Thế giới quanh ta

Thế giới quanh ta (670)

Tại Sao Mỹ Xài Biểu Tượng Chim Đại Bàng

 Tại Sao Mỹ Xài Biểu Tượng Chim Đại Bàng

Đại Bàng và 7 Nguyên Tắc Sống Bất Di Bất Dịch

       Đại bàng chính là lòai chim thống trị bầu trời, cũng là lòai chim được vinh dự chọn làm biểu tưởng của nước Mỹ, vậy tại sao lòai chim này lại đặc biệt đến vậy, hãy cùng khám phá 7 nguyên tắc sống của đại bàng nhé...

4015 1 TaiSaoMyXaiBTgDBgDHST

Nguyên Tắc 1:

       Đại Bàng bay một mình ở một tầm rất cao, nó không bay với chim sẻ, hoặc chen lẫn vào với các loài chim khác nhỏ hơn như ngỗng, vịt trời.

       Hãy tránh xa những con chim sẻ và quạ hoặc những người khác luôn cản trở và níu kéo công việc của bạn. Đại Bàng bay chỉ với những con Đại Bàng khác

4015 2 MyXaiBieuTuongDaiBgDHST

Nguyên Tắc 2:

       Đại Bàng có tầm nhìn rất xa, có khả năng tập trung vào một cái gì đó lên đến khoảng cách 5 cây số. Khi phát hiện ra con mồi của nó, thậm chí là một động vật gặm nhấm từ xa, nó chú tâm và dành sự tập trung của mình vào con mồi và thiết lập ra cách tiếp cận để bắt được con mồi đó.

       Không có vấn đề gì có thể cản trở được nó, con Đại Bàng sẽ không thay đổi mục tiêu con mồi cho đến khi nó bắt được.

Có một tầm nhìn và tập trung cao độ làm việc thì sẽ không có vấn đề gì trở ngại và bạn sẽ thành công.

4015 3 MyXaiBTgDaiBgDH

Nguyên Tắc 3:

       Đại Bàng không ăn những thứ đã chết. Nó chỉ ăn những con mồi tươi. Kền kền thường ăn động vật chết, nhưng Đại Bàng thì không. Hãy cẩn thận với những gì bạn mắt thấy và tai nghe, đặc biệt là những hoàn cảnh trong các bộ phim và trên truyền hình.

       Chúng ta luôn phải nhớ rằng những cái gì đang tồn tại trong chúng ta sẽ bị cũ đi và sẽ lỗi thời, vì vậy. Luôn luôn làm mới bản thân mình bằng cách học hỏi và thay đổi liên tục.

4015 4 MyXaiBTgDBgDH

Nguyên Tắc 4:

       Đại Bàng rất thích các cơn bão. Là loài chim duy nhất yêu thích các cơn bão. Khi những đám mây xám xịt kéo đến thì đó là lúc những chú chim Đại Bàng rất vui mừng. Đại Bàng sử dụng sức gió của cơn bão để nâng nó bay cao hơn. Một khi nó thấy gió của cơn bão, Đại Bàng sử dụng sức mạnh của cơn bão hoành hành để nâng nó lên trên những đám mây. Điều này cho phép các con Đại Bàng một cơ hội để lướt cao hơn từ đôi cánh của nó. Trong khi đó, tất cả các loài chim khác thường ẩn trong lá, cành, hốc cây.

       Chúng ta có thể sử dụng những cơn bão của cuộc sống để nâng chúng ta lên tầm cao mới. Thưởng thức những thành quả đạt được từ những thách thức và biến những cơn bão cuộc sống thành lợi ích cho chúng ta.

4015 5 MyXaiBTgDBgDH

Nguyên Tắc 5

       Đại Bàng luôn có bài kiểm tra trước khi nó đặt niềm tin vào con khác! Ví dụ: Như khi một con Đại Bàng Cái gặp một con đực và cả 2 muốn giao phối, con Cái bay xuống mặt đất trong khi con đực đang theo đuổi nó. Và nó cắp một cành cây khô và bay trở lại vào không trung cùng với con đực đang theo đuổi nó. Khi nó đã đạt đến một tầm cao mà nó mong muốn thì nó sẽ thả nhành cây, lúc đó nhành cây rơi tự do. Khi đó con đực đuổi theo cành cây này. Con Đực thả mình nhanh hơn so với cành cây đang rơi tự do mà nó đang đuổi. Con đực sẽ bắt lại cành cây trước khi để nó rơi xuống đất. Nó sẽ mang nhành cây đó đưa lại cho con Đại Bàng cái. Tiếp tục con Đại Bàng Cái tiếp tục cắp cành cây này và bay lên với một tầm cao hơn và lại thả cành cây đó lại để cho con đực đuổi theo. Điều này diễn ra đến hàng giờ đồng hồ, với chiều cao ngày càng tăng cho đến khi con Đại Bàng cái được đảm bảo rằng con Đại Bàng đực cam kết đã làm chủ được nghệ thuật nhặt lại cành cây này. Chỉ sau đó, con cái mới cho phép con đực giao phối với nó.

       Cho dù trong cuộc sống riêng tư hay trong kinh doanh, một trong những thử nghiệm cam kết của mọi người dành cho mối quan hệ đối tác trước khi chúng ta hợp tác cùng thành công.

4015 6 MyXaiBTgDBgDH

Nguyên Tắc 6

       Khi đã sẵn sàng đẻ trứng, con Đại Bàng đực và con Cái xác định một vị trí rất cao trên vách đá nơi không có động vật săn mồi có thể tấn công được. Con đực sẽ bay xuống mặt đất và chọn những cành cây khô chắc chắn và đặt chúng trên các kẽ hở của vách đá, sau đó bay trở lại mặt đất một lần nữa để thu nhặt các cành cây nhỏ hơn và xếp vào tổ cần làm.

       Nó bay trở lại mặt đất và chọn các cành cây khô có gai và đặt dưới các lá cây. Rồi nó thu nhặt các đám cỏ mềm để trải trên các cành cây có gai. Khi lớp tổ đầu tiên xây dựng được hoàn thành, Đại Bàng đực bay trở lại mặt đất và chọn cây có gai nhiều hơn, đưa nó vào tổ, nó lại bay xuống mắt đất lấy cỏ để phủ lên các cành cây có gai, sau đó rũ lông của mình lên để hoàn thành tổ.

       Các gai ở bên ngoài của tổ bảo vệ nó khỏi những kẻ xâm nhập vào tổ. Cả hai con Đại Bàng đực và cái tham gia trong việc bảo vệ Đại Bàng con. Con cái có nhiệm vụ đẻ trứng và bảo vệ chúng, Con đực xây dựng tổ và đi kiếm mồi. Trong thời gian dạy cho những con Đại Bàng con tập bay, Đại Bàng mẹ ném những con Đại Bàng con ra khỏi tổ. Bởi vì các con non đang sợ hãi, nó sẽ lại nhảy vào tổ.

       Tiếp theo, Đại Bàng mẹ ném chúng ra lại và sau đó nó tiếp tục trút bỏ hết các lớp mềm lót trong tổ, để lại các gai trần. Khi các Đại Bàng con sợ hãi và một lần nữa nhảy lại vào tổ thì chúng bị vết chích bởi các gai. Nó thét lên và bị chảy máu. Nó phải nhảy ra khỏi tổ và trong lúc này nó tự hỏi tại sao mẹ và người cha yêu thương nó rất nhiều bây giờ lại tra tấn nó.

       Tiếp theo, mẹ con Đại Bàng đẩy chúng ra khỏi vách đá vào không trung. Khi tiếng thét trong sợ hãi, Đại Bàng cha bay ra ngoài và bắt chúng trở lại trước khi nó bị rơi và đưa chúng trở lại vào vách đá. Điều này sẽ diễn ra liên tục cho đến khi các con Đại Bàng con có thể bắt đầu vỗ cánh và bay được. Nó cần phải tiếp thu những kiến thức này thì mới có thể bay được.

        Việc chuẩn bị dạy chúng ta những thứ cần thay đổi, việc dạy dỗ của gia đình chúng ta cùng với sự tích cực học tập của bản thân sẽ dẫn đến thành công, việc bị chích bằng các gai nhọn cho chúng ta biết rằng đôi khi quá thoải mái, khi chúng ta cần kết quả hoặc không. Chúng ta không được trải nghiệm cuộc sống, không phát triển và không học tập được những gì từ cuộc sống. Gai của cuộc sống đến để dạy chúng ta rằng chúng ta cần phải phát triển, hãy ra khỏi tổ và sinh sống. Chúng ta có thể không biết nó, nhưng thiên đường dường như cảm thấy thoải mái và an toàn vẫn có thể có gai.

