bị tham gia hộ tống Nữ hoàng Elizabeth cuối ngày hôm đó. "Phi đội 28 của chúng tôi sau đó được biết đến với tên "28 nick of time" vì chúng tôi luôn luôn đi về đúng thời gian", Jones nói.
 
Mới đây, Duc Nguyen, nhà sản xuất phim tài liệu người Mỹ gốc Việt ở California đã tổ chức một triển lãm về những thuyền nhân tị nạn. Người lính không quân Jones đã liên lạc với Duc Nguyen, qua đó nhờ kết nối với đứa trẻ sơ sinh ốm yếu mà ông đã hỗ trợ giải cứu.
 
Ngày 2/5 vừa qua, ngày sinh nhật thứ 45 của Chieu Anh Vu Lieberman, cô và Jones lần đầu tiên nói chuyện qua Zoom. "Tôi đã nhìn thấy bạn 45 năm trước. Bạn đã không nhìn thấy tôi, nhưng đây là những bức ảnh bạn được chuyển đến bệnh viện", Jones nói với Vu-Lieberman.
 
Họ đã chia sẻ những hình ảnh, thông tin - những thứ được cho là mảnh ghép còn thiếu để hoàn chỉnh "bức tranh cuộc đời" mình. "Đây là món quà sinh nhật tuyệt vời nhất. Tôi có một cảm giác ớn lạnh chạy qua trong người", Vu-Lieberman nói.
 
 
Vu-Lieberman sanh ra 2h sáng ngày 2/5 giữa biển Đông trên con tàu tị nạn,
giờ là một nhà thiết kế thời trang nổi tiếng.
 
Hiện là một nhà thiết kế và điều hành thời trang thành công, Vu-Lieberman sống ở quận Cam, California. Cô kể, mẹ đã không chia sẻ nhiều về ký ức đó. Khi rời khỏi Việt Nam bà đang trong những ngày cuối cùng của thai kỳ. Khoảng 2h sáng ngày 2/5, bà đã hạ sinh Vu-Lieberman ngay trên tàu. Không sữa, không nước, không cơm cháo, một người dúi vào tay sản phụ miếng cam thảo. Bà nhai ra rồi lấy nước miếng bôi vào miệng con gái.
 
 
Cô bé ấy về sau đã nỗ lực giành được học bổng để theo ngành sáng tạo thời trang tại đại học hàng đầu New York. Đến giờ cô có một sự nghiệp rực rỡ với các hãng thời trang nổi tiếng tại Paris, New York và San Francisco. Cô cũng viết blog Truong Xuan baby để mãi nhớ mình là một đứa trẻ sanh ra trên con tàu tị nạn.
 
 
Đối với người lính không quân Jones, được tham gia nhiệm vụ giải cứu người tị nạn đến nơi an toàn là một trong những khoảnh khắc quan trọng nhất đời ông. Giờ đây ở tuổi 68 nhìn lại ngày hôm đó, ông nói: "Tuyệt! vào ngày đó, tôi đã tạo ra thay đổi cho cuộc đời một con người".
 
 
 
 =Hồng Anh sưu tầm =

 

Xem thêm...

Hồng Phúc của gia đình cụ bà 96 tuổi cùng 7 người con.

Hồng Phúc của gia đình cụ bà

96 tuổi cùng 7 người con.

*****

Bà tuy không có con trai, nhưng các con gái đều hiếu thuận, yêu thương chăm sóc. Vui với cuộc sống đủ đầy về vật chất, giờ đây ngoại tôi còn được cùng các con sống hạnh phúc an yên trong ánh sáng của Phật Pháp.

Trong một chuyến về quê hương Kinh Bắc, chúng tôi có dịp hội ngộ với gia đình cụ Nguyễn Thị Dĩnh. Cuộc trò chuyện với chị Thơ- cháu ngoại cụ Dĩnh đã giúp chúng tôi hiểu hơn về những đạo lý tốt đẹp trong đời sống văn hóa gia đình.

Bà ngoại tôi goá chồng khi đã có 3 người con hai gái một trai, cuộc đời bà càng buồn hơn khi con trai nhỏ cũng bỏ bà mà đi. Ông ngoại tôi khi đó cũng đã có 2 con gái và 1 con trai, năm 7 tuổi con trai của ông cũng qua đời. Vì ông là trưởng họ, nên mọi người đều mong ông có con trai để nối dõi tông đường. Thấu hiểu trách nhiệm của người dâu trưởng, vợ cả của ông tôi đã chủ động tìm và hỏi cưới bà ngoại tôi cho ông.

Người tính không bằng trời tính, thời gian trôi qua, bà ngoại tôi lại sinh thêm cho ông 5 người con gái nữa.

Năm người con gái của cụ Dĩnh trong cuộc hôn nhân thứ hai (Ảnh chụp năm chị em trong ngày cưới của con dì út).

