Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1390)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (75)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (75)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (370)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

'Viên ngọc' của nền tân nhạc Việt Nam': Ca sĩ Mai Hương (1941-2020)

'Viên ngọc' của nền tân nhạc Việt Nam':

Ca sĩ Mai Hương  (1941-2020)

Ca sĩ Mai Hương tên thật là Phạm Thị Mai Hương, sinh năm 1941 tại Đà Nẵng, mất ngày 29 tháng 11, 2020 tại California, hưởng thọ 79 tuổi. 

Nữ danh ca Mai Hương (1941 - 2020)

 Ca sĩ Mai Hương, 'viên ngọc' của nền tân nhạc Việt Nam, qua đời vào ngày 29-11 ở tuổi 79. Bà là con gái của nữ kịch sĩ Kiều Hạnh và cháu ruột danh ca Thái Thanh.

Ca sĩ Mai Hương qua đời lúc 14h52 ngày 29-11, hưởng thọ 79 tuổi. Thông tin được nhiều nghệ sĩ trong giới giải trí Việt tại Mỹ báo tin và gửi lời chia buồn đến ông Trương Dục, chồng ca sĩ Mai Hương và các người thân, bạn bè của bà.

Mai Hương tên đầy đủ là Phạm Thị Mai Hương, sinh năm 1941 tại Đà Nẵng. Bà là con gái của ông Phạm Đình Sỹ và nữ kịch sĩ Kiều Hạnh. Ông Phạm Đình Sỹ là anh trai của các ca sĩ trong ban hợp ca Thăng Long gồm Thái Hằng (vợ nhạc sĩ Phạm Duy), Thái Thanh, Hoài Trung và nhạc sĩ Phạm Đình Chương.

Sinh thời, ông Sỹ làm công chức, thường xuyên phải hoán chuyển nhiều nơi. Do đó, dù gốc Hà Nội, bà sinh ra và sống vài năm đầu đời tại Đà Nẵng. Do đại gia đình có nhiều giọng ca nổi tiếng, Mai Hương lớn lên trong môi trường nghệ thuật và chịu ảnh hưởng từ các tiền bối, trong đó có người cô ruột là "Đệ nhất danh ca" Thái Thanh.

 Mai Hương ngày xưa

Một phần của đại gia đình Mai Hương, trong đó hàng trên cùng là ba mẹ con

(từ phải sang) gồm Mai Hương, bà mẹ Kiều Hạnh và em gái Bạch Tuyết - Ảnh: ĐINH TIẾN MẬU

Vào năm 1952, gia đình Mai Hương chuyển vào Sài Gòn và sống tại đây đến năm 1975. Bà được nhận xét "sinh ra ở miền Trung, lớn lên ở miền Bắc và thành danh ở miền Nam", hội đủ ba miền của đất nước.

Mai Hương và chồng, ông Trương Dục, có cuộc hôn nhân hạnh phúc hơn 60 năm và có 4 người con. Mai Hương từng chia sẻ chồng là mối tình đầu của bà. Họ gặp nhau ở phi trường Tân Sơn Nhất. Trước khi quen ông vào năm 1961, bà chỉ đi hát cho sinh viên nghe nhưng chỉ trong giới hạn giao lưu văn nghệ.

Đám cưới của cặp vợ chồng Mai Hương - Trương Dục - ẢNH TƯ LIỆU

Trong sự nghiệp, Mai Hương hát nhạc của nhiều nhạc sĩ nổi tiếng như Đoàn Chuẩn - Từ Linh, Dương Thiệu Tước, Phạm Duy, Văn Cao...

Bà ra mắt các băng đĩa: Mai Hương và những tuyệt phẩm Đoàn Chuẩn - Từ Linh, Tình khúc Dương Thiệu Tước, Tình khúc Văn Cao - Nhạc tiền chiến 4...( Theo Tuổi trẻ)

 

Ca khúc "Quê nghèo" - Phạm Duy sáng tác, Mai Hương thu âm trước năm 1975

 

Mai Hương, Một Ánh Sao Rơi!

 

 

Cách đây hai thập niên, vào thời điểm nầy, Lâm Tường Dũ bàn với tôi thực hiện Giai Phẩm Xuân cho tờ Thế Giới Nghệ Thuật. Với nhạc sĩ thì dựa vào các nhạc phẩm sáng tác về Xuân nhưng với ca sĩ thì mông lung nên dựa vào bức tranh tứ quý: mai, lan, cúc, trúc để viết. Tôi chọn 4 ca sĩ khởi đầu với chữ Mai: Mai Hương, Mai Hân, Mai Ngọc Khánh & Mai Lệ Huyền. Lâm Tường Dũ chọn 4 chữ Lan cuối cùng: Thanh Lan, Ngọc Lan, Ý Lan & Hương Lan.

Ngọc Lan sinh ở Nha Trang, qua đời năm 2001, nay đến Mai Hương sinh ở Đà Nẵng từ trần vào chiều Chủ Nhật 29/11/2020 tại Nam California. Tôi thích và thiện cảm với hai ca sĩ nầy từ tiếng hát đến nhân cách sống và gắn liền với nơi chốn cố hương và quê vợ.

Mai Hương là một trong những ca sĩ duy nhất không bị scandal nào trong tình yêu và nghiệp dĩ. Ca sĩ có công việc vững chắc ở Bank of America. Là con chiên rất ngoan đạo Tin Lành, Chủ Nhật nào cũng đi lễ ở nhà thờ Vietnamese United Methodist ở Anaheim, tuy xa nhà nhưng có đông cộng đồng người Việt. Thứ Sáu, 11 tháng 12, nhà thờ làm Lễ Dâng Xác Trương Mai Hương (lấy họ chồng) - tôi là Phật Tử thuần thành nhưng trong văn học nghệ thuật với những khuôn mặt chân chính đều bày tỏ lòng cảm mến.

Trong mùa dịch Covid-19 đang cô lập mọi người, rất tiếc có hai ca sĩ được mọi người ái mộ đã vĩnh biệt cõi trần, ca sĩ Thái Thanh qua đới 17 tháng 3, 2020 và lần nầy đến ca sĩ Mai Hương, những người ái mộ không đến để tiễn đưa lần cuối!

Về tiểu sử Mai Hương đã được đề cập khá nhiều nên ghi tổng quát:

Mai Hương nguyên danh Phạm Thị Mai Hương, gốc Hà Nội, sinh năm 1941 tại Đà Nẵng. Xuất thân trong một gia đình nghệ sĩ, cha mẹ MH là Phạm Đình Sỹ và nữ kịch sĩ Kiều Hạnh, diễn viên đoàn kịch Sao Vàng của Thế Lữ, được Bộ Thông Tin VNCH đã trao tặng danh hiệu nữ kịch sĩ xuất sắc nhất năm 1956. Ông Phạm Đình Sỹ là anh trai của các ca sĩ Thái Hằng (vợ nhạc sĩ Phạm Duy), ca sĩ Thái Thanh, ca sĩ Hoài Trung Phạm Đình Viêm và nhạc sĩ Hoài Bắc Phạm Đình Chương.

Năm 1951, gia đình ông Phạm Đình Sỹ mới trở về Hà Nội, cuối năm 1952 di cư vào Sài Gòn sống cho đến năm 1975. Năm 1953, mới 12 tuổi đã tham dự thi cuộc tuyển lựa ca sĩ của đài phát thanh Pháp Á tại rạp Norodom, với ca khúc Xuân & Tuổi Trẻ (nhạc La Hối, lời Thế Lữ) được trúng tuyển. Mai Hương cộng tác với chương trình nhi đồng của nữ ca sĩ Minh Trang trên đài Phát Thanh Sài Gòn, thời gian cộng tác với các chương trình thiếu nhi, khi trao lại cho kịch sĩ Kiều Hạnh đổi tên là ban Tuổi Xanh.

Ban Tiếng Tơ Đồng: Kim Tước, Mai Hương, Quỳnh Giao

 Khi Đài Phát Thanh Pháp Á, sau đổi tên thành Đài Phát Thanh Quốc Gia rồi Đài Phát Thanh Sài Gòn), Ban Tuổi Xanh tiếp tục cộng tác với đài phát thanh hàng tuần. Ban Tuổi Xanh đã quy tụ những tiếng hát Bích Chiêu, Mai Hương, Bạch Tuyết, Quỳnh Giao, Tuấn Ngọc, Hoàng Oanh, Phương Hoài Tâm, Xuân Thu… và  Bạch Tuyết (sinh năm 1943, em gái Mai Hương vừa qua đời cách nay 3 tháng, trùng tên đào cải lương Bạch Tuyết). Mai Hương theo học trường Quốc Gia Âm Nhạc (cùng thời điểm theo tại trường trung học Nguyễn Bá Tòng) được khoảng ba năm về violin, ký âm pháp, đàn tranh và hợp xướng. Sau đó vì bận thi tú tài 1 nên phải bỏ dở.

Khi Mai Hương tham gia trong ban nhạc của Võ Đức Tuyết và Hoàng Lang cùng với những ca sĩ nổi danh của nền tân nhạc lúc đó là Anh Ngọc, Duy Trác, Nhật Bằng, Kim Tước, Mộc Lan, Châu Hà…Và, Mai Hương lần lượt xuất hiện trong nhiều ban ca nhạc khác, như Tiếng Nhạc Tâm Tình của Anh Ngọc, ban Phương Hoa của Vũ Thành, ban Hương Quê của Hoàng Trọng… Và nổi tiếng nhất với Ban Tiếng Tơ Đồng của Hoàng Trọng năm 1967 (Ông hoàng của dòng nhạc Tango, tôi đã viết bài Hoàng Trọng, Ngàn Thu Áo Tím trong quyển Văn Nhân & Tình Sử).