       Những người yêu thương chúng ta không để cho chúng ta suy yếu, lười làm việc và hãy đẩy chúng ta vào con đường khó khăn để chúng ta có thể phát triển và thịnh vượng. Ngay cả trong hành động của họ dường như làm khó hay gây khó khăn cho chúng ta nhưng thực ra đó là những ý định tốt của họ dành cho chúng ta.

4015 7 MyXaiBTgDBgDHST

Nguyên Tắc 7

       Đại Bàng chuẩn bị cho tuổi già … Khi Đại Bàng trở nên già nua, lông của chúng trở nên yếu và không thể giúp nó còn nhanh nhẹn như trước. Khi nó cảm thấy yếu và sắp chết, nó tìm đến một một nơi xa trong đá. Ở đó, nó nhổ hết tất cả lông trên cơ thể của mình cho đến khi nó rụng hoàn toàn sạch lông. Nó ở lại trong nơi ẩn náu cho đến khi cơ thể đã phát triển mới lông, sau đó nó mới có thể ra khỏi hang và trở lại cuộc sống.

      Thỉnh thoảng chúng ta cần phải rũ bỏ những thói quen cũ và các cám dỗ đem lại gánh nặng cho chúng ta, những thứ không cần thiết trong cuộc sống của chúng ta.

 

Nguồn Internet - ĐH ST

***

2- K.Cứu : Học Đại Bàng Cách Đối Diện Với Giông Bão Trong Cuộc Đời: THAY ĐỔI HOẶC LÀ CHẾT!

4015 8 HocDaiBangDHST

       Trong số tất cả các loài vật, Đại bàng có lẽ là loài để lại nét đặc biệt nhất cho những ai biết được câu chuyện về chúng.

       Không chỉ bởi thứ quyền lực toát ra từ chúng, mà hầu hết bất kỳ loài động vật nào cũng phải e dè. Không chỉ bởi ánh mắt, đôi cánh rộng mạnh mẽ, hay sự tự do tự tại của chúng. Mà bởi vì, trước khi trở thành một con Đại bàng trưởng thành to lớn dũng mãnh, chúng đã trải qua một quá trình sống, và lột xác không mấy nhẹ nhàng mang tên: Thay Đổi Hoặc Là Chết !

       Mỏ và móng vuốt của Đại bàng mọc liên tục giống như tóc và móng của người vậy, nên khi sống đến 40 tuổi, những móng vuốt dài và linh hoạt của Đại bàng không còn đủ sức tóm giữ con mồi làm thức ăn nữa. Đôi cánh của chúng cũng trở nên vô cùng nặng nề bởi bộ lông vũ vừa dài, vừa dày, khiến chúng tốn rất nhiều sức lực mỗi khi cất cánh.

       Lúc này Đại bàng chỉ còn hai sự lựa chọn: hoặc ngồi chờ chết, hoặc là trải qua một quá trình đổi mới cực kỳ đau khổ kéo dài 150 NGÀY . Quá trình này đòi hỏi Đại bàng bay lên đỉnh núi, và ngồi trên tổ của mình. Đó là nơi không có một loài vật nào có thể đến được, ngoại trừ Đại bàng và Thần chết, bởi trước mặt chúng là đại dương mênh mông, còn dưới chân thì là vách đá dựng đứng.

       Tại đây Đại bàng sẽ dùng mỏ của mình mổ vào đá cho đến khi chiếc mỏ rụng xuống, yên lặng chờ đợi cho mỏ mới mọc dài ra. Sau đó nó phải dùng chiếc mỏ mới dài ra đó nhổ đi từng cái móng vuốt của mình. Khi móng vuốt mới đủ chắc, nó lại phải tự nhổ sạch đi từng sợi lông cũ già cỗi. Và sau 5 tháng, Đại bàng lại có thể tiếp tục những chuyến bay lượn tuyệt vời của sự hồi sinh, và sống thêm 30 năm nữa. Đây quả là một quá trình lột xác đầy đau đớn mà chắc chắn, nếu không có một ý chí kiên cường sẽ không thể nào vượt qua nỗi …

4015 9 HocDaiBangDH

ĐỐI ĐẦU VỚI CƠN BÃO .

       Bạn có biết rằng: một con Đại bàng biết trước một cơn bão sắp đến từ rất lâu? Đại bàng không chạy trốn bão, nhưng bạn có biết nó sẽ làm gì khi bão đến?

       Nếu như tất cả mọi loài vật khác đều chạy trốn cơn bão, thì Đại bàng sẽ bay lên đỉnh núi thật cao, rồi đứng chờ cơn gió. Khi cơn bão đến, nó sẽ mở rộng đôi cánh để gió nâng nó lên cao hơn cơn bão. Đối với Đại bàng, cơn bão không hề là một điềm dữ, mà là một đòn bẩy, một cơ hội để nó có thể bay thật cao lên bầu trời, để ngắm nhìn vạn vật dưới một góc độ khác với ngày thường.

4015 10 HocDaiBangDH

SUY NGẪM

       Câu chuyện của Đại bàng cho ta thấy một bài học sâu sắc rằng: muốn bước tiếp, muốn làm mới cuộc đời mình, bạn phải chấp nhận thay đổi, đó có thể là một sự thay đổi đầy đau đớn, khi ta phải giũ bỏ những điều không tốt đã tồn tại quá lâu, chất chồng trong những năm tháng dài dẵng của cuộc đời.

       Không ai có khả năng xử lý hoàn hảo mọi vấn đề họ gặp phải. Chúng ta cũng không thể ngay lập tức mà giải quyết trọn vẹn một khó khăn, bởi chúng ta không sinh ra để làm như vậy. Trên thực tế, chúng ta sinh ra để thất vọng, buồn chán, đau khổ, và vấp ngã. Bởi vì đó là toàn bộ mục đích của cuộc sống – đối mặt với vấn đề, học hỏi, thích nghi, và xử lý chúng. Chính điều này đã rèn luyện chúng ta trở thành con người như chúng ta hiện nay.

       Những khó khăn trong cuộc sống của chúng ta cũng giống như những cơn bão vậy. Thế nên mỗi khi gặp khó khăn, bạn hãy giống như Đại bàng, đừng lẩn tránh. Hãy đối mặt với cơn bão rồi để chúng nâng bạn lên trên, và cảm nhận sức mạnh của bản thân khi bạn có thể vượt lên hoàn cảnh.  Khó khăn sinh ra trong cuộc sống chính là cơn bão để có thể vùi lấp bạn, hoặc nâng bạn lên, điều đó phụ thuộc vào bạn có giang rộng đôi cánh của mình như Đại bàng không mà thôi.

Phong Vân.   

Nam Mai sưu tầm

Mười hai Biểu tượng nước Mỹ & Những ý nghĩa | Gia Đình Khóa 1 Cựu SVSQ Học  Viện CSQG

Xem thêm...

Chợ ở Sài Gòn trước 1975 phản ánh chân thật về đời sống

Chợ ở Sài Gòn trước 1975 phản ánh chân thật về đời sống

▂ ▃ ▅ ▆ █☆★█ ▆ ▅ ▃ ▂

 BM

Một bài sưu tầm về các khu chợ ở Sài gòn ngày xưa thật đa dạng và phong phú! Nhìn vào sự nhộn nhịp, tấp nập với đủ các loại hàng hoá đã nói lên cuộc sống đầy đủ và phồn thịnh của người dân Sài gòn nói riêng và của tất cả người dân miền Nam Việt Nam trước 1975. Điều này cho chúng ta một câu trả lời rất rõ ràng đối với cộng sản miền Bắc là nhân dân miền Nam Việt Nam chưa bao giờ cần bọn họ đến với cái gọi là “giải phóng miền Nam”!

Người ta bảo chợ là nơi phản ánh chân thực nhất về cuộc sống. Vì thế, muốn biết sự thay đổi chân thực nhất về nhịp sống của người Saigon xưa, hãy tìm đến chợ…

Dưới đây, Thời xưa xin được biên tập gửi đến quý vị độc giả những bức ảnh sinh động về những khu chợ để quý vị cùng hiểu rõ hơn về cuộc sống của người Saigon xưa.