Thời ấy, việc có con trai nối dõi tông đường là một áp lực không nhỏ đối với ông bà. Bởi với quan niệm xưa, dù có bao nhiêu con gái thì vẫn chỉ là “con người ta”, lấy chồng rồi sẽ không còn cơ hội báo hiếu cho cha mẹ. Mặc dù vậy, ông ngoại tôi vốn là một nhà Nho, rất chú trọng gia phong, nề nếp, nên ông vẫn yêu thương và dạy dỗ các cô con gái nên người.

Năm 1985 ông ngoại qua đời, bà sống một mình tại nếp nhà cổ, thỉnh thoảng bà đến giúp dì út chăm cháu ngoại ở Thị xã Từ Sơn. Hiện tại dì thứ năm đang ở cùng bà trong nhà từ đường.

Bà ngoại tôi năm nay đã 96 tuổi, con gái cả của bà cũng đã 78 tuổi, dì út đã 50. Ngoại trừ bác gái thứ hai – hiện sinh sống tại Yên Thế, Bắc Giang – còn lại 6 người con gái của bà đều lấy chồng ở đất Từ Sơn. Tôi là con gái của mẹ Uyển – con gái thứ ba của bà ngoại. Tôi lấy chồng là người cùng thôn nên mọi sự vui buồn trong gia đình bà ngoại tôi đều có mặt.

Chị Thơ và bà ngoại của mình trong nhà từ đường.

Dân làng khắp nơi đều khen bà ngoại tôi tốt phúc. Sáu người con gái của bà đều lấy chồng gần, cuộc sống ổn định, luôn hiếu thuận và chăm sóc phụng dưỡng mẹ già. Cuộc sống của gia đình bà là niềm mơ ước của nhiều gia đình trong thôn. Tuy nhiên với thân phận dâu trưởng, bà tôi vẫn canh cánh một nỗi buồn vì không sinh được con trai.

Một số hình ảnh trong nhà từ đường của gia đình cụ Dĩnh.

Mặc dù đã cùng ông nuôi dạy các con trưởng thành, nhưng bà không thể định đoạt được số phận của các con. Mỗi người một cảnh ngộ, người thì vất vả lo toan cho cuộc sống, người đau đớn bởi bệnh tật, người tủi phận vì hôn nhân không may mắn… không một ai có được hạnh phúc trọn vẹn.

Năm 2014, gia đình bà ngoại tôi trải qua nhiều biến cố. Mẹ tôi bị sốt vi rút não dẫn đến mất trí nhớ tạm thời, một năm sau bố tôi phát bệnh ung thư rồi qua đời. Sau cú sốc đó, mẹ tôi suy sụp và mắc chứng trầm cảm. Chồng của dì thứ sáu cũng mất, bác gái cả lại phát bệnh hiểm nghèo. Sau nhiều năm làm ăn kinh tế ở miền Nam, sức khoẻ dì thứ tư cũng giảm sút, dì quyết định trở về quê để thuận lợi cho việc chăm sóc mẹ đẻ và mẹ chồng. Dì út tuy có điều kiện nhưng do mải mê kinh doanh, áp lực từ nhiều phía nên cơ thể dì suy nhược, mắc nhiều bệnh tật.

Con gái cả của cụ Dĩnh (bên trái) hỏi thăm mẹ.

Dì Uyên (dì thứ tư-trái) và mẹ Uyển (con gái thứ 3 của cụ Dĩnh, mẹ của chị Thơ).

Dì Ước (dì thứ 5- trái) và dì Được (dì thứ 6).

Dì Thành (con gái út của cụ Dĩnh).

Bà ngoại tôi sức khỏe ngày một yếu vì bệnh viêm phổi mãn tính. Chụp X- quang, bác sĩ mô tả lá phổi của bà mục ruỗng như lá bàng bị sâu ăn. Bà thường xuyên phải tiêm và uống thuốc. Những tưởng cuộc đời của bà và các con cứ thế buồn bã trôi đi.

Dì Ước (con gái thứ năm của bà) vì không thể chịu đựng được người chồng bội bạc nên sau khi “lỡ hai lần đò” đã về ở hẳn với bà. Cuộc sống khổ đau khiến Dì thường than thân trách phận, rằng ông Trời quá bất công với mình. Tâm thân mệt mỏi, dì bị đủ các bệnh giày vò. Có những lúc, dì đã nghĩ đến cái chết. Thương các con nhưng ngoại tôi cũng đành lực bất tòng tâm.

Năm 2016, một cháu gái từ miền nam ra chơi và tặng cho dì Ước cuốn sách Chuyển Pháp Luân (cuốn sách chính chỉ đạo tu luyện Pháp Luân Công) và nói: “Dì ơi! Dì đọc cuốn sách này đi rồi dì sẽ hiểu được nhiều điều trong cuộc sống và dì sẽ không oán hận ai nữa”. Dì Ước đã rất nghiêm túc thực hành đọc sách và luyện 5 bài công pháp của Pháp Luân Công, tu sửa tâm tính mình theo nguyên lý Chân Thiện Nhẫn.