Ban nhạc quy tụ những ca sĩ lừng danh, thường trình bày những ca khúc tiền chiến và những ca khúc nổi tiếng của các nhạc sĩ nổi tiếng ổ Sài Gòn. Mai Hương trong tam ca của Ban Tiếng Tơ Đồng (Kim Tước, Quỳnh Giao), theo dòng thời gian từ trong nước, ở Hoa Kỳ. Tiếng hát Mai Hương thường xuyên ngoài Đài Phát Thanh Sài Gòn còn có  Đài Tiếng Nói Quân Đội, Đài Tiếng Nói Tự Do và Đài Truyền Hình Việt Nam trên băng tần số 9 ở Sài Gòn.

Lập gia đình với người bạn đời Trương Dục, tuy không ở trong giới nghệ sĩ năm 1961 nhưng là người cảm thông và khích lệ. Ngày 22 tháng 4 năm 1975, Mai Hương cùng chồng Trương Dục, phục vụ tại Nha Hàng Không Dân Sự, và bốn người con rời Việt Nam tạm trú tại trại Pendleton ở Nam California. Lần đầu tiên Mai Hương được mời đi trình diễn ở thành phố New Orleans.

Năm 1980, Mai Hương phát hành băng nhạc đầu tiên tại hải ngoại mang tên Giấc Mơ Hồi Hương (Ca khúc nổi tiếng cũa Vũ Thành). Và từ đó thu âm, có nhiều CD như Nhặt Cánh Sao Rơi, Serenade, Vàng Phai Mấy Lá... Tổng cộng khoảng 10 CD với tiếng hát của Mai Hương, trong số đó có CD Tìm Nhau Bốn Mùa hát chung với Kim Tước và Quỳnh Giao. Năm 1989 Mai Hương sống ở Rowland Heights, Nam California và làm việc cho ngân hàng Bank Of America. Sau 22 năm với công việc, năm 2000 Mai Hương về hưu và thỉnh thoảng xuất hiện trong các chương trình tưởng nhớ nhạc sĩ qua đời… Tiếng hát của Mai Hương là tiếng hát của hoài vọng, nhớ thương của cung thương ngày cũ.

Mỗi ca sĩ thường có những ca khúc để đời. Với giọng soprano, nhẹ nhàng, dịu dàng, thiết tha, bay bổng, cao vuốt và điêu luyện… thích hợp với những ca khúc bán cổ điển. Mai Hương đã thực hiện trong CD như: Giấc Mơ Hồi Hương, Bóng Ngày Qua, Đi Chơi Chùa Hương, Mai Hương & Những Tuyệt Phẩm Đoàn Chuẩn - Từ Linh, Tình Khúc Dương Thiệu Tước, Khúc Nhạc Ly Hương, Nhạc Tiền Chiến, Nhặt Cánh Sao Rơi, Vàng Phai Mấy Lá, Như Ngọn Buồn Rơi, Sérénade, LỠ Chuyến Đò, Tình Khúc Văn Cao với Quỳnh Giao… Với hàng trăm ca khúc đó cũng hình dung được những bài hát do Mai Hương trình bày.

Trong cuộc phỏng vấn của Nghiêm Xuân Cường thực hiện, ca sĩ Mai Hương đã chia sẻ:

“Trong các kỷ niệm của tôi về thuở niên thiếu, phải nói thời gian êm đẹp nhất là những năm tôi học từ lớp Đệ Ngũ đến Đệ Tam. Tôi nhớ lại những tháng năm ấy như một giòng sông êm đềm trôi mãi trong ký ức bởi lẽ ở tuổi mười bốn, mười lăm, tôi đã bắt đầu biết nghĩ và chớm yêu thơ nhạc nhưng vẫn chưa có gì phải lo nghĩ về thi cử hay về cuộc chiến. Những năm cuối thập niên 60, Sài Gòn vẫn còn huởng không khí tương đối yên bình…

… Từ năm 1972 đến 1975 một số người bỏ đài, không còn hứng khởi hát hò như xưa. Trong số đó có chị Kim Tước ra Nha Trang, chị Hà Thanh ra Huế. Các anh Thanh Vũ, Trần Ngọc (nhạc sĩ Tuấn Khanh) chú Anh Ngọc không hát nữa. Cô Thái Thanh cũng vậy. Trong đài bấy giờ chỉ còn tôi, Hoàng Oanh, cô Mộc Lan, chị Thể Tần và Phượng Bằng, Phương Nga. Quỳnh Giao thì không đi hát đều đặn như trước mà bận dậy đàn nhiều hơn. Ngày 22 tháng 4 năm 1975 chúng tôi rời bỏ quê hương đi lánh nạn xứ người…”

Với tâm niệm của người ca sĩ: “Tôi muốn làm công việc giới thiệu này để nhắc nhở cho những người yêu nhạc rằng kho tàng âm nhạc Việt Nam rất phong phú bằng cách ghi âm lại những bài hát ấy để lưu lại một cái gì cho người, cho mình. Tôi cũng muốn ghi lại giọng ca của mình trong lúc còn có thể hát được vì có ai trẻ mãi với thời gian. Những bản nhạc mà tôi đã chọn để hát cho khoảng hơn 10 CDs cho các trung tâm Diễm Xưa, Tú Quỳnh, Mai Ngọc Khánh... cũng không ngoài mục đích kể trên”.

Với nhạc sĩ Vũ Thành ngoài ca khúc Giấc Mơ Hoài Hương, tôi thích tình khúc Nhặt Cánh Sao Rơi với tiếng hát Mai Hương cũng là chủ đề của CD. Giờ đây, anh Trương Dục ngậm ngùi thương tiếc hình ảnh người vợ hiền Mai Hương ra người thiên cổ với nỗi lòng trong ca khúc:

“Người năm trước còn nhớ chăng đêm nào

Đầu xanh tóc tình lứa đôi dạt dào

Bạn ngồi bên tôi tay nắm tay tim nghẹn ngào

Lặng nhìn trời xanh thẳm đẹp muôn ánh sao

… Nhưng đêm nay sao trời vẫn sáng

Ngân hà đôi hướng có riêng mình tôi

Lắng buồn đoái nhìn ngàn sao thờ ơ

Áng mây buông lững lờ

Bới trong tro tàn tìm ánh sao xưa”.

Trước đây, thỉnh thoảng tôi gặp anh Trương Dục ở quán cà phê trong khu Catinat Plaza ở Little, sau nầy chưa có dịp gặp nhau. Tưởng nhớ người quá cố, ca sĩ Mai Hương, gởi đến anh lời chia buồn và tựa đề bài viết: Mai Hương, Một Ánh Sao Rơi trong gia đình anh và mọi người ở trong nước và hải ngoại đã một thời yêu thích tiếng hát theo năm tháng.

Little Saigon, Nov 30, 2020

Vương Trùng Dương (việt báo)

 Mai Hương năm 2016

⊱•═•⊰

Danh ca Mai Hương và những ca khúc nhạc cổ điển

lời Việt Phạm Duy: Trở Về Mái Nhà Xưa, Dạ Khúc…

 ◊◊◊

Từ khoảng thập niên 1950, một số nhạc sĩ nổi tiếng của Việt Nam đã bắt đầu soạn lời Việt cho các ca khúc nổi tiếng của Mỹ và châu Âu, nhưng có lẽ không ai soạn lời Việt cho nhạc ngoại nhiều bằng nhạc sĩ Phạm Duy. Chỉ tính riêng các ca khúc nhạc cổ điển bất hủ được ông viết lời Việt thì đã có thể xếp thành một dòng nhạc riêng, với rất nhiều ca khúc quen thuộc với nhiều thế hệ người Việt: Dòng Sông Xanh, Chủ Nhật Buồn, Trở Về Mái Nhà Xưa, Chiều Tà, Dạ Khúc, Khúc Hát Thanh Xuân…

Nhạc sĩ Phạm Duy bắt đầu soạn lời Việt cho nhạc nước ngoài từ khi ông còn rất trẻ, ở tuổi chưa đến 20. Vào thời điểm mà các nhạc sĩ lúc bấy giờ thường chọn nhạc bình dân Pháp để soạn lời, thì Phạm Duy là người tiên phong viết lời Việt cho nhạc cổ điển Âu – Mỹ, bắt đầu với những tác phẩm của nhà soạn nhạc lừng danh người Áo là Johann Strauss. Theo Phạm Duy giải thích thì những bài điệu valse của Johann Strauss tuy là nhạc cổ điển nhưng có bài được phổ biến dưới hình thức ca khúc phổ thông.

 Ngoài bài valse bất hủ là Le beau Danube bleu (Dòng Sông Xanh), Johann Strauss có một bài valse khác cũng được nhiều người biết đến là When We Were Young, đã được Phạm Duy viết lời Việt có tựa Khúc Hát Thanh Xuân với những ca từ tươi vui:

“Ngày ấy khi xuân ra đời, một trời bình minh có lũ chim vui
Có lứa đôi yêu nhau rồi hẹn rằng còn mãi không nguôi…”

Trong hồi ký của mình, nhạc sĩ Phạm Duy giải thích về cơ hội được tiếp cận với nhạc cổ điển để rồi sau đó tiếp tục tìm hiểu và viết lời Việt như sau:

“Vào tuổi tôi, ai mới bước vào âm nhạc thì cũng đều mê nhạc cổ điển Tây Phương. Tôi có cái may là có một người anh đi du học bẩy năm ở bên Pháp. Khi hồi hương, người anh mang về nhiều đĩa hát loại 78 tours, tất cả là nhạc cổ điển. Tôi đã nghe và đã thuộc lòng nhiều bài được coi như bất tử, chẳng hạn bài SÉRÉNATA của Toselli. Bản nhạc Ý đại lợi này thì quá đẹp, lại có thêm lời ca tiếng Pháp rất hay”.