 

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

Một người mua sắm mang theo hàng hóa mua ở chợ đen, được đem ra bán là chuyện thường thấy ở Sài Gòn, miền Nam Việt Nam, ngày 15 tháng 8 năm 1970. Trong Chiến tranh Việt Nam, thành phố này chứng kiến một thị trường chợ đen phát triển mạnh, buôn bán các mặt hàng do Quân đội Hoa Kỳ cấp cho quân nhân và nhân viên dân sự Mỹ ... làm việc tại miền Nam Việt nam, cũng như các mặt hàng nói chung của nước ngoài.

 

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

Saigon 1968. Cảnh những khu chợ nhỏ mọc lên trên khuôn viên ngôi nhà thờ được dùng làm nơi tạm cư cho hàng ngàn nạn nhân chiến cuộc đã mất hết nhà cửa.

 

BM

Những người dân tị nạn bán khoai lang, bánh mì và các thứ hàng khác. Những ngôi nhà thờ, thánh đường, trường học và đền chùa đã được dùng làm các trung tâm tị nạn cho rất nhiều người đã trở thành vô gia cư bởi cuộc tổng tấn công mùa Xuân của việt cộng.

 

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

BM

 

BM

BM

BM

BM

 

Ngọc Lan sưu tầm

 

 
Xem thêm...

Sau Ngày “Father’s Day”

Sau Ngày “Father’s Day”

Tác Giả Lê Đức Luận

Lê Đức LuậnTác giả lần đầu tham dự VVNM với bài “ Ngẫm ra mới thấy thèm”  . Tốt nghiệp Khóa 1 Trường ĐH/CTCT/ Đà Lạt. Trước năm 1975: Sĩ quan, làm việc trong Ủy Ban Binh Thư - Tổng Cục/CTCT/QL VNCH  – Sài Gòn. Sau năm 1975: Bị “Tập trung cải tạo” 7 năm. Sang Mỹ năm 1986 -Thỉnh thoảng viết bài đăng trên các Đặc San: Ức Trai, Biệt Đông Quân, Chiến Sĩ Cộng Hòa. Đây là bài thứ hai.

***

Tính đến nay, ông Hiền đã định cư ở Mỹ trên hai mươi lăm năm, theo diện HO. Chúng tôi quen nhau từ khi gia đình ông đến ở cùng một khu chung cư. Ông hiền như cái tên cha mẹ ông đặt để. Trước năm 1975, vợ ông làm cô giáo - tốt nghiệp trường Sư phạm Qui nhơn. Ông bà có bốn đứa con trai. Có lẽ đã quen với lối sống chừng mực và lễ giáo nên bà đã dạy dỗ mấy đứa con đi vào nền nếp, học hành chăm chỉ và rất lễ phép làm cho mọi người trong chung cư đều quí mến. Riêng gia đình tôi và gia đình ông Hiền kết thân từ dạo mới quen biết nhau.

Những ngày đầu định cư ở Mỹ, ai cũng trải qua một giai đoạn bỡ ngỡ, khó khăn. Gia đình ông bà Hiền không ngoại lệ. Nhưng rồi với sự cần cù, nhẫn nại và cố vươn lên trên vùng đất mới có nhiều cơ hội, gia đình ông bà Hiền đã sớm được ổn định. Ông Hiền xin được việc làm ở hãng EG&G (Perkinelmer), bà vợ xin làm việc bán thời gian (part time) ở tiệm Seven Eleven (7/11) gần nhà để có thì giờ chăm sóc, dạy bảo mấy đứa con. Ông bà Hiền có cùng suy nghĩ: “tương lai của các con là tương lai của đời mình”, nên hết lòng “đầu tư” vào việc học hành cho bọn trẻ.

Tháng ngày trôi qua nhanh chóng, bốn đứa con qua bậc Trung học dễ dàng với điểm thi SAT khá cao, nên lần lượt vào được các Đại học khá nổi tiềng ở Hoa Kỳ. Khi bốn đứa con đều tốt nghiệp Đại học thì tuổi đời của ông bà đã xế bóng. Ông bà mãn nguyện, vui mừng nhìn thấy tương lai tốt đẹp của các con và bây giờ mới nghĩ đến chuyện an hưởng tuổi già.

Những năm đầu ở Mỹ, chưa quen với những ngày lễ như: Father’s Day, Mother’s Day, Happy Birthday, Thanksgiving… nên khi thấy người dân bản xứ hay các đồng hương đã định cư lâu năm tổ chức vui chơi, ăn uống, chúc tụng và tặng nhau quà cáp  … ông Hiền bảo: “phú quý sinh lễ nghĩa”. Với ông chỉ có những ngày giỗ Ông Bà và ngày Tết Nguyên Đán là quan trọng.

 
Nhưng dần dà, ông Hiền nhận thấy những ngày lễ lạt ở Mỹ đượm nét nhân văn và thực tế. Các con ông lớn lên và hấp thụ nền văn hóa thực tiễn đó. Ngày Sinh nhật, ngày Lễ Cha (Father’s Day), Lễ Mẹ (Mother’s Day), ông bà nhận được thiệp chúc mừng với những món quà tặng từ các con, ông bà cảm thấy ấm lòng. Ngày Lễ Thanksgiving, dù mấy đứa con làm việc ở các Tiểu bang xa cũng bay về sum họp với gia đình. Bà Hiền học hỏi nấu các món ăn mang ý nghĩa ngày Lễ Thanksging của người bản xứ: gà tây, bắp luộc, khoai tây nghiền… cho các con thưởng thức. Đó là những ngày hạnh phúc nhất trong cuộc đời hơn tám mươi năm của ông Hiền, khi các con chưa lập gia đình và bà Hiền còn mạnh khỏe gắn bó bên ông.

Trong những lúc “trà dư tửu hậu”, các bạn già thường ngồi tâm sự với nhau - bảo rằng: ông Hiền có phước…nhờ con!  Một vài cụ bị con cái bạc đãi – than ngắn thở dài – ra điều thất vọng...và mong ước có được những ngày đầm ấm như vậy.  Ông Hiền khiêm tốn nói: - Được lúc nào hay lúc đó – con nó cho thứ gì vui thứ đó, tui không hy vọng, mong chờ - “Sẽ không thấy thất vọng khi mình không nuôi hy vọng”. Ông Hiền quen lối “nhủ mình” và “khuyên người” với những câu châm ngôn như thế. Ông thích đọc những bài viết của các bậc cao nhân khuyên “Người già sống sao cho sướng” -  lấy đó làm kim chỉ nam - cho tuổi già của mình được an vui và không phiền lụy đến con cháu.

Ông đắc ý với bài viết: “Ba Có”, “Năm Không” đọc được trên Internet .

“Ba có” là: Có sức khỏe , có tiền bạc và có bạn bè.

Với bản tính hiền lành, ôn nhu… ông không thiếu bạn tâm giao. Ông không giàu, nhưng với tiền hưu và tiền dành dụm trong bao năm cần kiệm đủ để ông bà có cuộc sống thoải mái, không phải nhờ cậy các con về tài chánh. Còn sức khỏe ông cố giữ nếp sống chừng mực, tập thể dục hằng ngày theo các phương pháp dưỡng sinh. Ông thường tâm sự với bạn bè: sức khỏe là của trời cho và ông tin vào số phận của mỗi con người.

“Năm không” là: - Không bán nhà để đi ở với con.

                            -Không ở chung với con mà chỉ ở gần.
                            -Không lãnh việc trông cháu thường trực mà chỉ chơi với cháu.
                            -Không từ chối khi con cho tiền để tỏ lòng hiếu thảo.
                            -Không tò mò, hỏi han để can dự vào cuộc sống riêng tư của các con.

Nhưng than ôi! Tuổi già quá đỗi nhiêu khê - Sống sao cũng thấy khổ!

Sự đời không lường trước được tương lai. Mấy ai đạt được hết những điều mơ ước. Ông Hiền cũng không ngoại lệ. Năm bảy mươi lăm tuổi bà vợ qua đời sau cơn bạo bệnh. Ông Hiền hụt hẫng! Mỗi lần nhớ đến người vợ hiền trong bao năm gắn bó “đồng cam cộng khổ”, ông thẫn thờ, lang thang trong nghĩa địa, nơi bà Hiền an nghỉ. Ông cứ lẩm nhẩm mấy câu trong bài thơ “Đôi Dép” của Nguyễn Trung Kiên như người mất trí.