Mấy tháng sau, dì khăn gói bay vào miền Nam để tham gia khóa nghe 9 bài giảng của Pháp Luân Công (lúc đó gia đình không biết ở Bắc Ninh cũng có những khóa nghe 9 bài giảng như thế). Trở về nhà một thời gian, dì Ước đã khiến gia đình chúng tôi ngạc nhiên khi chứng kiến những thay đổi tích cực về thể chất và tinh thần. Từ người phụ nữ già nua, khắc khổ luôn cau có, niềm vui đã trở lại với dì trên khuôn mặt luôn rạng rỡ. Dì không còn than thân trách phận, không còn oán hận và sức khỏe của dì được cải thiện rõ rệt, các bệnh tật đã dần tiêu tan.

Dì Ước (bên trái) và bác gái cả của chị Thơ đã được cải thiện sức khoẻ và tinh thần nhờ tu luyện Pháp Luân Công. Bác gái cả sức khỏe ổn định, không còn phụ thuộc vào xe lăn nữa.

Bác gái cả đã 78 tuổi mắc bệnh sỏi bùn giai đoạn cuối. Bác di chuyển rất khó khăn và đã phải dùng đến xe lăn. Bác sĩ bảo nếu bác có phẫu thuật thì dù tốn tiền, nhưng nguy cơ có thể chết trên bàn mổ, hoặc bị liệt toàn thân. Dì Ước nói với bác: “Vừa mất tiền, mà nếu có chết ngay thì còn đỡ chứ nằm liệt giường thì khổ chồng khổ con. Hay chị thử tu luyện Pháp Luân Công xem sao”.

Sau những đắn đo, bác đồng ý nhờ dì Ước hướng dẫn cho bác tu luyện. Đến nay đã hơn 2 năm, bác đã có thể di chuyển mà không cần đẩy xe lăn, sức khỏe đã ổn định, và niềm vui đã trở lại.

Các chị em gái trong một buổi đọc sách tại nhà cụ Dĩnh.

Qua những trải nghiệm thực tế của dì Ước và bác cả, các chị em của mẹ tôi cũng lần lượt bước vào tu luyện và hưởng những lợi ích to lớn cả tâm lẫn thân từ Đại Pháp.

Mẹ tôi đã thoát khỏi chứng trầm cảm. Từ ngày bố tôi mất, giờ đây mới lại thấy nụ cười xuất hiện trên gương mặt hằn sâu những nếp nhăn của mẹ. Các con đi lấy chồng, mẹ tôi ở một mình nhưng mỗi ngày mẹ đều tận hưởng niềm hạnh phúc trong tu luyện. Mặc dù về hưu nhiều năm nhưng các phụ huynh vẫn tín nhiệm gửi con cho mẹ tôi bồi dưỡng nâng cao học sinh giỏi toán để đi thi các cấp.

Ảnh trái: Nụ cười hạnh phúc của mẹ chị Thơ trong một buổi dạy học trò tại nhà. Ảnh phải: Dì Thành (dì út) chủ một doanh nghiệp có tiếng ở Từ Sơn cũng bước vào tu luyện.

Dì thứ tư (dì Uyên), sau bao năm xa quê lo làm ăn kinh tế dẫn đến sức khỏe suy kiệt, thì sau 9 tháng tu luyện nghiêm túc, dì cũng đã nhận được những lợi ích rõ rệt. Từ khi chồng mất, tính khí dì thứ 6 (dì Được) sinh ra hay cáu gắt, trầm cảm nhờ tu tâm theo Chân Thiện Nhẫn, sức khoẻ và tâm tính của dì được cải biến, hoàn cảnh gia đình cũng tốt lên.

Dì út là một doanh nhân thành đạt ở đất Từ Sơn cũng đã bước vào tu luyện, hiện dì luôn dùng Chân Thiện Nhẫn làm phương thức kinh doanh của mình. Hạnh phúc nhất là khi cả gia đình của dì đều tu luyện và thực hành tu sửa bản thân.

Thấy được lợi ích mà những người trong gia đình có được từ khi thực hành Chân Thiện Nhẫn, con gái thứ hai của bà ở tận Bắc Giang cũng quyết định đọc sách Chuyển Pháp Luân, và luyện 5 bài công Pháp của pháp môn.

Đã 96 tuổi nhưng cụ Dĩnh đọc sách không cần đeo kính.

Bà ngoại tôi từ ngạc nhiên khi thấy, mỗi buổi sáng con gái dậy rất sớm tập luyện môn gì đó rất nhẹ nhàng khoan thai rồi bà cũng ra sân tập theo. Được các con chia sẻ, hướng dẫn, bà ngoại tôi giờ cũng đọc sách (tuy không được nhiều) và luyện công. Sức khỏe của bà ngày một tốt hơn lên và cười nhiều hơn mỗi ngày. Vui vì các con giờ đã không còn than phiền kể khổ, bà luôn nói với xóm giềng: “Tôi thật có đại phúc, 96 tuổi vẫn được con gái và chàng rể xây cho cái nhà thờ to. Con cái vừa có tiền, vừa có tâm…”.

Vậy là bà ngoại tôi và cả 7 người con gái đều thực hành theo Pháp Luân Công. Đại gia đình chúng tôi hiện nay có 29 người đã bước vào tu luyện. Mọi người đều thực hành theo Chân Thiện Nhẫn làm người tốt, ai cũng nhìn lại bản thân để tìm lỗi sai ở chính mình và tu sửa nên cuộc sống của chúng tôi luôn đầm ấm thuận hoà.