Người anh mà nhạc sĩ Phạm Duy nói đến là Phạm Duy Khiêm, một người du học ở Pháp 7 năm, là người Việt Nam đầu tiên lấy bằng tú tài văn chương Pháp. Nhờ người anh tài giỏi đỗ đạt này mà khi chỉ mới 14,15 tuổi, nhạc sĩ Phạm Duy đã được tiếp xúc và yêu nhạc cổ điển.

Lúc ấy thành phố Sorrento còn sơ sài với những mái nhà tường đất, những con đường lót đá và đầy bụi ven vực biển, người thưa thớt và dịch vụ nghèo nàn. Nhưng Sorrento lúc ấy cũng rất đẹp trong nét hoang sơ và ngút ngàn của sóng biển ngàn khơi, những ngọn đồi cao chênh vênh cách mặt biển 50m như cánh cung nhìn ra vịnh Napoli tràn ngập trong ánh nắng miền Địa Trung Hải.

Ở phần lời Việt, nhạc sĩ Phạm Duy giữ được phần nào tinh thần của bài gốc, nói lên ước mơ được trở về với những điều bình dị nhất của đời người. Ngoài ra ông còn nói rằng bài soạn lời Việt đã được “thêm chút không khí Bồ Tùng Linh, vì tôi là người Á Ðông”.

Trở Về Mái Nhà Xưa cũng là ca khúc mà cố danh ca Mai Hương chọn làm bài hát mở đầu cho CD nhạc cổ điển mà bà đã thực hiện cách đây khoảng 20 năm. CD đã chọn ra hầu như tất cả những bài nhạc cổ điển lời Việt quen thuộc nhất với người Việt, như Chủ Nhật Buồn, Dạ Khúc, Dòng Sông Xanh…

CD có 11 bài hát nhạc cổ điển bất hủ lừng danh thế giới, tất cả đều được nhạc sĩ Phạm Duy viết lời Việt, và cho đến nay, CD này vẫn được xem là album nhạc cổ điển lời Việt hay nhất. Mời các bạn nghe lại sau đây: 

Dạ Khúc – Mai Hương

✧✧✧

Một kỷ niệm kinh hoàng với ca sĩ Mai Hương

 

Ca sĩ Mai Hương tên thật là Phạm Thị Mai Hương, sinh năm 1941 tại Đà Nẵng,

mất ngày 29 tháng 11, 2020 tại California, hưởng thọ 79 tuổi.

Tôi yêu tiếng hát Mai Hương từ thời mới lớn. Tiếng hát cao vút và trong như pha lê. Lúc đó tuy chưa quen Mai Hương vậy mà tôi đã cảm thấy rất gần gũi với Mai Hương. Tôi không hề có cảm giác xa cách giữa một thính giả và một ca sĩ nhà nghề. Tiếng hát Mai Hương, dáng dấp Mai Hương, với tôi thân quen như một người bạn. Một người bạn quen biết rất lâu với nhiều tình cảm đậm đà quý mến. Có lẽ tại vì chúng tôi cùng tuổi với nhau. Có lẽ tại vì Mai Hương lúc nào cũng đơn giản. Ngay cả khi đứng trên sân khấu, trông Mai Hương cũng đơn sơ giản dị như nột cô nữ sinh trên sân khấu nhà trường. Mai Hương không điệu đà, không làm dáng, không tỏ ra mình là ca sĩ nổi tiếng. Tôi thích cái vẻ e lệ dịu dàng của Mai Hương, và nụ cười với chiếc răng khểnh duyên ơi là duyên.

Bây giờ tôi xin vào đề câu chuyện kinh hoàng của hai chúng tôi. Tôi lập gia đình rất sớm nên phải theo ông chồng nhà binh di chuyển đi các nơi. Tôi phải rời xa Sài Gòn một thời gian khá dài. Tôi rất buồn vì nhớ bạn bè, nhớ cái không khí văn nghệ của Sài Gòn. Nhớ những khuôn mặt, những giọng hát của các ca sĩ mà tôi yêu mến.

Năm 1971, nhà tôi được thuyên chuyển về lại Sài Gòn. Tôi mừng rỡ quá vì sẽ được gặp lại bao nhiêu là người thân. Tôi về trước lo sửa sang nhà cửa, luôn tiện đưa con gái út (cháu Uyển Diễm vừa tròn 5 tuổi) về Sài Gòn để người bạn thân của chúng tôi, anh nha sĩ Cân chữa răng cho cháu.

Về tới Sài Gòn được hai hôm thì nhóm bạn thân rủ tôi đi phòng trà Tự Do nghe nhạc. Các bạn quảng cáo là có Khánh Ly, Tuấn Ngọc, Khánh Hà, Anh Tú và ban nhạc Blue Jet. Đặc biệt có cả Mai Hương nữa (Mai Hương rất khi ít khi hát ở phòng trà). Nghe nói vậy là tôi đồng ý đi liền dù phải mang theo cả cháu Uyển Diễm vì cháu không chịu rời mẹ.

Nhóm bạn tôi có cả thảy 16 người. Chúng tôi chọn một dãy ghế dài ngay trước sân khấu. Chương trình ca nhạc hôm đó mở đầu với những bài hát thật hay, tôi ngồi ngây người ra nghe. Sau Tuấn Ngọc là Mai Hương. Tôi đang say sưa uống từng lời ca của Mai Hương qua nhạc phẩm “Love Story” lời Việt của nhạc sĩ Phạm Duy thì cháu gái kêu lạnh. Tôi bế cháu lên lòng và ôm chặt cho cháu đỡ lạnh vì cháu mặc váy ngắn mà phòng trà họ để máy lạnh hơi nhiều. Bỗng nhiên một tiếng nổ long trời lở đất. Tôi tưởng như mình đang nằm mơ.

Bụi tro màu xám lẫn trong khói bay mù mịt trước mặt. Mai Hương nằm té xỉu ngay trên sân khấu. Tiếng người la hét, rồi người ta chen chúc nhau để thoát ra ngoài. Mùi thuốc nổ khét lẹt xung quanh. Tôi ngồi bất động bàng hoàng như không tin ở mắt mình với những cảnh vật kinh hoàng trước mặt. Ba người bạn trong nhóm của tôi nằm chết dưới sàn ngay cạnh chỗ tôi.

Anh nha sĩ Cân chưa kịp chữa răng cho cháu Uyển Diễm thì đã ra người thiên cổ. Xác anh chị Sang nằm sóng sượt bất động. Đầu anh Sang gối lên chiếc giày màu bạc óng ánh của tôi. Chị Cân bị thương mất một con mắt và vỡ một bên quai hàm máu ra đầy khắp mặt. Anh Hiệp cũng trong nhóm tôi bị sức ép của mìn nổ làm một bên lỗ tai bị rỉ máu. Chi Mô bị thương nhẹ ở chân. Xác chết nằm la liệt dưới sàn. Sợ hãi làm tôi cảm thấy toàn thân lạnh run như người lên cơn sốt rét.

Cháu Uyển Diễm khóc òa lên vì sợ. Tôi ôm con trong tay, lấy hết sức bình sinh rút chân ra khỏi chiếc giày mà ông bạn thân của tôi đang nằm gối đầu yên nghỉ giấc ngàn thu.

Tôi tưởng như mình đi không vững. Tôi cố lết ra khỏi phòng trà. Gần cửa ra vào chiếc màn nhung màu đỏ thắm vẫn còn đang cháy. Bên trong và bên ngoài phòng trà tiếng la hét, tiếng còi xe chữa lửa, xe cứu thương, tiếng người khóc, tiếng người gọi nhau và những ngọn lửa còn âm ỉ cháy bên cạnh những đám khói mờ mịt tạo thành một cảnh tượng hãi hùng náo loạn.

Người bạn đi cùng chở tôi về nhà. Bước qua chiếc gương của cái tủ đứng trong phòng ngủ tôi hết hồn sững lại. Trong gương là hình ảnh người đàn bà mặt mũi, tóc tai, quần áo, đều màu xám. Bụi tro của mìn claymore, phủ kín người tôi từ đầu tới chân khiến mái tóc đen và chiếc áo đầm hàng ren đen bóng của tôi cũng biến thành mầu xám tro. Một chiếc bông tai của tôi văng đi hồi nào, chỉ còn lại chiếc kia toòng teng lủng lẳng bên tai trái trông thật khôi hài.

Tôi bỏ cả giầy, quên cả bóp để lại phòng trà. Như một phép lạ, hai mẹ con tôi không hề hấn một chút nào. Sau khi tắm rửa thay quần áo, hai mẹ con tôi chui vào chăn nằm ôm nhau, lúc đó tôi mới bắt đầu khóc. Khóc vì sợ, khóc vì nghĩ đến những người bạn mà mới buổi chiều tối chúng tôi còn ngồi ăn uống vui vẻ với nhau. Sau đó kéo nhau đi phòng trà nghe nhạc. Chỉ mấy tiếng đồng hồ sau tất cả đã biến đổi hoàn toàn. Tôi sẽ chẳng bao giờ còn được nhìn thấy những người bạn thân yêu đó nữa.'