“…Đôi dép vô tri khắn khít song hành/  Chẳng thề nguyền mà không hề giả dối/ Chẳng hứa hẹn mà không hề phản bội/ Lối đi nào cũng mặt có đôi.

“ Không thể thiếu nhau trên bước đường đời/ Dẫu mỗi chiếc ở một bên phải trái/ Nhưng tôi yêu em ở những điều ngược lại/ Gắn bó nhau vì một lối đi chung.

“Hai mảnh đời thầm lặng bước song song/ Sẽ dừng lại khi chỉ còn một chiếc/  Chỉ còn một là không còn gì hết/ Nếu không tìm được chiếc thứ hai kia…

 
Từ đó, cuộc đời ông Hiền đi vào lối rẽ chênh vênh. Ông lủi thủi vào ra trong căn nhà đầy ắp những kỷ niệm thân thương. Bất cứ vật gì trong nhà ông cũng nhìn thấy còn in dấu bàn tay của vợ. Ông luôn luôn tư lự…

Các con thấy vậy, khuyên ông bán căn nhà này, về ở với bất cứ đứa con nào ông thích, hay luân phiên ở với đứa này năm, ba tháng sang nhà đứa khác. Bây giờ các con đã lập gia đình, đứa nào cũng có nhà cao cửa rộng, sẵn sàng đón ông về ở. Bốn đứa con, mỗi đứa ở một Tiểu bang. Chúng nó lên lịch trình thuyết phục ông: Mùa Xuân xuống hưởng Tết California với thằng con đầu; mùa Hè sang Thiên đàng hạ giới Hawaii với đứa thứ hai; sang Thu về lại Virginia ngắm cảnh lá vàng với thằng con út, mùa Đông xuống hưởng nắng ấm Florida với đứa thứ ba - thế là coi như được đi đổi gió quanh năm. Nhưng ông không chịu ở với đứa nào. Ông vẫn giữ điều “một” trong cái “Năm không” – Không bán nhà về ở với con.

Người đời thường nói: “ Nhà của cha mẹ là nhà của con nhưng nhà của con không phải nhà của cha mẹ” – đúng là như vậy! Ông Hiền đã thấy bao cảnh đau lòng khi cha mẹ bán nhà về ở với con, rồi ngậm đắng, nuốt cay khi thằng rể hay con dâu tỏ thái độ lạnh nhạt bất ưng. Đến lúc không còn chịu đựng nổi phải xin vào nhà dưỡng lão để có chỗ nương thân, cho qua những ngày cuối đời trong buồn tủi. 

Nhiều lần ông tâm sự với tôi: - Người mình có câu: “sống có cái nhà, thác có nấm mồ”. Tôi giữ căn nhà để có nơi thờ tự ông bà và bà nhà tôi. Tôi muốn đặt để bàn thờ nơi nào tùy ý.Tôi có thể mời bạn bè đến chơi lúc nào cũng được, ở lại bao lâu cũng xong không phải “xin phép” thằng rể, con dâu. Tôi được: độc lập - tự do…ông ạ!

Nhưng rồi vào một ngày, cách nay mấy năm,  từ Viện Dưỡng lão Golden Livingcenter- Sleepy Hollow thuộc Quận Arlington, ông Hiền gọi tôi chúc mừng Lễ Father’s Day. Mở đầu ông Hiền cho biết:

-Thằng con út đã gởi tôi vào nhà dưỡng lão này được hơn tháng. Hôm nay, nhân dịp Father’s Day, người ta ra vào thăm viếng rộn rịp làm tôi nhớ đến mấy bạn già của chúng ta, nên gọi hỏi thăm và chúc mừng. 

-Trời ơi! Vào Nursing Home hơn tháng nay rồi, bây giờ mới báo cho tôi biết, anh thiệt vô tình. Tôi trách ông Hiền.

- Tôi cũng muốn gọi anh, hỏi ý kiến nhưng thấy con nó đã quyết định như thế, thì phải tuân theo để nó an lòng và không làm khổ chúng nó nhiều.

- Hồi nào đến gìờ, tôi thấy anh vẫn tự lo cho mình được, có làm khổ con cháu gì đâu?

-Ối! Tuổi già thay đổi từng ngày anh ơi! Mấy tháng nay cái xương bàn tọa trở chứng, đi đứng khó khăn, nên thằng út bảo đưa vào viện dưỡng lão có y tá chăm sóc, giúp đỡ tốt hơn ở nhà. Vậy cũng phải thôi, chứ nó cũng bề bộn công việc, thì giờ đâu lo cho mình được.  

 - Bây giờ, sống trong đó anh thấy thế nào? Tôi hỏi.

 -Thì cũng phải chấp nhận thôi – “nhập gia tùy tục” - phải tuân theo các qui định. Làm sao được tự do bằng ở nhà của mình. Ở nhà nấu nướng linh tinh, ra vào thoải mái… Ở đây cơm bưng nước rót nhưng nuốt không vô các món ăn của Mỹ nhưng chắc một thời gian rồi sẽ quen.

-Bây giờ anh thích ăn món gì nào?

-Chỉ thèm tô phở!

 
Ngày hôm sau tôi rủ một ông bạn nữa cùng đến nhà dưỡng lão thăm ông. Chúng tôi ghé Phở 75 mua cho ông một tô phở. Buổi sáng hôm ấy trời thật đẹp, nắng ấm và những chậu hoa trước sân nhà dưỡng lão đương độ thắm tươi, tưởng chừng như khu nghỉ dưỡng cho khách du lịch. Nhưng khi bước vào bên trong, một cảnh thê lương hiện ra làm tôi cảm thấy chạnh lòng: Vài ba cụ ngồi trên xe lăn, những cụ khác ngồi trên ghế mây, một chén “soup” để trên chiếc bàn nhỏ đặt trước mặt. Các cụ dường như hờ hững với món ăn – có cụ ngoẹo cổ, có cụ cúi đầu ngủ gục, vài cụ ngơ ngác như vô hồn, có cụ nhìn mông lung ra phía cổng, có vẻ mong chờ. Cảnh tượng đó gợi lên nỗi niềm thương cảm không diễn tả nên lời.

Chúng tôi đến nơi tiếp khách, nói với người nhân viên trực –“ Muốn thăm ông Hiền”. Cô ta vui vẻ hường dẫn chúng tôi đến tận phòng ông Hiền - một căn phòng khá đầy đủ tiện nghi. Vừa trông thấy chúng tôi, ông Hiền nói như reo:

-Trời ơi! Được các anh đến thăm vui quá! Cả tháng nay không gặp được ai để nói tiếng Việt cho đã.

-Vậy các cháu chưa đến thăm anh lần nào à? Ông bạn đi cùng với tôi hỏi.

Một thoáng buồn, nước mắt ứa ra… ông Hiền thấp giọng:  

-Thằng út đưa tôi vào đây, làm các thủ tục giấy tờ, coi như xong công việc. Thỉnh thoảng các con tôi gọi vào hỏi thăm: “Ba có khỏe không? Có trở ngại và cần gì không?” - Biết chúng nó bận rộn công việc, nên tui trả lời vẫn khỏe và không cần gì cho chúng nó an tâm. Nhưng sự thực trong lòng vẫn miên man nỗi nhớ - không nói hết được đâu - chỉ thấy một nỗi buồn man mác và thèm sự thân tình của bạn bè, sự sum họp của gia đình và cái hương vị của quê hương.

Tôi vừa sửa soạn tô phở vừa nói: “Cái hương vị của quê hương đây này, thưởng thức đi, kẻo nguội, mất ngon”. Ông Hiền vẫn còn ham nói, tôi phải dục: “ăn đi cho khỏe rồi nói tiếp”. Nhớ lại những lần đi ăn phở trước đây, ông Hiền chậm rãi, từ tốn, bao giờ cũng để lại trong tô một ít nước dùng. Hôm nay thì khác, chỉ thoáng chốc tô phở hết trơn – trông thấy mà thương!