Gia đình cụ Dĩnh cùng nhau đọc sách và luyện các bài công pháp của Pháp Luân Công.

Năm 2019, vợ chồng dì út đã xây cho bà ngoại một nhà thờ lớn. Công trình hoàn thiện trong cùng năm đã trở thành nơi tề tựu của con cháu về thờ cúng ông bà tiên tổ, là nơi gìn giữ truyền thống của gia đình.

Bà tuy không có con trai, nhưng có các con gái hiếu thuận, yêu thương chăm sóc. Vui với cuộc sống đủ đầy về vật chất, giờ đây ngoại tôi còn được cùng các con sống trong niềm hạnh phúc an yên của ánh sáng Phật Pháp.

Có lẽ đây là món quà lớn nhất mà con cháu chúng tôi dành cho bà ngoại. Tôi đã đọc được ở đâu đó một câu rất hay: Cho ai không bằng cho Pháp, báo hiếu cho cha mẹ chỉ có cách đi tu.

Tôi hiện cũng đang tu luyện Pháp Luân Công, một môn tu luyện giữa đời thường, không phải vào chùa, lên núi… Tôi tu sửa bản thân mỗi ngày theo Chân Thiện Nhẫn để trở thành một người tốt và tốt hơn nữa, tôi nghĩ đó là cách tôi báo hiếu tốt nhất cho cha mẹ mình.

Từ trái qua phải, trên xuống dưới: Gia đình dì út đang luyện Pháp Luân Công, cháu bé mới hơn 2 tuổi cũng tham gia cùng gia đình; Gia đình dì út trong một buổi đọc sách chung, ngoài cùng bên phải là chồng dì út; Chị Thơ đang luyện bài công pháp thứ năm của Pháp Luân Công; Mẹ chị thơ đang đọc sách Chuyển Pháp Luân; Cháu gái út cụ Dĩnh (bên trái) trong buổi luyện công cùng gia đình.

(Ghi theo lời kể của chị Nguyễn Thị Thơ- cháu ngoại cụ Nguyễn Thị Dĩnh hiện đang sinh sống ở Trịnh Xá, Từ Sơn, Bắc Ninh).

 

Hồng Vân sưu tầm

 

 

Xem thêm...

Món quà ngày hiền mẫu cho tôi

HAPPY MOTHER'S DAY - May 10, 2020

Món quà ngày hiền mẫu cho tôi

Thái Kim Lan

Tính ra ngày nào cũng là ngày của mẹ và là ngày của con với mẹ, xoắn xuýt vào nhau như không rời, tự nhiên như hơi thở, và yêu thương cứ ăm ắp “quen hơi ngọt ngào“, không ai nghĩ đến dành riêng ra một ngày cho ai đặc biệt.

Tôi tạm gọi ngày ấy là "cho", vì không muốn nó là “của“, sở hữu của ai. Bởi vì hình như một khi làm mẹ, người mẹ ít khi đòi sở hữu một thứ gì, ngoài đứa con của mình với tình thương chứa chan, một sở hữu tự nhiên trời sinh ra như thế

Nói cho cùng, thoạt tiên “Muttertag“ hay “Mother´s Day“ đối với tôi lạ lắm, đến bây giờ thú thật vẫn còn chưa hết “lạ“. Ðối với mẹ của mẹ và mẹ của tôi, ngày ấy chưa có tên gọi như thế, mẹ chưa bao giờ phân biệt ngày của mẹ, ngày của cha, ngày của tình nhân...

Và nếu có một ngày, tự dưng ai cắc cớ không cho mẹ làm bánh nậm cho cả nhà ăn hay không cho mẹ thổi cơm nấu cá một ngày, mẹ sẽ tròn mắt hờn lẫy hay dỗi cơm, vì nghĩ rằng mẹ bị "chê“ luôn trong cái “ngày làm mẹ hiền“ ấy

Muttertag, Mother´s Day quả thật là ngày bên “TÂY“, nên MẸ TA chẳng màng đến, và bỡ ngỡ vô cùng khi nghe có cái ngày tên là “ngày hiền mẫu“, tuồng như chỉ có một ngày ấy con dành cho mẹ, kỳ dư toàn là những ngày tháng phôi pha, không mẹ không con.

Tôi đã có cái bỡ ngỡ ấy của người làm "CON TA“ vào một sáng tháng năm khi tình cờ được tham dự vào ngày “Muttertag“ của người bạn Ðức, hồi mới chân ướt chân ráo rời xứ TA. Buổi sáng thức dậy, thấy cả nhà lặng yên như tờ, không thấy bà mẹ người bạn thường khi đã dậy từ sáng sớm, lục đục trong bếp dọn điểm tâm cho cả nhà.