Rồi còn những người bạn bị thương. Chị Cân mà tôi vẫn thân mật gọi tên chị là Mỹ, mới mấy tiếng đồng hồ trước đây chị là người đàn bà hạnh phúc nhất đời. Chị có đầy đủ điều kiện mà mọi người đều mơ ước: sắc đẹp, danh vọng, tiền và tình yêu nồng thắm của anh Cân. Bây giờ chị là người bất hạnh nhất. Chồng chết và khuôn mặt xinh đẹp của chị đã bị tàn phá bởi những mảnh mìn độc ác. Chưa kể những đau đớn về thể xác mà chị phải chịu trong thời kỳ dưỡng thương.

Rồi còn Mai Hương, người ca sĩ mà tôi rất yêu mến, đang nằm sóng soài trên sân khấu, không biết tình mạng sẽ ra sao. Rồi Khánh Ly và gia đình anh em Tuấn Ngọc. Rồi còn bao nhiêu khán thính giả của phòng trà Tự Do có mặt đêm nay nữa. Bao nhiêu gia đình mất đi những người thân yêu. Bao nhiêu người sẽ biến thành người tàn tật?

Hôm sau tôi đi đến nhà xác thăm những người bạn vừa mới ra đi tức tưởi đêm hôm trước. Cảnh tượng ở đây còn làm tôi kinh khiếp hơn. Xác người nằm la liệt. Không hiểu vì không đủ chỗ trong phòng lạnh để chứa xác chết hay sao mà người ta để người chết nằm cả xuống sàn, ra cả ngoài hàng hiên. Mỗi xác người được đặt cạnh một cây nước đá thật lớn (quý vị còn nhớ loại nước đá thật to ở Sài Gòn ngày xưa chứ?). Nghe nói số người chết lên đến hơn 60 người và số bị thương gần 200 người.

Rời nhà xác tôi vừa đi vừa khóc như một người điên. Tôi chạy qua nhà thương thăm Mỹ. Chị nằm đó với lớp băng trắng quấn che gần hết khuôn mặt. Nước mắt tôi lại chảy. Tôi nhìn bạn lòng xót xa vô cùng. Không biết Mỹ đã biết tin người chồng thân yêu, ông anh ruột và bà chị dâu đã vĩnh biệt Mỹ rồi không? Nước mắt tôi cứ tuôn trào như một dòng suối nhỏ không sao ngăn lại được.

Về đến nhà thì hai mắt tôi sưng húp như hai quả bàng nhỏ. Tôi vớ tờ báo đọc vội vàng, sau khi biết tin Mai Hương và các ca sĩ không ai bị thương nặng hay chết cả, tôi mới vui được một chút. Tôi định giấu nhẹm không cho chồng tôi biết vụ tôi đi nghe nhạc ở phòng trà buổi tối, mà dám cả gan mang cả con gái mới 5 tuổi đi theo. Nhưng báo chí đã loan tin tùm lum hết, chẳng biết ở đâu mà họ mò ra cả tên tuổi của tôi. Cho nên chỉ mấy tiếng đồng hồ sau, tôi đã bị ông chồng từ Vũng Tàu gọi về “ca cải lương” cho tôi nghe mệt nghỉ.

Tôi bị chồng la là phải, nghĩ lại tôi mới thấy tôi liều. Ham nghe Mai Hương, Tuấn Ngọc, Khánh Ly quá (lúc đó Khánh Hà, Anh Tú còn quá trẻ nên chưa nổi tiếng mấy) đến nỗi mang cả con bé đi theo. Nghĩ lại tôi thấy mình quá may mắn. Nếu hôm đó cháu Uyển Diễm không mặc váy ngắn, không bị lạnh, và tôi không vừa bế cháu vào lòng, ôm chặt cho nó đỡ lạnh. Nếu cháu vẫn ngồi trên ghế một mình, thì sức nổ mạnh của trái mìn claymore chắc chắn đã làm cháu chết hoặc bị thương rồi. Và như vậy tôi sẽ phải ân hận suốt đời.

Mai Hương và tôi có duyên nợ với nhau, nên từ ngày lưu lạc qua đất Mỹ, hai chúng tôi lại có cơ hội gặp gỡ và trở nên thân thiết. Sau này nhắc lại vụ nổ ở phòng trà Tự Do, hỏi thăm Mai Hương tôi mới biết, tối hôm đó Mai Hương đã bị cái bóng đèn trên trần sân khấu rơi trúng đầu, làm cháy một ít lông mi ở bên mắt trái và bị thương nhẹ ở khóe mắt. Có thể vì sợ quá nên Mai Hương ngất đi một lúc. Tỉnh dậy Mai Hương nghe tiếng Khánh Ly gọi ầm ĩ, “Chị Mai Hương đâu, chi Mai hương có sao không?”

Phòng trà vẫn tối mờ mờ vì hệ thống điện bị hư nhiều chỗ, nên Khánh Ly không nhìn thấy Mai Hương nằm xỉu trên sân khấu. Mai Hương tỉnh dậy thì anh Dục chồng Mai Hương cũng vừa đi tới. Áo chemise của anh ướt đẫm máu làm Mai Hương lo sợ tưởng anh bị thương. Anh cho biết đó là máu của người ngồi bên cạnh bị thương bắn vào áo anh. Anh Dục dìu Mai Hương ra về.

Trên đường ra cửa, Mai Hương thấy xác của nữ tài tử Thúy Ngọc- vợ của nhạc sĩ Lê Văn Thiện - nằm sóng xoài. Ba người cháu của Mai Hương từ Nha Trang vào chơi, đi nghe nhạc cũng bị thương nhẹ. Ra tới ngoài đường, anh Dục và Mai Hương hốt hoảng khi nhìn thấy cái mui vải của chiếc xe hơi La Đà Lạt của hai vợ chồng đang bốc cháy, vì anh Dục đậu ngay góc đường gần sát phòng trà.

Có một điều cho đến bây giờ Mai Hương vẫn không hiểu được là tại sao hôm đó trong ví của Mai Hương lại có mảnh vỡ của đáy ly rượu nằm gọn bên trong, dù cái ví vẫn đóng kín. Ở đời có rất nhiều điều không thể hiểu và không cắt nghĩa được. Chẳng hạn như cả nhóm bạn chúng tôi ngồi sát cạnh nhau, cùng một giẫy ghế. Vậy mà kẻ sống, người chết, kẻ bị thương, người bình yên vô sự. Có phải Thượng Đế đã dành sẵn cho mỗi người một số mệnh rồi không?

Những người chết chưa chắc đã xui xẻo, bởi vì họ chết thật nhanh, không cảm thấy đau đớn. Chết trong lúc đang thưởng thức những giòng nhạc thật hay cũng sướng lắm chứ. Sau này tôi nghe nói Việt Cộng đặt mìn ở phòng trà Tự Do chủ tâm để giết ông tướng McNamara của Mỹ, vì tưởng tối hôm đó ông ta sẽ đến thăm phòng trà Tự Do. Không ngờ phút chót ông ta đổi ý, lại đi một nơi khác.

 *

Sau vụ nổ ở phòng trà Tự Do, tôi đã tự nhủ lòng: Ngày nào cũng có thể là ngày cuối cùng trong cuộc đời, bởi vậy hãy sửa soạn sẵn sàng. Cố gắng làm những điều lành, điều tốt, để bất cứ lúc nào Thượng Đế gọi là thơ thới ra đi. Không có gì phải ân hận hay lo sợ.

Tôi và Mai Hương thường nói đùa với nhau “mạng chúng mình lớn lắm, mìn claymore mà còn phải né cơ mà.”

(Tác giả Hồng Thủy là cựu học sinh trường Trưng Vương.)

 

Nam Mai st tổng hợp

 

Xem thêm...

Chiếc đòn gánh... cuộc đời

Chiếc đòn gánh... cuộc đời

 Buôn gánh - Báo Người lao động

Trong cuộc sống cần lao của người Việt xưa, chiếc đòn gánh kĩu kịt trên vai luôn gắn liền với bóng dáng tảo tần, lam lũ, chịu thương chịu khó của người phụ nữ.

 

Nét đẹp dung dị, đời thường ấy từng được nhà văn Mỹ E.Shillue hứng thú ghi lại một cách vừa chân thực vừa đậm chất nghệ thuật: “Bà bán hàng rong mang trên vai một vật lãng mạn nhất ở phương Đông - cái đòn gánh. Bà nhẹ nhàng nhún nhảy bên phải bên trái đi ra khỏi ngõ”.

Chẳng rõ cái vật “lãng mạn nhất ở phương Đông” ấy có tự bao giờ. Chỉ biết được rằng, lịch sử đất nước hàng nghìn năm luôn in đậm hình ảnh các bà, các mẹ, các chị gánh gồng ngược xuôi qua biết bao gian nan, thử thách. Chiếc đòn gánh là sản phẩm được kết tinh từ nền văn hóa nông nghiệp và sức sáng tạo của trí óc cùng đôi bàn tay khéo léo của giai cấp cần lao. Thoạt trông chiếc đòn gánh có vẻ ngoài thô cứng, đơn giản vậy nhưng mấy ai biết được rằng, để làm ra được sản phẩm ưng ý, phục vụ được nhu cầu thiết yếu trong lao động sản xuất thì đòi hỏi người thợ phải rất tỉ mỉ, chau chuốt.