Từ ngày bà Hiền qua đời, các cuộc họp mặt bạn bè không còn nữa. Mỗi buổi sáng ông lững thững ra nghĩa trang, ngồi bên mộ vợ. Ông bày ra vài món ăn mà lúc sinh tiền bà ưa thích trên chiếc khay nhỏ. Ông đốt nén hương rồi nói lẩm nhẩm và ăn vài thứ như có bà cùng ngồi ăn với ông. Khi mặt trời lên cao, ông lại lững thững ra về. Mùa Đông năm 2015, buổi sáng trên đường tuyết còn đóng băng, ông vẫn cố ra nghĩa trang với lòng thầm nghĩ: “Bả nằm một mình dưới tuyết băng lạnh lẽo - tội nghiệp!”. Bước chân xiêu xiêu trên băng tuyết làm ông té ngã, bể xương chậu, phải vào nằm bệnh viện mấy tháng. Về nhà đi đứng khó khăn, ông phải chống gậy… đôi khi không tự lo cho mình được phải nhờ đứa con út ở gần sang giúp. Nhưng nó không thể chăm sóc cho ông lâu dài được, vì nó còn phải lo cho gia đình và cuộc sống. Thế là chỉ còn con đường “độc đạo”: Vào Viện Dưỡng Lão.
 
  
Hình minh họa- Internet
Vào Viện Dưỡng Lão, nếu như ông cứ mơ màng như các cụ ngoài kia - quên hết sự đời - có lẽ tuổi già của ông không thấy nhiều phiền muộn. Nhưng trời còn cho ông trí nhớ và sự minh mẫn:  Đến ngày giỗ bà Hiền, ông không làm được mâm cơm cúng vợ - ông ray rứt! Ông gọi mấy đứa con nhắc nhở thì đứa nhớ, đứa quên – ông buồn! Nhớ thuở thiếu thời, đến ngày giỗ chạp, cha mẹ ông sửa soạn hương đèn, hoa quả tươm tất, mâm cỗ bày ra những món mà người quá cố ưa thích lúc sinh tiền và bắt con cháu quỳ lạy, cúng bái ông bà. Sang đây ông vẫn còn giữ nếp – lúc các con còn nhỏ, ông cũng bắt chúng nó thắp nhang cúng vái ông bà. Bây giờ khôn lớn, có gia đình riêng, xem ra chúng nó không còn coi trọng việc thờ cúng ông bà. Ông cảm thấy ngậm ngùi nhưng đành im lặng…

Hơn bốn năm trong nhà dưỡng lão, ông thao thức từng đêm để đợi chờ tiếng điện thoại reo. Những năm đầu các con ông thường gọi hỏi thăm, nhưng rồi thưa dần… thưa dần …có khi hằng tháng không có tiếng chuông reo nhưng ông vẫn đợi. Rồi ông tự nhủ: Đời là thế! Nước mắt có chảy ngược bao giờ! Bốn năm trong nhà dưỡng lão, ông đã quen với nỗi cô đơn, nhưng ông không quên quá khứ - ký ức cứ hiện về.

Nhớ thương làm ông sầu muộn.  Minh mẫn khiến ông suy tư. Suy tư và sầu muộn đến mỏi mòn, hao gầy sức khỏe. Có những buổi chiều, ông ngồi trầm tư trên chiếc ghế đá phía sau nhà dưỡng lão như một pho tượng. Không nói. Không than. Ông nhớ về quá khứ và mơ đến tương lai: Ngày ông đến Mỹ, cách nay 25 năm với hai bàn tay trắng. Các con ông còn nhỏ dại. Mỗi buổi sáng vợ ông bới hộp cơm với miếng thịt kho hay con khô mặn để ăn trưa trong hãng, chiều về mới có bữa cơm ngon, gia đình sum họp. Gần mười năm như thế, ông không biết cái nhà hàng của Mỹ ra làm sao? Còn chuyện du lịch coi như xa vời. Quần áo ông mua ở các tiệm bán đồ cũ chi vài ba đô-la một cái – ông bảo còn tốt chán! Ấy vậy mà vui vì ông có niềm hy vọng. Bây giờ các con ông đã thành đạt, tính ra ông có 9 đứa cháu nội, ông ước mong được gặp mặt tất cả chúng nó một lần, trước khi về cõi. Nhưng hy vọng rất mong manh.

Một lần đến thăm, ông kể tôi nghe như vậy. Ông tâm sự: “Hơn bốn năm trong nhà dưỡng lão, tôi được các con đến thăm ba lần nhưng không lần nào đông đủ. Lần đầu tiên, thằng con cả đến thăm dẫn theo đứa con đầu - thằng cháu đích tôn của tôi. Mấy năm nay chưa gặp lại, xem ảnh thấy nó lớn đùng, đã lên Trung học được hai năm. Tôi mong được gặp lại - ôm nó vào lòng. Nhưng chắc nó không hiểu được lòng tôi yêu nó đến mức nào. Cũng vì yêu quá mức mà mẹ nó “cấm” – không cho thằng con gần gũi với ông nội. Chuyện thế này: Hôm ấy, tôi ôm thằng cháu nội vào lòng, nó nũng nịu dễ thương quá, tôi vuốt “chim” nó rồi đưa lên miệng “chắp chắp” làm như đang “nhâm nhi” lạp xưởng - uống rượu… Con dâu trông thấy: Trố mắt! Ngỡ ngàng! Với người Việt mình thì đó là chuyện bình thường. Nhà văn Hồ Dzếnh đã viết một đoạn về tình thương của người cha đối với hai đứa con: …“Cha tôi thương chúng tôi quá, nên chỉ biết nói: - Quay ‘rô-ti’ hai đứa này lên chắc là ngon lắm. Yêu đến độ nghĩ đến chuyện ‘ăn’, thì quả cái yêu kia đã là tuyệt độ”... Nhưng con dâu Mỹ cho là quái đản. Cái văn hóa khác biệt làm cho người ta khó thông cảm và xa cách nhau. Từ đó tôi sống cô đơn giữa đám con cháu của mình.

Hình minh họa- Internet
Nghe ông kể mà lòng tôi xao xuyến. Tôi cũng tỏ vẻ bất bình - có bốn đứa con, cha nằm trong viện dưỡng lão hơn bốn năm mà chỉ có ba lần thăm viếng – sao lại bẽ bàng như vậy? Hiểu ý tôi, ông từ tốn: “Bốn năm mà chỉ có ba lần gặp gỡ, kể ra như vậy là ít ỏi, nhưng “để dành” ông ạ! Bây giờ chúng nó cho nhiều, một mai sẽ cạn…”. Ông cố nở nụ cười đại lượng, nhưng các nếp nhăn xếp nếp quanh cái miệng móm mém làm nụ cười trông như mếu. Rồi những giọt nước ầng ậc ứa ra trong đôi mắt hom hem. Tôi biết ông đang dấu kín nỗi đau lòng…

Đại dịch Covid-19, làm cho các Viện Dưỡng Lão càng thêm thê lương vì bị cách ly, cô lập! Nhiều cụ đã lặng lẽ “ra đi”. Lặng lẽ đến mủi lòng! Khi cái xác kia được đưa đi hỏa thiêu, không khói hương, không người đưa tiễn. Vậy là xong một cuộc đời xuôi ngược, lo toan … Thế gian vắng bóng một người - chỉ còn lại một chiếc lọ đựng nắm tro tàn và một tấm thẻ ghi tên dán lên trên nắp. Nỗi buồn thăm thẳm loãng ra cảnh hắt hiu trong nhà dưỡng lão.

Mùa hè năm nay, sau Lễ Father’s Day, ông Hiền gọi tôi sang. Ông căn dặn: “Đến nhà chứ đừng vào Viện Dưỡng Lão”. Sáng hôm sau tôi sang thăm ông, lúc này con cháu đã tụ về đông đủ. Ông Hiền nằm thoi thóp trong phòng, con cháu đứng chung quanh, nước mắt lưng tròng… Tôi đến bên giường, ông cố lấy hết sức tàn, nắm lấy tay tôi, thều thào: “Tôi muốn nhắm mắt trong căn nhà thân yêu này ông ạ. Tôi bảo mấy đứa con đưa tôi về nhà từ mấy hôm nay. Tôi biết không còn được ở lại cõi trần bao lâu nữa – hình như bà nhà tôi đang lẩn khuất đâu đây để đón tôi về thế giới bên kia với bả”.

Mấy đứa con òa khóc! Ba ơi! Hãy ở lại với chúng con! Ba ơi! Đừng đi!

Ông Hiền siết chặt bàn tay tôi, thì thầm:

-Ông thấy chưa, chúng nó đã “để dành” cho tôi những giọt nước mắt “cốt nhục tình thâm” vào lúc lâm chung.  Tôi mãn nguyện ra đi rồi …ông ạ. Buông tay tôi. Ông đi vào hôn mê…

Tôi xúc động, bùi ngùi sắp vĩnh biệt người bạn tâm giao. Lòng tôi tự hỏi: “Không biết các con ông có ân hận: “lúc trước đã không cho cha nhiều hơn” và có còn “để dành”  ít nước mắt để tưởng nhớ người cha suốt cuộc đời hy sinh quên mình cho tương lai con cháu vào những ngày giỗ sau này?