Tôi rón rén đi xuống lầu xem động tĩnh, thấy trong bếp có người đang lui cui lăng xăng, đến gần mới biết người bạn đang âm thầm bày trên một cái khay tách cà fê, dĩa điểm tâm với bánh mì, nước trái cây, trứng la cót, dĩa trái cây, khăn lau miệng, một bình hoa nhỏ cắm đóa hoa hồng trắng.

Thấy tôi đến, người bạn dơ hai ngón tay lên miệng ra dấu đừng làm ồn. Tôi nhìn sang phòng ăn, thấy bàn ăn được trang hoàng tươm tất, trải khăn trắng, bày biện khác hơn ngày thường, muỗng nĩa thìa bằng bạc khá sang trọng. Người bạn đưa tay chỉ lên phía phòng ngủ của bà mẹ, rồi chị nhẹ nhàng đi bước đi chân mèo, mang khay điểm tâm bước lên cầu thang, cùng lúc điệu nhạc “Four Elise“ của Beethoven trỗi lên từ cuối phòng, tôi nghe tiếng cười đầy hạnh phúc của bà mẹ, người cha và người con.

Lát sau tôi được giải thích hôm ấy là "ngày hiền mẫu“. Vào ngày ấy người mẹ được chồng con nâng niu chiều chuộng, được điểm tâm với bố trong phòng ngủ và…“nghỉ việc nhà“. Vào ngày ấy mẹ không được “làm“ mà chỉ được “chơi“.

Ðàn bà Ðức thời trước (và có lẽ thời nay, nếu tôi công bình) nỗi tiếng trung kiên và hiền thục: "deutsche Frau, deutsche Treue“ (phụ nữ Ðức, sự trung kiên Ðức), lại chăm chỉ và siêng năng việc nhà. Cho nên một ngày được nghỉ, có thể là một ngày dừng làm “đàn bà Ðức“ chăng? Chỉ thấy ngộ nghĩnh, pha lẫn cảm động, đầy tình người, nhưng cũng đầy "Ngộ Không“ chứ không phải “không ngộ“! Ngày mẹ hiền ấy giữa các nhân vật trong gia đình.

Suốt ngày, trong niềm vui ấm cúng, thật thú vị khi thấy người con hay dằng tay mẹ không cho đụng vào cái chảo, cái nồi, hay cái dĩa, bình hoa, hoặc vội vàng đứng lên lấy cái chén đã ăn xong không cho mẹ mang vào bếp, hoặc người bố không cho mẹ bước vào phòng phơi áo quấn là ủi.

Có tiếng cười chế diễu cái thói hay làm, mau tay mau chân của mẹ và tiếng kêu vừa than van vừa sung sướng của bà khi bị hụt hẫng không được cử động theo thói quen hàng ngày, người mẹ có cảm tưởng như mình bị "cho nghỉ mát“ bất ngờ vào cái ngày "hiền mẫu“ ấy. Bố và con đều tranh nhau chìu chuộng người mẹ như chưa bao giờ có thể chiều chuộng hơn.

Ðể rồi…ngày hôm sau…đây là tường thuật thống kê của vài tờ báo Ðức sau ngày "hiền mẫu“, khi người mẹ vào trong bếp, thì thấy cả núi chén dĩa chưa rửa, bếp núc bị xáo trộn tùm lum, hủ đường hủ muối nằm sái chỗ, tất tần tật các thứ đang chờ bàn tay dọn dẹp nhanh nhẹn của bà!!! Tờ báo còn cho biết, các bà mẹ chưa chắc đã thích cái ngày "gọi là hiền mẫu ấy“ với lời bình phải chi chồng và con hàng ngày vào bếp giúp dọn dẹp, còn hơn "một chút huy hoàng rồi chợt tối ấy “ – Ðó là chuyện của báo chí.

Riêng người mẹ bạn tôi, quả thật bà đã được hạnh phúc suốt ngày “hiền mẫu“. 

Phần tôi, sống ở Ðức bao năm, tôi cũng bị nhiễm. Ðến khi MẸ TA của tôi qua Ðức, tôi cũng bắt chước đem khay điểm tâm vào giường mẹ bất thình lình không báo trước, thì mẹ đã xua tay, ai đời lại nằm trong giường mà ăn và đẩy tôi ra khỏi phòng. Rồi mẹ ngồi dậy, bối tóc, mặc áo ra khỏi phòng và mặc tôi chạy theo dành thứ này thứ nọ trong tay không cho làm, bà gắt lên "nì răng dở chứng làm trò đầu trâu cản mũi“.

Tháng năm, hoa tử đinh hương nở rộ trong vườn, ngắt một cành đem vào cho mẹ buổi sáng, vào cái ngày hiền mẫu TÂY ấy, mẹ cười tội nghiệp: “hoa nở trong vườn đẹp rứa, ngắt vô làm chi cho tội tình“.

Ngày ấy tôi bỗng dưng thất nghiệp suốt cả một ngày chủ nhật "hiền mẫu“, còn mẹ thì ung dung pha nước trà, dạo vườn, làm bánh, nấu cơm như thường lệ. Ðòi dẫn mẹ đi chơi, mẹ gạt phăng đi, đi mô cho mệt, đánh bài tứ sắc vài ván cũng vui.