Image may contain: one or more people, shoes and outdoor

Ngay từ khâu lựa chọn nguyên liệu, người thợ cẩn thận tìm những gốc tre già và thẳng, không bị sâu bệnh rồi ngâm dưới nước khoảng hai tháng trước khi làm. Gốc tre sau khi ngâm được người thợ pha thành mảnh, vót nhẵn hai bên cạnh và các mắt tre cho bề mặt đòn gánh nhẵn nhụi, đẹp mắt. Tại mỗi đầu của thanh tre sẽ được khắc rãnh sâu, tạo thành cái mấu để làm chỗ treo quang gánh. Vị trí khắc rãnh ở hai đầu đòn gánh phải cân xứng với nhau mới có thể đảm bảo độ cân bằng. Cũng như chiếc đòn, đôi quang gánh được làm từ các vật dụng như: Cật tre, mây già hoặc bện từ dây thừng, dây thép... Để tăng thêm tính thẩm mỹ và độ bền, chắc của chiếc đòn gánh, người ta có thể mang chúng hong khô bằng cách phơi nắng hoặc hun khói trên bếp lửa. Một lưu ý rất quan trọng khi làm đòn gánh, đó là độ dẻo dai. Nếu đòn gánh quá cứng thì người gánh lâu sẽ rất đau vai, mềm quá thì sẽ không đỡ được trọng lượng hai đầu, dễ bị gãy. Bởi vậy, chiếc đòn gánh đạt yêu cầu thường phát ra tiếng “kĩu cà, kĩu kịt” rất vui tai. Quan trọng hơn, chính cái sự dẻo dai ấy đã góp phần làm nên nét duyên dáng, mềm mại, uyển chuyển của người phụ nữ Việt ngay cả khi họ đang phải lao động hăng say, cật lực, tất tưởi với gánh nặng mưu sinh.

 

Nếu người phương Tây khi lần đầu tiên nhìn thấy hình ảnh người phụ nữ Việt thoăn thoắt ngược xuôi với chiếc đòn gánh trên vai sẽ ít nhiều mang đến cảm giác lạ lẫm xen chút thú vị, ngạc nhiên. Nhưng trong tiềm thức mỗi người dân trên mảnh đất hình chữ S này, hình ảnh ấy lại thân thuộc, gần gũi đến nao lòng. Chiếc đòn gánh theo bước chân người phụ nữ Việt đi vào ca dao, tục ngữ:

“Cất cây đòn gánh đi ra

Chờ cho tan chợ, về nhà tối thui

Về nhà, con đói ngủ vùi

Dầu đèn không có, cực ơi bớ chồng”.

Theo phương châm “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, những người bà, người mẹ, người chị, người em vốn chỉ quen với công việc đồng áng, chợ búa thường ngày nay hăng hái quảy gánh xông pha phục vụ chiến trường. Hậu phương em đây gánh gánh gồng gồng, tiếp lương, tải đạn cũng chỉ bằng chiếc đòn gánh thô sơ, quen thuộc nhưng thấm đẫm tinh thần, ý chí, nghị lực, sáng ngời tâm hồn, cốt cách người phụ nữ Việt Nam.

Khi chiến tranh lùi xa, nước nhà độc lập, chiếc đòn gánh ấy lại tất bật khắp các nẻo đường, vất vả sớm hôm vật lộn với cuộc sống mưu sinh: “Bóng người thấp thoáng cuối đường thanh vắng/ Bước đều mà quang gánh ư nặng vai”.

(Gánh lúa – Phạm Duy).

Có những khi, chiếc đòn gánh trên vai người phụ nữ không chỉ thấm đẫm mồ hôi mà còn mặn mòi nước mắt:

Những đôi quang gánh |

Cái cò lặn lội bờ sông

Gánh gạo nuôi chồng, tiếng khóc nỉ non

- Nàng về nuôi cái cùng con

Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng”.

Đặc biệt, hình ảnh chiếc đòn gánh khiến chúng ta luôn đau đáu, khắc khoải nghĩ về đức hy sinh của người mẹ. Có lẽ, trong tâm thức những đứa trẻ sinh ra từ làng không sao quên được kỷ niệm thuở nhỏ cùng mẹ rong ruổi khắp nơi trên đôi quang gánh nhọc nhằn. Từ những con đường làng, nơi triền đê lộng gió, đồng làng bát ngát cánh cò bay, góc chợ rộn ràng bán buôn... Thân cò là mẹ, biển trời ăm ắp tình thương yêu dành cho con cũng là mẹ. Ấy vậy mà, suốt những năm tháng gánh gồng đứa con thơ dại, mẹ chẳng bao giờ cất lời than vãn, kể lể với ai. Niềm vui, niềm hạnh phúc của con được đắp đổi từ tình yêu thương, đức hy sinh lớn lao của mẹ. Bằng đôi vai gầy, mẹ gánh cả tuổi thơ con: “Cho con gánh mẹ một lần/ Cả đời mẹ đã tảo tần gánh con/ Cho con gánh mẹ đầu non/ Cả lòng mẹ đã gánh con biển trời” (Gánh mẹ). Như chiếc đòn gánh luôn bền bỉ, kiên trì, nhẫn nại, chăm chỉ làm việc, mẹ hy sinh cả một đời để vun vén hạnh phúc cho gia đình, cho chồng, cho con: “Đòn gánh tre chín dạn hai vai” (Văn chiêu hồn - Nguyễn Du). Trước đức hy sinh cao cả ấy, ngay cả bậc vĩ nhân hay những con người tài hoa bậc nhất vẫn không khỏi cảm thấy yếu lòng, thấy mình nhỏ bé, khờ dại, vô tâm và vô ơn với mẹ. Đúng như lời tâm sự chân thành, sâu sắc của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn:

Sài Gòn trên những đôi quang gánh - Printable Version

“Mất má rồi mới biết rằng tất cả chúng tôi đều là những đứa con bất hiếu. Chúng tôi chưa đền đáp được một mảy may gì cho má cả. Đã trễ rồi, không còn cơ hội nào nữa để chúng tôi có thể chung nhau mang đến cho má một niềm vui hiếm hoi.

Mất má rồi tôi mới biết rằng không bao giờ được phép hờ hững với những ân huệ mà cuộc đời đã cho ta. Phải biết chào trả lại kịp thời trước những lời thăm hỏi bởi vì cái vẫy tay thân ái nào cũng có thể là cái vẫy tay sau cùng. Chúng tôi đã chuẩn bị quá muộn để đáp lại một ân huệ trời cho là sự yêu thương của má tôi” (Mẹ).

Ngày nay, dẫu cuộc sống đã phần nào bớt đi những nhọc nhằn, lam lũ; nhiều phương tiện, công cụ tiên tiến, hiện đại được ứng dụng góp phần “giải phóng sức lao động của đôi vai”. Tuy nhiên, đâu đó quanh mình, hình ảnh các bà, các mẹ... quẩy gánh bán buôn trong các phiên chợ quê hay những gánh hàng rong len lỏi giữa phố tấp nập vẫn luôn là biểu tượng đẹp cho cốt cách, tinh thần của người phụ nữ Việt Nam:

Chùm ảnh: Những gánh hàng rong bình yên giữa Sài Gòn hối hả

 

“Da xương bào cật tre mòn/ Trăm năm mẹ gánh đời con qua đèo/ Gánh yêu thương, gánh khổ nghèo/ Gánh mơ ước lẫn gieo neo đi – về.../ Gánh bình minh lội bến quê/ Gánh hoàng hôn dọc chân đê bước dồn/ Gánh trăng khuya giếng đầu thôn/ Gánh than lửa chạy qua cồn cát trưa.../ Một đời gánh nắng và mưa/ Mòn vai mà mẹ vẫn chưa yên lòng/ Một đời gióng đứt đòn cong/ Vì ai vai lệch lưng còng? Mẹ ơi!” (Cây đòn gánh – Nguyễn Vân Thiên).

 

Nguyên Linh

Cây đòn gánh  –  Nguyễn Vân Thiên

Cây đòn gánh – Nguyễn Vân Thiên

Lưng cây đòn gánh mòn trơn
Lời tre khô nhắc công ơn mẹ già

Chợ chiều chợ sớm bôn ba
Hái gieo tất bật đồng xa đồng gần
Bán than mua muối tảo tần
Bao lần xuống biển bao lần lên non
Da xương bào cật tre mòn
Trăm năm mẹ gánh đời con qua đèo
Gánh yêu thương, gánh khổ nghèo
Gánh mơ ước lẫn gieo neo đi - về...
Gánh bình minh lội bến quê
Gánh hoàng hôn dọc chân đê bước dồn
Gánh trăng khuya giếng đầu thôn
Gánh than lửa chạy qua cồn cát trưa...
Một đời gánh nắng và mưa
Mòn vai mà mẹ vẫn chưa yên lòng
Một đời gióng đứt đòn cong
Vì ai vai lệch lưng còng? Mẹ ơi!

DAO NGUYEN 1948: CHIẾC ĐÒN GÁNH

 

Kim phượng st

 

 

 

 

Xem thêm...