Tối hôm đó, thằng con trai trưởng của ông Hiền gọi điện thoại cho tôi - giọng đầy nước mắt: “Ba con đã ‘ra đi’ rồi bác ơi – lúc chín giờ”. Thế là,từ nay các con ông không còn dịp tổ chức Lễ Father’s Day cho cha – Ông Hiền vĩnh biệt cuộc đời ở tuổi 82./.
 

 Lê Đức Luận

30/07/2021

---------

Hình Internet

Kim Quy sưu tầm

 

Xem thêm...

TÌNH CHA - HAPPY FATHER'S DAY

Tình Cha

Happy Father's Day

June 19, 2022

 

 

Có phải bất công lắm không khi hằng năm vào dịp “Ngày Của Mẹ” hay Vu Lan, trên thế gian này không biết bao nhiêu văn nhân, thi sĩ, nhạc sĩ múa bút tán tụng tình mẹ: Huyền thoại mẹ, Phật giáo tôn vinh giá trị những bà mẹ, lạm bàn về mẹ, tản mạn về mẹ v.v. Bên cạnh đó, dường như mọi người vô tình đã bỏ quên một thứ tình cũng nồng nàn không kém, đôi khi còn thắm thiết hơn, đó là Tình Cha. Vâng, tôi có một người cha như thế.

Cho đến giây phút này, khi cầm bút viết về cha, tình cảm trong tôi bỗng dạt dào sống dậy. Tôi nhớ về công lao dưỡng dục sinh thành vô bờ bến của song thân. Giữa khi đã có nhiều người viết về mẹ, tôi dành những trang giấy sau đây viết về cha tôi, để mọi người thấy rằng tình cha cũng đậm đà, sâu nặng không kém.

Mãi khi tôi vừa lớn, có đủ trí khôn, tôi luôn thắc mắc tìm hiểu nguồn cội, mới biết cha tôi từ Bắc vào Nam với hai bàn tay trắng. Vì còn nghèo, ông đành để vợ và các con ở tạm miền Trung tại nhà người dì, em họ của mẹ, còn ông tha phương cầu thực, một mình lăn lộn khắp miền Nam từ vĩ tuyến 17 đến mũi Cà Mau, trải biết bao gian lao khổ cực tìm kế sinh nhai, nuôi thân, lo cho vợ con. Nhờ siêng năng cần cù chịu khó cùng ý chí mãnh liệt và cũng nhờ Trời Phật đoái hoài, chẳng bao lâu, ba tôi trở thành một thương gia giàu có.

Từ đó, tôi được lớn lên trong kinh tế gia đình vững vàng, sung túc. Tôi không hề biết thiếu thốn là gì nữa. Thế nhưng, cuộc đời vô thường, không ai biết trước được số phận. Từ chỗ “không biết thiếu thốn là gì”, đùng một cái, tôi bỗng nghèo xác xơ, nghèo đến nỗi quả bắp luộc rẻ tiền đối với tôi trở thành hàng xa xí phẩm, cao lương mỹ vị; nhiều năm trời có muốn ăn, tôi chỉ được liếc thấy, ngửi qua mà không bao giờ rờ tới.

Có rơi vào cảnh nghèo túng, sa cơ lỡ vận, dễ nhận chân lòng dạ con người “Nước loạn mới biết tôi trung. Gia bần mới tri hiếu tử”, thiên hạ hay nói thế và tôi dựa theo ý câu này để thấy rõ tình của ba tôi.

Số là, tôi về làm dâu nhà cụ Phan, tôi không ngờ nhà cụ nghèo thế. Ngày đầu tiên trong đời, cụ đưa tiền tôi đi chợ, tôi mua 10 quả trứng gà, một bắp cải, vài trái cà chua. Mua một lúc cho vài ngày. Mâm cơm cho ba người độc món luộc. Chỉ một nồi nước sôi tôi cho ra ba món: Một dĩa rau luộc. Nước luộc dằm cà chua. Ba trứng luộc dằm nước mắm. Bữa cơm như thế thật đơn sơ, tiện lợi, có gì cầu kỳ đâu, vậy mà bố chồng tôi đã kêu tôi lại bảo:

-Lương nhà con ăn thế này… sang quá! Không đủ trang trải đâu.

Tôi nghe, tôi hiểu và biết phải làm gì. Sẵn học ban B, toán là chính, tôi áp dụng ngay vào đời sống, đem lương của chồng tôi cộng trừ nhân chia, cuối cùng cho ra một đáp số:

-Điểm tâm buổi sáng: Cơm nguội, mỗi người một chén (thay cho một tô bún bò kèm ổ bánh mì khi tôi còn ở nhà bố mẹ).

-Hai bữa ăn chính: Chủ lực rau: Rau muống, rau cải, rau lang, mồng tơi, rau đay, đọt bí…v…v… Còn những loại rau như: Bắp cải, súp lơ, cà rốt, cà chua, xu hào… thuộc hàng xa xỉ phẩm, không được ngó tới.

Chất đạm chỉ là những con tép, cá lòng tong kho mặn; thỉnh thoảng được vài gram thịt cũng phải cõng cả ký lô củ đậu vào đó. Còn “chả lụa” theo “rề sếp” bố chồng tôi dạy, không phải làm từ thịt nạc thăn mà là từ những cục xương sống lưng, loại xương chỉ dùng để nấu súp, cứng như đá, tôi lấy sức “18 bẻ gãy sừng trâu” băm nhuyễn nhừ rồi viên tròn bằng ngón chân cái đem kho mặn. Ăn khá ngon! Bố chồng tôi bảo, ăn xương mới bổ xương!

Với tôi, nghèo, không phải là cái tội. Cũng không ngại gì đời khinh. Nghèo mà sạch, rách mà thơm vẫn hơn giàu sang bằng tiền bất chính, mưu toan trộm cắp cướp đoạt tài sản của người khác. Nói tóm lại phải là tiền từ mồ hôi nước mắt làm ra. Khi chưa có khả năng, cơ hội thì cứ vui với cảnh nghèo. Chỉ vậy thôi. Tôi còn trẻ mà. Còn một quãng đời dài đang chờ đợi ở phía trước. Chịu khó phấn đấu, hợp sức cùng chồng lo gì tương lai không chào đón. Sự kham khổ bây giờ chỉ là giai đoạn “sông có khúc, người có lúc” mà thôi, tôi không bao giờ về nhà than thở với bố mẹ.

Và tôi chịu đựng được nhờ ba tôi luyện từ khi anh chị em tôi còn bé. Không phải lúc nào ba tôi cũng cho ăn cao lương mỹ vị dù ba tôi là người “có tâm hồn ăn uống”. Thỉnh thoảng trong bữa cơm thường nhật, trên bàn ăn vỏn vẹn chỉ độc đĩa rau muống luộc chấm tương, xì dầu hay nước mắm. Chị em tôi nhao nhao phản đối. Ba tôi nói: “Cuộc đời không phải lúc nào cũng suôn sẻ. Khi sung sướng phải biết lúc khổ cực để vô thường đến, đủ sức lực, nghị lực chịu đựng”.

Lời ba tôi nói quả không sai. Sau này, biến cố 1975 làm chao đảo cuộc sống miền Nam, nhà chồng tôi vốn nghèo càng nghèo hơn, tôi trường kỳ rau muống luộc suốt nhiều năm trời, tôi vẫn vững vàng sống khỏe, sống dai và lành mạnh cho đến bây giờ.


Trong một con hẻm Sài Gòn, 1965 (ảnh: Jero/Pix/Michael Ochs Archives/Getty Images)

Ở nhà chồng, ngày hai bữa “vỗ bụng rau bình bịch”, tôi vẫn vui trong nếp sống thanh đạm “bần nhưng lạc”. Tôi không kêu ca than van, nhưng thân thể tôi, độ chừng hơn nửa năm sau, từ 50 ký mập tròn, tôi trở thành mình dây, liễu yếu đào tơ còn 43 ký thôi đã tố giác với cha mẹ tôi, con ông bà thiếu dinh dưỡng. Từ đó, tôi được quan tâm đặc biệt. Nhưng những bữa cơm được mời về nhà, hay những bát canh, con cá, miếng thịt tiếp tế chỉ giữ ký lô tôi dừng lại không tụt xuống nữa, chứ không bù đắp phần thất thoát trong tôi.