Với MẸ TA của tôi, cái ngày TÂY ấy hóa ra vô dụng, nhưng thật tình MẸ không bớt một giây hiền mẫu.

Kịp khi con gái tôi lên tám, có nghĩa là tôi đã lên chức MẸ được tám năm. Một sáng ngày hiền, tôi thức giấc, nghe tiếng cười khúc khích của hai bà cháu dưới bếp. Tôi rón rén xuống cầu thang, chợt ngẩn người, thấy hai bà cháu đang cùng nhau đem bánh trong lò ra cắt, cháu bỏ trái dâu, bà thêm vào trái mận, cháu cho thêm một cánh hoa, bà đặt thêm một cái nụ, hí húi trang hoàng…hí hửng ngắm nghía…Tôi lẳng lặng trốn về phòng để đừng ai biết, giả vờ còn ngủ.

Khoảng tiếng sau, tôi chính thức lên tiếng thức dậy, thủng thỉnh xuống phòng, thì thấy trước mắt được đón tiếp bằng lời chào "buổi sáng“ với bình hoa tử đinh hương tím ngát tỏa hương dịu dàng, cái bánh ga tô hình trái tim được tô điểm với nhiều búp hoa cỏ trong vườn và tấm cát với chữ viết tiếng Việt còn non nớt “Con thương mạ lắm“ dựng trước bình hoa.

Nhìn vào phòng khách, tôi bắt gặp ánh mắt long lanh như cười của bà "MẸ TA“ và bé Mai Lan đang trốn mặt trong lòng bà.

Mẹ đã nghĩ gì, tôi đã nghĩ gì giây phút ấy, đố ai đoán cho ra!

-----------

 

 =Kim Quy sưu tầm =

Xem thêm...

Happy Mother's Day- Trái tim của Mẹ

TRÁI TIM CỦA MẸ 

 Nguyễn Trần Diệu Hương

 

Từ nhiều năm nay, cứ mỗi lần đến ngày Mother’s Day là bà Audrey biến mất. Gia đình hay bạn bè tìm đủ mọi cách để liên lạc với Bà đều không có hiệu quả. Điện thoại nhà, điện thoại sở, cell phone đều chỉ có cái message lạnh lùng: "xin vui lòng để lại lời nhắn, tôi sẽ gọi lại ngay khi tôi có thể". Sau ngày Mother’s Day, ngày chủ nhật thứ hai của tháng 5, bà Audrey xuất hiện lại, vẫn bình thường như không có gì xảy ra.

 Ai đó có thắc mắc hỏi thăm, bà chỉ trả lời qua loa:

- Tôi bị stress hơi nhiều, nên đi retreat hai ngày cuối tuần để tâm trí được thoải mái hơn.

Chỉ có thế, không có gì hơn, nhưng người ta không thắc mắc nhiều vì bà Audrey vẫn đi làm, vẫn hoàn thành tốt đẹp nhiệm vụ của bà là một nhân viên lo về dịch vụ quảng cáo cho một tờ báo điạ phương ở Oregon State

Không một ai biết là đằng sau câu trả lời đó là cả một nỗi niềm vẫn cắn rứt bà từ năm mười bảy tuổi.

 

Hồi đó, cuối năm lớp mười một, được một nam sinh ở cùng xóm đang học lớp mười hai mời đi "senior prom" (dạ tiệc khiêu vũ của học sinh lớp mười hai). Cô nhỏ Audrey lúc đó vừa sung sướng, vừa hãnh diện, vì ít khi học sinh lớp mười một được đi dự dạ vũ của lớp mười hai. Cô về nhà gom góp hết tiền để dành của mình và lén cha mẹ nhịn ăn cả tuần để dành tiền thuê một cái áo dạ vũ màu hồng rất đẹp.

Audrey được cha mẹ cho đi dạ vũ với điều kiện phải về nhà trước chín giờ tối. Anh chàng học sinh lớp mười hai, «date» của Audrey ở cách đó một block đường, mặt mày cũng hiền lành, thường xuyên có mặt ở thư viện điạ phương học hành nghiêm chỉnh, không gây hoài nghi cho bất cứ một bậc cha mẹ nào vẫn luôn để mắt đến các cô con gái dậy thì, xinh tươi vẫn bị so sánh với "các thùng thuốc nổ chậm" trong nhà.

Vậy mà dưới ảnh hưởng cuả «peer pressure», bạn bè cùng trang lứa, hậu quả của việc tham dự "senior prom" năm đó để lại một mầm sống trong Audrey. Khi cha mẹ Audrey khám phá ra việc này, thì chỉ còn hai tháng nữa là Audrey đến ngày sinh nở, quá trễ để có thể có những lựa chọn khác. Hơn thế nữa, là một gia đình Catholic thuần thành, họ không muốn giết một hài nhi vô tội.

Ngày Audrey sinh con, cô chưa đến mười tám tuổi, nên mọi việc đều thuộc quyền quyết định của cha mẹ. Thế là mặc dù "mẹ tròn con vuông", em bé khoẻ mạnh, Audrey được cha mẹ chở về nhà một mình. Bé trai sơ sinh đã được cha mẹ nuôi đến nhận ngay từ lúc được cắt cuống rốn.