Con gái Hà Nội xưa dưới góc nhìn của một người con Sài Gòn

Con gái Hà Nội xưa dưới góc nhìn

của một người con Sài Gòn

Hh1

 Mẹ tôi nể phục mấy cô gái Hà Nội lắm. Dưới con mắt của người nhà quê ra Hà Nội làm việc vặt, bà thấy các thiếu nữ nơi đây ứng xử khôn khéo, nói năng lễ độ, và khuôn phép lắm. Đó là chưa kể thêu thùa may vá, nữ công gia chánh… Nói chung là đảm. Mỗi khi thấy mấy cô Sài Gòn tân thời quá, tự nhiên quá, bà lại chép miệng, con gái Hà Nội đâu có thế. Bà nói riết, nói riết… khiến tôi ngờ… bà muốn thằng con của bà nên đi tìm một thiếu nữ Hà Nội.

Nhưng thế giới của tôi lại khác. Tôi sinh ra ở Sài Gòn, lớn lên ở Sài Gòn, bạn bè Sài gòn, trong đầu tôi, nếu có, cũng chỉ là con gái Sài Gòn cho hợp… thủy thổ.

Con gái Hà Nội xưa dưới góc nhìn của một người con Sài Gòn - 1

Mà con gái Bắc (di cư 54) hồi đó gớm lắm, vờn qua vờn lại, làm duyên, đá lông nheo, õng ẽo làm điêu đứng con trai Nam Kỳ đến là khổ. Một thanh niên xứ Biên Hòa đã phải cay đắng thế này:

Em nhớ giữ tính tình con gái Bắc
Nhớ điêu ngoa nhưng giả bộ ngoan hiền,
Nhớ khiêm nhường nhưng thâm ý khoe khoang,
Nhớ duyên dáng ngây thơ mà xảo quyệt…

Hương Giang Idol diện áo dài, hóa phụ nữ Hà Nội xưa - Hình 8

Tôi không có ý kiến gì về bài thơ trên, mà cũng chẳng dại gì có ý kiến. Mấy bà mấy cô Bắc Kỳ đọc bài thơ trên có nổi cơn tam bành rủa xả, thì chắc cũng chỉ mình rủa mình nghe thôi, chứ tác giả, nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên chết rồi, chết trong một chiếc xe hơi cũ kỹ ở sân chùa bên California.

Dù sao cũng nên đọc tiếp thêm vài câu nữa mới thấy “cảm thương” cho tác giả:

…Ta vẫn nhớ dặn dò lòng tha thiết,
Nên vội vàng tin tưởng chuyện vu vơ
Nên yêu đương bằng gương mặt khờ khờ
Nên hùng hổ để đợi giờ thua thiệt…

Hh3

Những ngày sau 75, trên tivi Sài Gòn là những đoàn quân “chiến sĩ gái”, bước theo nhịp quân hành, chiếu cận cảnh với đôi mắt rực lửa căm hờn, giọng nói lanh lảnh. Cảm giác đầu tiên của tôi với các cô gái Bắc Kỳ (thứ thiệt) là… ớn lạnh. Tôi cười, “Đấy con gái Hà Nội của mẹ đấy…” Bà cụ lại thở dài, chép miệng… “Hồi trước đâu có thế…”

Dĩ nhiên, mẹ tôi không thể phát hiện cái trò đánh lận rẻ tiền của thằng con, tỉnh bơ xem tất cả các cô Bắc Kỳ đều là các cô Hà Nội.

Thực ra trong đầu tôi cũng có một chút gì đó mơ hồ về con gái Hà Nội. Biết tả thế nào nhỉ! Có thể là hình ảnh dịu dàng đằm thắm của cô Liên trong Gánh Hàng Hoa, hay thiếu nữ tân thời một cách bảo thủ, không sao thoát ra khỏi vòng lễ giáo của cô Loan trong Đoạn Tuyệt. Tôi cảm được nỗi cô đơn của Loan khi thả bộ trên bờ đê Yên Phụ… Đại loại là tôi đã nhìn thiếu nữ Hà Nội qua lăng kính của những tiểu thuyết trong Tự Lực Văn Đoàn mà tôi được học thời trung học.

Con gái Hà Nội xưa dưới góc nhìn của một người con Sài Gòn - 2

Cũng chẳng dừng ở đấy đâu. Khi đọc “Tuấn, chàng trai nước Việt”, một thứ tiểu thuyết hồi ký của Nguyễn Vỹ, tôi biết thêm rằng, các cô nữ sinh Hà Nội cũng lãng mạn ra rít. Họ kín đáo lập ra hội “Ái Tino”. Tino Rossi là ca sĩ người Pháp lừng danh thưở đó, và là thần tượng của vô số thiếu nữ, chẳng riêng gì thiếu nữ Hà thành. Cái “hội” kín đáo, chỉ lèo tèo dăm ba cô thế thôi, nhanh chóng tan hàng, và rồi mạnh ai người nấy tam tòng tứ đức, xuất giá tòng phu, công dung ngôn hạnh… Cái “lãng mạn tân thời” chỉ là đóm lửa, và họ nhanh chóng quay lại với sự thanh lịch, nề nếp theo giáo dục của gia đình.

Năm 1980, lần đầu tiên tôi ra Hà Nội công tác. Anh bạn đồng nghiệp trạc tuổi, tốt nghiệp từ Đông Đức, chở tôi trên chiếc Simson lòng vòng Hà Nội. Nơi đầu tiên tôi muốn ghé thăm là phố Khâm Thiên. Anh bạn tròn xoe mắt, “Làm gì còn hố bom mà ghé thăm”. Tôi chợt hiểu vì sao anh bạn ngạc nhiên, nhưng không thể giải thích. Môi trường giáo dục trong Nam ngoài Bắc khác nhau.

Con Gái Hà Nội Xưa

Cái máu phóng đãng đã dẫn tôi đến phố Khâm Thiên, chứ không phải bom rơi đạn lạc ở đó. Đến, dù chỉ để nhìn vài căn nhà xiêu vẹo, cũng thỏa đôi chút tò mò về một thời vang bóng. Phong lưu tài tử giai nhân, đúng, nhưng không phải cách phong lưu của Vân Hạc trong Lều Chõng của Ngô Tất Tố. Anh chàng Vân Hạc khi chờ kết quả thi, ra vào chốn ả đào để vui say bè bạn, để trấn an nhau, để bốc nhau, để chờ ngày bảng vàng ghi tên.

Tôi nhớ đến kiểu cách phong lưu của Cao Bá Quát, một tay chơi thứ thiệt, khi làm sơ khảo trường thi, tiếc bài thi hay mà phạm húy, đã dùng muội đèn để sửa. Việc lộ, bị kết án giảo giam hậu, ông phải đi dương trình hiệu lực, nghĩa là đi làm phục dịch cho phái đoàn đi công tác nước ngoài. Con người tài hoa này, mang theo nỗi cô đơn đến phố ả đào giải sầu bên chén rượu, làm vài bài hát nói, đào nương hát, mình gõ nhịp…

Con Gái Hà Nội Xưa

Giai nhân nan tái đắc
Trót yêu hoa nên dan díu với tình
Mái tây hiên nguyệt gác chênh chênh
Rầu rĩ lắm xuân về oanh nhớ…

Cũng lần đầu ở Hà Nội, buổi chiều chập choạng tối, lang thang ở phố Huế, tôi thấy một bà đi xe đạp ngược chiều, bị cảnh sát ngoắc lại. Bà năn nỉ thông cảm? Không. Bà phân bua? Không. Bà cãi tay đôi với cảnh sát rằng, nhất định mình đúng. Lương và nhu yếu phẩm phân phối còn không đủ sống, đâu dễ gì chịu nộp phạt. Đôi co với nhau mà cả hai vẫn một mực xưng hô… đồng chí. Tôi phì cười. Hà Nội có những điều không nằm trong trí tưởng tượng của một người Sài Gòn, lần đầu ra Hà Nội như tôi.

Hh4

Bây giờ, Hà Nội khác xa rồi. Hà Nội nhiều nhà cao tầng, cầu vượt. Hà Nội nhiều xe hơi hơn, Hà Nội giàu hơn. Hà Nội không còn những cảnh cãi tay đôi với cảnh sát buồn cười như thế nữa. Hà Nội văn minh hơn, nhưng có thể họ phải “cãi tay đôi” với chính mình, khi mà còn những cảnh thanh niên thiếu nữ “à la mode” hái hoa, giẫm hoa bẻ cành để chụp ảnh, hay gào thét tung hô thần tượng minh tinh Hàn Quốc. Đó là chưa kể bún mắng cháo chửi, rải rác vẫn còn đâu đó. Thương hiệu chăng? Tôi chịu! Ăn ngon mà nghe chửi, thôi thà ăn độn dễ nuốt hơn.

Tôi có bà bạn già (hơn tôi) là dân Hà Nội mấy đời. Cha bà là một trong số rất ít người xong bậc đại học thời Tây. Sau 54, nhà đông con, xoay sở không nổi, ông bố định cho 2 đứa con lớn tạm nghỉ học, đi làm rồi học bổ túc sau. Nhưng bà mẹ thì không, nhất quyết không. Bà đến gặp ông bà bác sĩ nhà bên mượn… tiền để các con tiếp tục ăn học. Họ cùng ở trong thành như bà, không vướng bận con cái, còn chút của ăn của để, đồng ý cho vay tín chấp, một thứ tín chấp tình người, thời nay khó tìm. Tôi hiểu ra, dân trí thức Hà Nội xưa có kiểu chơi “chẳng giống ai” (lúc này). Họ kín đáo giúp đỡ nhau trong những tình huống khắc nghiệt. Trong họ dường như chất “nhân” và lòng tự trọng được rèn luyện qua giáo dục, giấy rách phải giữ lấy lề. Mực đen và bão tố không thể vấy bẩn hay phá sập. Những năm sau 75, trong Sài Gòn tôi cũng thấy vài trường hợp như thế.