Vài năm sau, vì việc học của tôi và công việc của chồng, chúng tôi đổi vô Sài Gòn. Mặc dù lương chồng tôi có tăng theo thời giá, vẫn không thấm vào đâu so với vật giá quá đắt đỏ của thủ đô. Cho nên, những phí tổn sách vở, học hành, tàu xe, tiêu vặt… tôi đành cầu cứu ba má tôi. Không chỉ một khoản tiền lớn bỏ nhà băng lấy lời để lo cho tôi, tôi còn quấy quả ba má tôi hãy “bưng” cái nhà theo tiêu chuẩn của từng người con “gởi” vô Sài Gòn cho tôi. Ba má tôi, thay vì… bưng, tức là bán căn nhà đó rồi gởi tiền cho tôi mua cái khác theo lời đề nghị của tôi, ông bà lại gởi một khoản tiền khác để mua một căn nhà khác.

Căn nhà nhỏ với một khoản tiền đủ sống, tôi ung dung từng bước vào đời. Phần chồng tôi, chàng cũng phấn đấu vươn lên, vừa đi làm vừa lấy cua học thêm. Con đường trước mắt thênh thang mở rộng. Chân trời phương xa, vừng hồng đang rực sáng như chào đón bước chân chúng tôi. Tôi vô tư hồn nhiên yêu đời. Ngây thơ như cô công chúa nhỏ tung tăng vào rừng hái hoa bắt bướm. Không hề nghĩ xung quanh có thú rừng rình rập, hay dưới chân mình đầy cạm bẫy chông gai. Tôi ngu ngơ không hề nghĩ trận cuồng phong có thể bất ngờ ập đến. Không, không nghĩ gì hết. Trước mắt tôi chỉ toàn là màu hồng, màu xanh đầy hy vọng…

Thế rồi ở cuối chân mây, bầu trời bất ngờ đổi màu xám xịt. Mây đen vần vũ. Tôi vẫn chưa nhìn ra, cứ mải miết say sưa với niềm vui hiện tại, không chuẩn bị một chỗ ẩn núp, để rồi phải te tua tơi tả bởi một trận cuồng phong, trận bão của cuộc đời. Trận bão đó quét sạch mọi ước mơ, bao hy vọng, niềm tin yêu trong cuộc sống của tôi. Lúc bấy giờ tôi mới nhận chân ra cuộc đời tự nó vốn vô thường. Con đường trước mặt không luôn luôn bằng phẳng.

Đường càng dài thì càng nhiều hố thẳm chông gai. Bấy giờ tôi mới nhớ lời dạy của ba tôi, thầm cám ơn ba đã luyện chị em tôi từ thuở bé. Có sung sướng phải biết lúc khổ cực. Ngoài những lúc học hành, ba không hề cho chị em gái chúng tôi ngồi không. Rảnh, chúng tôi phải ra vườn nhặt cỏ, tưới cây, phụ bếp hay thêu thùa may vá. Nhờ vậy biến cố 1975, giai đoạn đen tối khó khăn nhất cho bao người miền Nam làm đảo lộn mọi cuộc sống, dù ngất ngư, tôi vẫn gượng dậy giương to mắt trực diện đối đầu với đời.

Số tiền trong băng vốn cũng như lời mất sạch. Chồng đi tù không còn lương. Bố chồng tôi cả đời không kiếm một xu. Thành phần “vợ ngụy” như tôi không còn cơ ngóc đầu lên nổi. Đã vậy, bà con họ hàng con cháu bố chồng tôi ngoài Bắc lũ lượt vào thăm… Ôi, giữa lúc mọi tai ương đổ ập lên đầu con bé con hơn 20 tuổi, giữa lúc tôi chới với ngộp thở của thác lũ cuộc đời, tôi đang quờ quạng mò mẫm để tìm một lối thoát, thì bất ngờ ba tôi xuất hiện như một cứu tinh lặn lội từ miền Trung vào Sài Gòn thăm con. Ba như cái phao cho tôi chụp lấy. Nhưng nhìn tóc ba bạc phơ, mặt mày phờ phạc hốc hác vì tàu xe vất vả, tôi lại chạnh lòng xót xa và trong tôi dâng lên tình yêu kính cha tràn ngập biết nói sao cho hết.

(Ảnh: Francoise De Mulder/Roger Viollet via Getty Images)

Cha vào thăm tôi, mục đích thăm dò đời sống tôi vài ba hôm rồi đi. Trước khi ra về, ba gặp riêng tôi, trao cho tôi một món tiền lớn, ân cần dặn:

-Bố chồng con cả đời không làm ra tiền. Nay cụ già rồi, cụ muốn ăn gì, con cố gắng phụng dưỡng cụ tử tế. Còn đối với người nghèo khó, con cứ giúp. Riêng con, đừng tiêu hoang là được.

Tôi hỏi:

-Con dùng tiền này thăm nuôi tiếp tế chồng con có được không?

-Điều đó hiển nhiên, con không phải hỏi.

Lời cha dặn, tôi tạc dạ ghi lòng. Mặc dù tự thân, tôi tiết kiệm tối đa, tôi không thuộc loại “thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt, còn hơn le lói suốt năm canh”, tôi chấp nhận le lói suốt năm canh để kéo dài khoản tiền tiêu khỏi làm phiền cha vất vả, thay vì “nhậu” một bữa cho đã đời, tôi chỉ trường kỳ rau muống luộc. Sáng rau muống luộc, chiều luộc rau muống.

Riêng cụ bố chồng thì có thêm đĩa nhộng xào, vừa rẻ vừa bổ và cụ cũng ưa thích. Tôi sợ sâu nên không dám ăn nhộng. Tiết kiệm đến vậy, nhưng món tiền lớn ba cho vẫn không thấm vào đâu so với thời buổi gạo châu củi quế, mà chi tiêu lại gấp 10 lần hơn so với cuộc sống trước 75. Nào việc thăm nuôi, ăn tiêu cho hai bố con, và khoản chẳng đặng đừng cụ Phan hỏi để chu cấp tàu xe, quà cáp, ăn uống cho bà con, họ hàng con cháu cụ từ Bắc vào thăm… Những bữa thịt nai đường Hồng Thập Tự, những hôm thịt quay chợ Tân Định theo yêu cầu của bố chồng tôi đãi khách, món tiền chóng vánh hết nhanh.

Mặc dù ba tôi có dặn, khi nào hết tiền, nhớ thông báo ba tìm cách gởi tiếp. Nhưng xin để học, tôi không ngại miệng, vì học tức là làm việc, còn xin để ăn, tôi quyết không mở lời. Một cách tinh ý và tế nhị, ba tôi nhận ra điều đó. Không chuyển tiền qua bưu điện hay ngân hàng được và cũng không tin cậy ai để chuyển được, ba tôi lại vài ba bận vào Sài Gòn thăm tôi, để chỉ trao tận tay tôi một số tiền lớn, rồi về.

 

Tôi thương cha vất vả kiếm tiền, vất vả tàu xe, không muốn phiền lụy cha nữa, tôi mon men ra chợ trời kiếm sống. Ôi, chợ trời cũng là chợ đời, gặp thời buổi nhiễu nhương, tôi ngộp thở trong không khí lạ hoắc đầy gian trá. Nhưng vì sinh kế, tôi đã không ngại ngùng trải một tấm nilon ở vỉa hè trong con hẻm nhỏ chợ Bàn Cờ bán ly, tách, chén, dĩa… trước là bán đồ gia dụng của nhà rồi từ đó “nghề dạy nghề” tôi biết thu mua để bán kiếm lời.

Chỉ vài đồng kiếm được trong ngày cho tiền chợ cũng giúp tôi vui, vì đó là đồng tiền mồ hôi nước mắt lần đầu tiên trong đời tôi kiếm được. Thế nhưng, lại chữ “nhưng” trớ trêu, cuộc đời tưởng như tìm thấy một chút ánh sáng dù chỉ là ánh sáng le lói cuối đường hầm, một lần nữa tắt ngúm bởi trận cuồng phong ập tới!