 Về nhà, Audrey học tiếp năm lớp mười hai, tốt nghiệp trung học, đi làm, rồi lập gia đình với một thanh niên làm cùng chỗ. Cuộc sống hạnh phúc kéo dài không lâu, Audrey ly dị và bước vào cuộc hôn nhân thứ hai, lần này chắc là rút kinh nghiệm của lần đổ vỡ trước, hôn nhân kéo dài được gần mười năm, rồi lại "đường ai nấy đi".

 Hai cuộc hôn nhân đến rồi đi không để lại một ràng buộc nào với những người trong cuộc vì Audrey không sinh nở lần thứ hai.

 

Lúc này đã đến tuổi nửa đời người, bà Audrey chững chạc hơn, khôn ngoan hơn, và nỗi ân hận cho con năm xưa ngày một lớn dẩn.

 Bà trở về thành phố tuổi thơ, xin vào làm ở một tờ báo địa phương, và đổi lại họ "Springfield" thời con gái cuả mình.

Là chuyên viên nhận đăng và lay out quảng cáo cho một tờ báo điạ phương, mỗi ngày bà Audrey thấy người ta đăng tất cả mọi thứ trên báo, và kết quả cũng cao, vì thỉnh thoảng bà vẫn nhận được những Email cảm ơn khi việc quảng cáo có kết qủa. Thế là bà Audrey quyết định đăng một quảng cáo cho chính mình, với ước mong tìm lại được cậu con trai chưa một lần được bồng bế năm xưa.

 Thế là từ đó, mỗi năm vào ngày 7 tháng 4, sinh nhật cuả cậu con, bà đăng một mẫu tin trên quảng cáo với nội dung không đổi:

"Chúc mừng sinh nhật ngày 7 tháng 4, sinh nhật cậu bé trai Springfield cuả mẹ. Mẹ luôn luôn thương yêu con.

Mẹ đẻ của con – Audrey Springfield".

Cái quảng cáo đó chỉ xuất hiện vào ngày 7 tháng 4 mỗi năm, và kéo dài gần 30 năm, xuất hiện trên báo, nằm khiêm nhường chìm lẫn trong cả chục mẫu quảng cáo đủ loại thượng vàng hạ cám khác.

Chỉ có tin đi mà không có tin về, nhưng bà Audrey không ngừng nuôi hy vọng một ngày nào đó, bà sẽ tìm lại cậu con trai sơ sinh thất lạc. Bà không ngừng cầu nguyện, tiếp tục đăng quảng cáo vào ngày 7 tháng 4 hàng năm trên cùng một tờ báo điạ phương. Hình như đó cũng là một cách làm giảm nỗi ân hận của bà, mặc dù đó không phải là quyết định của cô Audrey ngây thơ mười bảy tuổi, mà là quyết định của các đấng sinh thành.

 Và vào mỗi ngày chủ nhật thứ hai của tháng 5, ngày Mother’s Day ở Mỹ, bà lặng lẽ đi về một nơi nào đó xa xôi, tránh những hình ảnh trên báo chí, TV nói về ngày lễ của Mẹ. Hình như đó là ngày mà nỗi ân hận của bà dâng cao nhất, ngút ngàn chất ngất.

Nhiều năm như vậy, sau hai cuộc hôn nhân đổ vỡ, không có con với cả hai người chồng, mặc dù vẫn còn đẹp ở tuổi 60, bà Audrey không còn nghĩ đến chuyện lập gia đình lần thứ ba. Bà không cảm thấy cô đơn, chỉ thấy nỗi ân hận đã bỏ rơi cậu con trai sơ sinh năm xưa ngày càng lớn dần.

Cách đây hai năm, qua hồ sơ lưu trữ của một adoption agency ở địa phương, bà Audrey được biết cậu bé sơ sinh năm xưa được cha mẹ nuôi đặt tên là Dylan. Thế là câu quảng cáo hàng năm trên báo vào ngày sinh của cậu bé trở thành cụ thể hơn như sau:

"Chúc mừng sinh nhật ngày 7 tháng 4 Dylan của mẹ. Mẹ luôn luôn thương yêu con.

Mẹ đẻ của con – Audrey Springfield".

Sau nhiều thập niên bị gậm nhấm trong nỗi ân hận, nhưng không ngừng cầu nguyện và hy vọng, năm nay, bà Audrey só được món quà quý nhất trên đời với bà vào một tuần trước lễ Mother’s Day

 

Đó là một buổi trưa thứ bảy, yên tĩnh, an nhàn, không gấp rút, bận rộn như những ngày làm việc trong tuần, có một người đàn ông trung niên bấm chuông nhà bà. Từ cửa sổ nhìn ra, bà Audrey nghĩ đó là một nhân viên của UPS đến giao cho bà một cái áo khoác, món hàng mà bà mua qua internet tuần trước.

Bà mở cửa, người đàn ông trung niên trước mặt với trang báo quảng cáo của tờ Portland Tribune trên tay, giọng lịch sự có pha một chút e dè:

- Chào bà, thưa có phải bà là Audrey Springfield không ạ?