 Nhìn Ra Bốn Phương : Gái Hà Nội Xưa Và Nay - Vũ Thế Thành

Bà bạn (già) này, về chuyên môn, thì kiến thức mênh mông chứ chẳng vừa. Ăn nói nhẹ nhàng, nhưng quyết liệt khi cần. Vậy mà cư xử thì cứ dạ dạ,..cám ơn. Bà nói chuyện với tôi cũng thế, cũng dạ dạ… cám ơn. Tôi cười, sao chị khách sáo thế. “Không phải đâu, tôi được giáo dục trong nhà từ nhỏ như thế. Các anh chị em tôi cũng đều như vậy chứ chẳng riêng tôi. Hồi đi học, chỉ vì dạ dạ… cám ơn mà chúng tôi bị phê bình là tiểu tư sản. Ông bà cụ dạy con nghiêm khắc lắm. Tôi là con gái, đi học về là phải tập tành bếp núc, ăn trái chuối là phải bẻ đôi. Ở trường là chuyện khác, còn về nhà là đâu ra đó, vào khuôn phép.” Tôi cũng nhận ra sự “khách sáo chân thành” của bà, chứ không phải khách sáo đãi bôi.

Hh5

Dạo sau này, vì công việc tôi thường ra Hà Nội. Đi ăn hàng với bè bạn ở đó thì không sao, nhưng hễ đi một mình là bị chặt (giá), dù chỉ là chai nước tinh khiết, 10.000 đồng ở quán ven đường phố cổ. Bị chặt riết thành quen. Tôi nhủ thầm, lần nào ra Hà Nội mà không bị chặt coi như trúng số. Dù tôi cũng có vài người bạn thân ở Hà Nội, nhưng giữa tôi và Hà Nội, dường như vẫn còn khoảng cách nào đó. Tôi đến Hà Nội như một kẻ xa lạ, đến như đi nước ngoài không cần visa.

Sài Gòn dễ hội nhập. Cứ ở Sài Gòn là thành người Sài Gòn. Chưa thấy mình là người Sài Gòn, ở lâu thêm chút nữa cũng biến thành người Sài Gòn. Sài Gòn đồng hóa con người nhanh lắm.

Con gái Hà Nội xưa dưới góc nhìn của một người con Sài Gòn - 4

Nhưng Hà Nội có lẽ khác, người ta đồng hóa Hà Nội như vũ bão, đồng hóa cạnh tranh từ nhiều nguồn khác nhau để tạo ra một văn hóa Hà thành hiện đại khó mô tả. Còn người Hà Nội (thứ thiệt) đành phải co cụm, khép kín, và giáo dục con cái theo cách riêng của họ để bảo tồn… di sản. Giáo dục từ gia đình mới tạo ra gốc rễ, chứ không phải là quy tắc ứng xử, hay giàu sang, quyền thế.

Hà Nội nhiều hồ. Hà Nội đẹp vì hồ vào những buổi sáng thật sớm, khi trời còn nhá nhem. Sáng lên, Hà Nội biến mất. Con gái Hà Nội (xưa) chắc cũng thế. Cuộc đời dâu bể đã làm họ biến mất, nhưng thực ra cũng chỉ lẩn quất, âm thầm đâu đó thôi.

Thiếu nữ Hà Nội xưa với áo dài Lemur | Áo dài, Phụ nữ, Thời trang

Năm ngoái, đi ngang qua ngõ nhỏ trong khu phố cổ, tôi ghé tiệm tạp hóa mua chai nước lạnh. Bà bán hàng dễ cũng gần 70, đưa chai nước: “Thưa, của ông đây, giá 5.000. Cám ơn ông…” Tai tôi lùng bùng. Trong tiềm thức có cái gì nghe quen quen, đọc đâu đó rồi. Đã dợm chân đi, nhưng cũng quay lại: “Thưa bà, bà là người Hà Nội?”“Vâng ạ, nhà tôi ở ngõ này đã ba đời rồi, từ thời ông nội tôi ra làm quan ở đây”.

Mẹ tôi nói đúng về con gái Hà Nội. Họ hiếm hoi, ẩn mình như giọt nước đọng ở mặt dưới của lá cây sau cơn mưa. Có duyên mới gặp, phải tìm mới thấy.

 

Tác giả: Vũ Thế Thành

 

Kim phượng sưu tầm

 

 

Xem thêm...

" AI CHÁO SƯỜN BÁNH DẦY ĐÂY" _ Hoài Nam Phi

" AI CHÁO SƯỜN BÁNH DẦY ĐÂY"!

 ** Hoài Nam Phi  **

Cháo sườn quẩy


Rét! Cái rét đầu mùa, đầu tháng 10 khiến người ta nhớ về thời xa vắng ấy.

Ngày ấy của những năm 60 của thế kỷ trước, trong lúc nằm co trong chiếc chăn dạ xám đen nặng chình chịch của lính Pháp in dòng chữ 1938, thằng bé nhổm đầu, rồi chồm dậy khi nghe tiếng rao quen thuộc của bà Tuyết Dương nhà ở phố trong:
- Ai cháo sườn bánh dầy đây!
- Ai cháo sườn bánh dầy nào?

Nghe tiếng rao lanh lảnh và deo dẻo của bà Tuyết, nó vội vàng tung chăn nhẩy ào xuống đất, mở chiếc cửa ra vào bằng tre nứa chạy ra ơi ới gọi:
- Bán cho cháu một bát bà Tuyết ơi!

Bà Tuyết hạ gánh cháo bên thềm, một tay ẩy cái mẹt đựng bánh dầy phủ đầy đỗ được xoe nhỏ tơi vàng ươm trên đậy một vỉ buồm đan bằng cói để lộ ra một cái nồi miệng tròn xoe, cổ đứng như cổ áo dài tân thời mà cô Việt Hồng hay mặc, tay kia vớ lấy cái bát chiết yêu, rồi ngoáy nồi cháo và múc lên cho nó một bát cháo đầy bốc khói.

Thấy mắt nó hau háu nhìn mẹt bánh dầy, lại thấy nó nuốt nước bọt ừng ực, bà với tay lấy hai chiếc, dùng cái kéo cắt ra, để lên bát cháo, bà lại dúm một nắm đậu xanh tơi vàng rắc lên bát của nó. Đủ lệ bộ, nó lấy chiếc cù dìa xúc quanh miệng bát rồi cho vào mồm nhai, nuốt ngon lành.

3 hàng cháo sườn vỉa hè đắt khách ở Hà Nội
Thấy nó mua cháo, mấy thằng trẻ con cùng phố như Việt bà Hai Trường, Hoè Quỳnh Mai, Hỷ Đồng bà Kim Chung cũng bắt mẹ cho tiền mua bằng được mỗi thằng bát cháo sườn và hai chiếc bánh dầy rắc đầy đỗ như nó. Cái vị ngọt, đậm của cháo, cái sự mềm dẻo của bánh dầy, vị thơm bùi bùi của đỗ, khiến không đứa nào dám ăn nhanh, mà cứ từ từ, nhẩn nha khoét vòng quanh chiếc bát cháo sườn, rồi đút tỏm vào mồm mà chén như một ông cụ non gãy hết răng vậy. Thằng nọ nhìn thằng kia ăn rồi " Mem mẻm mèm mem, có đứa chết thèm, ra đây tao cho một miếng", chúng chí choé, mặc cho sắp đến giờ đi học.

Bán cho mấy thằng ranh ăn xong để chúng đi học, bà Tuyết khoắng nhanh mấy chiếc bát trong cái chậu rửa bát đặt dưới cái mẹt đựng bát và cùi dìa, rồi lại đặt chiếc đòn gánh tre trên vai chân tập tễnh bươn bải lên đầu phố để bán cho những người khách quen đang đợi bà.

                 *******

Không ai biết nhà bà Tuyết bán cháo sườn từ bao giờ, chỉ biết sau năm 1954 nhà bà đi tản cư về ở phố trong trước cửa nhà ông Giáo Chi và nhà Cậu giáo Hoạt, và chỉ làm độc một nghề: bán cháo sườn, kèm bánh dầy, đúng như tiếng rao của bà mỗi sáng: " Ai cháo sườn, bánh dầy đây", ấy vậy mà gánh cháo của bà khiến cả phố nhớ, thèm được ăn mỗi sáng, nó cũng nuôi sống cả nhà bà hàng chục năm ròng.

Sau chống Pháp, dân tản cư về phố Tam Cờ đông lắm, phần đông là nhà nghèo, phố chỉ có vài nhà " Có máu mặt", đó là mấy nhà buôn, còn lại rặt là nhà làm thợ. Phố chia làm hai, phố trong và phố ngoài. Nhà bà Tuyết ở phố trong, phần lớn là người dưới Xốm, và bà con làng Gốm từ dưới xuôi lên, còn là người Hưng Yên mà bà con quen gọi là người Hương Yên, rồi vài gia đình người tỉnh khác, cùng sống ở phố này, họ làm đủ nghề để sống.

Bà Tuyết, gọi cho chính xác là bà Tuyết Dương, có lẽ ông chồng tên là Dương làm cháo sườn để bán. Cháo của bà khác hẳn những người bán cháo khác chuyên nấu bằng gạo tẻ, trộn một dúm gạo nếp cho nó sánh.