 Bà gật đầu: "Vâng, tôi là Audrey Springfield".

Giọng người đàn ông trung niên lạc hẳn đi vì xúc động:

- Thưa bà, tên tôi là Dylan, có thể bà là mẹ ruột của tôi.

Cả hai người quan sát nhau kỹ hơn và cùng nhanh chóng nhận ra những nét quen thuộc của mình trên khuôn mặt người đối diện. Bà Audrey nghẹn ngào không nói được tiếng nào, ôm choàng lấy Dylan, thật chặt, như sợ người con trai lại biến mất khỏi vòng tay của bà nhanh chóng như năm xưa, lúc bà mười bảy tuổi.

 Từ trên cái SUV đậu trước nhà, vợ cuả ông Dylan nhìn vào, và dù không được nghe hai người nói với nhau những gì, bà cũng nhận ra là ông Dylan đã tìm lại được người sinh ra mình sau 43 năm.

Có lẽ trời cũng động lòng trong giây phút trùng phùng của hai mẹ con, một màn mưa phùn chợt kéo đến phủ lên tóc của cả hai người những hạt nước trắng xóa li ti.

 


 

Tháng trước, nhân sinh nhật lần thứ 43, tự dưng ông Dylan tò mò lên search online xem thử có bao nhiêu người sinh cùng ngày 7 tháng 4, cùng nơi sinh với mình ở bệnh viện Oregon State Hospital ở Portland. Ông Dylan đánh vào hàng chữ: "Babies born in April 7th at Oregon State Hospital". Trong vài giây, có hơn 75 ngàn kết quả hiện ra, mà một trong ba kết quả đầu tiên ở trang đầu là dòng quảng cáo chúc mừng sinh nhật Dylan của bà Audrey.

 Dù được bố mẹ nuôi, ông bà Lawrence, cho biết mình là con nuôi từ lúc tròn 21 tuổi, đôi lúc ông Dylan rất muốn đi tìm cha mẹ ruột của mình, nhưng ông không muốn tự làm mình thất vọng, vì chưa chắc là người sinh ra ông còn quan tâm và nghĩ đến ông. Vả chăng, cha mẹ nuôi của ông, ông bà Lawrence không có con, nên thương yêu ông vô cùng.

 Lần này có tên của bà Audrey, ông tìm trên white book, quyển danh bạ điện thoại dày cộm của thành phố Portland, và tìm được cả số phone lẫn điạ chỉ cuả bà Audrey, chắc là mẹ ruột của ông, chỉ ở cách ông có 30 phút lái xe.

Thế là vào một ngày thứ bảy, hai vợ chồng ông Dylan Lawrence lái xe đến địa chỉ cuả bà Audrey với trang báo quảng cáo trên tay, với một kết quả rất cảm động, một "happy ending" sau gần ba mươi năm, bà Audrey kiên nhẫn đăng quảng cáo trên báo chúc mừng sinh nhật ngày 7 tháng 4 cuả cậu con trai thất lạc từ lúc mới chào đời.

 

Dù mới gặp nhau lần đầu, nhưng tình mẫu tử từ bà Audrey và sợi dây huyết thống vô hình đã làm cho hai mẹ con thấy rất gần nhau như họ chưa từng bị chia cách trong 43 năm qua.

 Hai đứa con trai của ông Dylan kể từ bây giờ sẽ có thêm một bà nội thứ hai, bà nội Springfield, ngoài bà nội Lawrence mà các em vẫn thấy từ thuở mới có trí khôn.

 Đêm đó, bà Audrey ngồi suốt đêm trên ghế sofa, không dám nằm ngủ, bà sợ chuyện mới xảy ra lúc sáng chỉ là một giấc mơ. Nếu bà đi ngủ, lúc thức dậy, giấc mơ sẽ không còn.

Đó có lẽ là món quà quý nhất mà Thượng đế đã ban tặng cho hai mẹ con bà Audrey một tuần trước lễ Mother’s Day. Một món quà vô giá không một khoản tiền nào có thể mua được.

Từ đó, mỗi lần đến ngày 7 tháng 4, thay vì đăng quảng cáo, và khóc thầm, bà Audrey sẽ mang một cái bánh sinh nhật đến cho con trai của mình với nụ cười rạng rỡ và với lòng biết ơn ông bà Lawrence đã nuôi dạy em bé sơ sinh Dylan năm xưa trở thành một người lớn đàng hoàng, có nghề nghiệp và tư cách. Và mỗi ngày Mother’s Day, một ngày chủ nhật của tháng 5, bà Audrey không phải lái xe đi xa, lặng lẽ âm thầm với những giọt lệ ăn năn của mình.

Trái tim của người Mẹ, từ một người mẹ non trẻ dại khờ, chưa đủ trí khôn, đến một người mẹ da mồi tóc bạc, đi gần hết cuộc đời lúc nào cũng chứa cả một đại dương tình thương cho các con của mình.

 

 Nguyễn Trần Diệu Hương

------------

Hồng Anh sưu tầm

 

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này