Bà nấu cháo bằng thứ gạo mà dân Mô Cao trồng trên ruộng nhà ông Cả Kỳ cho mướn, chứ không mua gạo nhà bà Chi Chằng chở bằng thuyền từ dưới xuôi lên bán cho cả phố. Được cái thứ gạo mới gặt, xay bằng cối xay lúa do nhà ông Phó Cối ở phố Cầu Lườn đóng, xong giã bằng cối gỗ nghiến hay gỗ nhãn nặng chình chịch, do hai người đạp cho trắng nhưng vẫn còn cám nên gạo rất thơm. Gạo này nấu cơm xong, cơm chỉ cần muối vừng, thậm chí tý nước mắm người thường cũng đánh trôi vài bát, chứ đừng nói đến nấu cháo sườn.
tong-hop-10-cach-nau-chao-ngon-ai-cung-co-the-nau-duoc-8

Bà Tuyết cầu kỳ với nồi cháo của mình lắm. Gạo phải đãi bằng nước giếng trong, cái giếng có từ thời Pháp ở trước cửa nhà ông Tài Đa, cạnh nhà bà Nhung làm đậu phụ, bà Nhung cũng xay đậu tương và nấu đậu bằng nước giếng này. Nước nấu cháo, bà dùng bằng nước sông Lô ở trước đền Hạ, chỗ thuyền rồng rước mẫu Đền Hạ hay đỗ, mà hai thằng con trai bà là thằng Lập và Tài sau giờ đi học xong ra sông gánh về, rồi mới được đi đánh đáo, chơi quay.

Gần tối, bà lấy gạo ngâm vào nước sông Lô, để gạo ngấm nước rồi tải đều ra mấy cái rá lớn cho ráo nước. Trong khi chờ gạo, bà lấy xương ống, xương bay, xương sống rửa sạch cho vào luộc qua cho hết cái bọt bẩn và tanh rồi mới  ninh lấy nước.

Xong phần việc đó đến việc băm thịt.
Con dao của bà phải do ông Giang thợ rèn đánh, sắc lẻm, băm nhát nào ra nhát ấy. Còn cái thớt phải bằng lõi cây gỗ nghiến, mặt phải lồi lên,băm không có mùn, thớt phải do chính ông Đức bừa người Sơn Tây cắt, đẽo, bào mới được, chứ người khác làm bán ối, bà chẳng mua.

Thịt mà bà mua phải là thịt vai của nhà bà Ba Tụng, hay của nhà bà Thông, bà Thoi chứ không phải cái thịt bạc nhạc rẻ tiền, bà bảo thứ thịt này băm ra nấu cháo, dù thịt nhừ nhưng vẫn dai để cho người ta nhá. Lúc nhai, thịt không tan mà nhuyễn ngọt lừ, thấm ngay từ đầu môi, chót lưỡi.

Trần Xuân SoạnẢnh: @daydreammeer

Trước khi đi ngủ, hai thằng con trai bà thay nhau giã hết chỗ gạo đã ngâm, bao giờ bà thấy bột mịn, đem giây bằng cái giây mắt nhỏ li ti mới coi là được. Xong việc hai thằng đi ngủ. Ông ủ bếp ninh xương bảo đảm nồi xương cứ lăn tăn sôi cho đến gần sáng, bà mới yên tâm ngả chiếc lưng hơi còng của bà xuống chiếc giường tre mang từ nơi sơ tán vế.

Khoảng bốn giờ sáng bà dậy hoà đám bột vào nước lã, lọc hết nước ninh xương không để vụn xương, bọt Nước xương dính vào, đổ thịt băm vào rồi cơi lửa cho bén hơn hồi tối. Bà lấy cái muôi múc muối trong cái bồ, rồi đem
tra muối vừa mồm rồi ninh tiếp. Để cho đủ lửa, nước sôi đều đều, bà bắt đầu đổ nước bột vào quấy. Đây là công đoạn quyết định sự thành bại của nồi cháo. Nếu ngơi tay quấy, cháo bén đáy nồi, cháo Khê chỉ đổ đi. Nhưng quấy cháo bằng cái cữ ở tay, rồi quấy đều đều liên tục mà không ngơi nghỉ, để nồi cháo có lớp cháy mỏng ở đáy nồi, bán hết cháo múc lên cháy vàng ươm, cháo vẫn không bị Khê, mùi gạo mới của làng Mô Cao bốc thơm phức, ấy là cái tài điêu luyện của bà, chứng tỏ bà thành công. Đây là điều cực khó làm nồi cháo của bà hơn hẳn những hàng khác không chỉ thơm, còn ngọt của nước xương, đậm nơi đầu lưỡi, beo béo mà không ngấy, ấm cả chân răng mà còn có một lớp cháy mềm dẻo ăn vào bùi bùi như vỏ chiếc bánh mỳ nhà ông Chắn mới ra lò vậy, khiến ối người thích nhấm nháp.

Và bà Tuyết đã quấy cháo như thế ngày này qua ngày khác, năm này qua  năm khác, mà không bà bán cháo nào làm được như bà, khiến bà trở thành nổi tiếng trong các ghánh hàng ăn ở phố chợ Tam Cờ.

Quấy xong nồi cháo, bà bắc nồi cháo
vào cái thúng trong có quây bằng chiếc bao tải gai chuyên dùng để ủ nồi, đạy nắp nồi cháo xong, bà lại đạy lên nồi cháo cái vỉ buồm đan bằng cói để nồi cháo lúc nào cũng nóng, bà mới quay sang xếp bánh dầy lên mẹt.

Top 5 quán cháo sườn ngon nhất Hà Nội

Bánh dầy mà nhà bà Tuyết làm cũng bằng gạo nếp làng Mô Cao. Nghệ thuật giã bánh là một bí mật mà ông chồng bà nắm giữ. Bánh dầy giã xong nó không dính chặt lấy tay như của các nhà khác mà nó mềm, dẻo nhưng không dai, nó dẹt, mang hình bầu dục, chứ không tròn như bánh dầy của mấy nhà bán bánh dầy chả. Ở giữa chiếc bánh được ông tạo dấu vết đặc trưng riêng biệt bằng cách dùng ngón tay cái ấn cho lõm xuống bên trong có nhân đỗ bên ngoài cũng được phủ lớp đậu xanh lên trên khiến các bánh dầy dù xếp nghiêng bên nhau mà không dính chặt lấy nhau, khiến ai trông thấy cũng thèm, đã ăn cháo, phải mua hai cái ăn kèm mới đủ vị. Đỗ của ông rắc trên bánh dầy cũng được ông làm khác người, nó được ngâm nước giếng, nấu nước sông pha chút muối, khi đỗ chín tới, để nguội, cho vào giã tơi, rồi lấy tay xoe đều cho chúng bám vào nhau. Mùi gạo nếp của làng Mô Cao, mùi đỗ xanh của làng Giao quyện vào nhau thơm phức, khiến người nào thấy gánh cháo sườn của bà Tuyết mà không ăn thì lấy làm tiếc lắm.

Đúng 6 giờ sáng bà Tuyết gánh gánh cháo sườn ra khỏi nhà. Trăm sáng như cả trăm, bà đi dọc phố trong xuống bến ô tô, rồi ra phố ngoài, đến đầu nhà Đoan bà ngoặt vào qua cửa nhà ông giáo Nhuận, nhà ông Cả Kỳ, bà Chi Chằng, ông Cả Cò là 9 giờ sáng. Gánh cháo sườn hết bay, nhẹ tênh, khiến một chân tật nguyền làm bà gánh gánh cháo đi tập tễnh bớt hẳn cơn đau nhức.

Chính lúc đó, hai thằng phố ngoài xuất hiện, chúng mua nốt chỗ cháy nồi dẻo, thơm mà lắm thịt đọng lại đáy nồi của bà, chúng cuốn tròn lại kiểu chiếc bánh cuốn rồi chia nhau ăn như ăn bánh mỳ, trông ngon lành, khiến thằng khác trông thấy chảy cả nước bọt.

Cách nấu cháo sườn đơn giản mà vô cùng thơm ngon, bổ dưỡng



Chiếc đòn gánh tre chín rạn hai vai bà Tuyết.

Con đường bà đi qua trong hàng chục năm dòng, cùng với bóng hình người đàn bà nghèo, tập tễnh, lưng còng, và nồi cháo thơm, ngọt, đậm chất xương cứ in đậm trong lòng dân phố Tam Cờ.

Người dân phố Tam Cờ, nhất là lũ trẻ tiếc không được ăn bát cháo thơm, ngọt chất xương, vừa mồm mọi người, nhất là những thằng đam mê ăn cháy cháo sườn của bà Tuyết Dương từ ngày máy bay Mỹ ném bom bệnh viện và Lò gạch chịu lửa quanh thị xã. Nhưng 60 năm sau, hương vị cháo sườn của bà Tuyết ở Tam Cờ Tuyên Quang, vẫn đậm sâu trong tâm khảm mỗi người, khiến cháo sườn Thanh Xuân Bắc của Hà Nội nơi tôi ở hôm nay thua xa không hàng cháo nào sánh được với cháo của bà Tuyết Dương ở phố Tam Cờ thị xã Tuyên Quang của tôi cả, khiến tôi ngơ ngẩn cả người.

AI CHÁO SƯỜN BÁNH DÀY NÀO?


  Hoài Nam Phi

 

Nam Mai sưu tầm

 

Tổng hợp 10 cách nấu Cháo ngon sánh mịn, bổ dưỡng cực đơn giản

Xem thêm...
Theo dõi RSS này