Đó là ngày sinh nhật Hồ Chí Minh. Khắp phố phường đỏ rực một màu máu bởi những lá cờ đỏ giăng đầy. Để làm… quà mừng sinh nhật ông, từng toán thanh niên băng đỏ được lệnh tung ra làm sạch đường phố. Càn quét hết tất cả những gian hàng lê lết vỉa hè. Một cuộc rượt bắt trông thật ngoạn mục. Những người dân khốn khổ, đáng thương túa chạy như đàn ong vỡ tổ. Còn tôi, ly bát chén dĩa nặng nề cồng kềnh thì chạy làm sao? Thế là, tôi bị hốt về phường cùng hàng hóa bị tịch thu với tội danh bán chợ trời mặc dù rõ ràng tôi ngồi buôn dưới đất! Cuối cùng, một lần nữa, tôi mất hết cả vốn lẫn lời, chỉ “thu” được một món “lợi” duy nhất nhớ đời là nhận chân rõ về cuộc sống.

Cụ Phan bắt đầu vay nợ để trang trải những chi tiêu càng lúc càng tăng nhất là về quà cáp, tàu xe, ăn tiêu cho con cháu cụ. Tôi buồn vì cô đơn, vì cuộc sống mịt mù, không lối thoát. Để khuây khỏa, và cũng đã nhiều năm rồi, dễ chừng gần sáu năm, từ khi rời miền Trung, tôi chưa một lần trở lại. Tôi xin phép cụ Phan về thăm cha mẹ, gia đình.

Có đáp chuyến xe đò ọp ẹp, thời đó chỉ có xe vậy thôi, với giá vé chợ đen cắt cổ, nếu không muốn tờ mờ sáng xếp hàng mua vé chính thức (chưa chắc đã có), tôi bùi ngùi nhớ lại ngày nào mới chuyển vào Sài Gòn tôi tha thướt trong chiếc áo dài tươi mát bước lên máy bay, mà giờ đây trở về trong bộ dáng te tua “bụi đời” bước xuống tận cùng của cuộc sống. Rồi xót xa, tôi nghĩ đến ba tôi. Ba tôi cũng ngồi trên chỗ này đây với đầy mùi hôi nồng nặc của người, của khói xăng lẫn với phân gà vịt…

Cũng với con đường đầy ổ gà, bụi bặm này đây, chiếc xe như muốn nứt tung bởi sức chứa quá tải của người với hàng hoá. Ngồi co ro ngủ gà ngủ gật suốt đoạn đường dài một ngày một đêm, tôi cảm thương cha tôi ở tuổi già xế bóng. Tôi chưa làm được gì để đáp đền công ơn sinh thành dưỡng dục, còn quấy quả cha cả lúc tôi đã có gia đình.

Vì tôi, cha đã phải thay tôi “gánh vác cả giang sơn nhà chồng” mà đúng ra trách nhiệm là của tôi như lời cha từng căn dặn trước cũng như sau ngày cưới: “Con gái về nhà chồng, có bổn phận gánh vác giang sơn nhà chồng. Đừng khuân của của người ta đem về cho bố mẹ, để họ chửi bố mẹ, tức là báo hiếu cho bố mẹ đó”. Lời giáo huấn vẫn văng vẳng bên tai, tôi biết phải làm sao bây giờ khi trên vai tôi không có cái đòn gánh?!

Về đến quê nhà sau bao năm xa cách, lòng tôi như mở hội, như cánh hoa khô héo lâu ngày gặp cơn mưa mát. Tôi reo lên khi gặp người thân. Tôi xiết tay cha. Ôm choàng lấy mẹ. Quấn quít với chị cùng em. Bạn bè lối xóm thuở ấu thơ, nghe tôi về cũng chạy đến thăm. Chúng ríu rít nói cười mời tôi về nhà bày biện nấu nướng. Có đứa giỏi “mánh mung” kiếm được tiền mời tôi ăn tiệm nữa.

 

Nhưng rồi niềm vui hội ngộ cũng qua mau. Cuộc sống trở lại bình thường. Tôi hay ở nhà quây quần với gia đình hơn là theo bạn bè rủ rê ăn uống. Với lại tôi không có tiền. Ăn mãi của bạn cũng kỳ.

Thế rồi một ngày, tôi đang đứng ngó mong ra ngoài, bâng khuâng nhìn vạt nắng lung linh ngoài khung cửa sổ. Bầy chim sẻ từng cặp rượt đuổi nhau, tíu tít chuyền từ cành này sang cành khác trên cây si trồng trước nhà rồi bay vút vào khoảng không gian vô tận. Tôi ước gì tôi cũng là cánh chim để bay mãi, bay mãi về một phương trời nào đó, tôi cũng không biết được để xa lánh cuộc đời hiện tại, nơi đó tôi được tự do, tôi được sống đời tôi muốn sống. Có bước chân đi nhẹ đến bên tôi. Tôi quay lại, thì ra ba tôi. Ba không nói gì, chỉ nắm tay tôi vạch năm ngón tay tôi xòe ra, rồi đặt vào đó một cọc tiền. Tôi ngạc nhiên hỏi:

-Tiền gì vậy, ba?

Tôi cứ ngỡ ba đưa tiền để sai tôi mua vật dụng gì đó cho gia đình. Nhưng không, tôi trố mắt khi nghe ba nói:

-Ba cho con để đi chơi với chúng bạn!

Nói xong, ba bỏ đi, để tôi ngơ ngẩn nhìn theo, không kịp nói được lời nào, dù chỉ là hai chữ “cám ơn” ngắn ngủi. Tôi nhìn xuống cọc tiền, bất giác mủi lòng. Không muốn khóc mà nước mắt tôi cứ từng giọt trào ra. Những giọt nước mắt ân tình trong như pha lê nhẹ nhàng rơi xuống cọc tiền nhưng lại thấm sâu vào hồn tôi, len vào từng ngõ ngách. Tôi nghẹn ngào cảm động vừa thương cha vừa thương mình. Biết nói sao bây giờ, tôi chỉ biết in thật sâu vào tim óc hình ảnh cử chỉ đáng yêu của cha và nguyện một ngày nào đó có cơ hội tôi sẽ đáp đền tình cha.

Tôi thăm gia đình, ở chơi một tháng rồi trở về lại Sài Gòn. Trước ngày tôi lên đường, ba tôi hỏi:

-Trong đó con còn tiền không?

Đã hết sạch, còn nợ nần chồng chất, nhưng lòng tự trọng cùng niềm yêu kính cha, không muốn cha lo lắng, tôi đáp:

-Dạ còn, ba ạ.

-Nếu còn thì ba cho ít.

Nói như thế, nhưng ba tôi vẫn cho nhiều. Ít, nhiều rồi cũng thế thôi. Với thời gian và cuộc sống này vẫn chỉ là những chuỗi ngày mờ mịt!

Về tới Sài Gòn, nhà vẫn luôn có khách. Món tiền ba cho lại chóng vánh tiêu hao. Đồ đạc trong nhà cũng không còn gì để bán. Cùng tất biến, biến sẽ thông, thông tất thái. Tôi nghĩ như vậy rồi nhen nhúm trong đầu tôi hai chữ “vượt biên” mặc dù ba tôi luôn căn dặn: “Cuộc sống có thế nào, đã có ba. Con không được vượt biên. Vượt biên nguy hiểm lắm”. Nhưng tôi đã cãi lời cha, bằng mọi cách, một mình, tôi tìm đường ra đi với hai bàn tay… đen! Đen, được tôi định nghĩa chẳng những trắng tay còn mang theo hai món nợ. Món nợ ân tình của cha tôi, và món nợ bố chồng tôi vay thiên hạ chưa trả.

Cũng may, tôi vượt biên, may mắn chỉ một lần trót lọt.

Ảnh: Pixabay

Bây giờ thì tôi đang định cư tại Thụy Sĩ. Một đất nước hiền hòa, êm đềm, “nhỏ mà ngon”, nhờ ơn Trời Phật tôi hưởng ké phúc lộc của đất nước này. Chỉ hơi buồn vắng vẻ làm tôi hay nhớ quê hương nhất là nhớ ân tình của ba tôi.

Ba tôi vậy đó. Rất hiền lành, nhân từ, sâu sắc. Tình cảm trong ông không thể hiện bằng lời. Ông vốn ít nói, nhưng khi nói rất thâm thúy, khiến tôi thường suy gẫm và coi như… danh ngôn: “Trong cuộc sống của ba, ai đối xử với ba thế nào, ba biết. Ai lấy của của ba, ba cũng biết. Nhưng ba không nói, ba chỉ cười thôi. Ba cười vì ba thấy ba có phúc. Mình có phúc mới có của cho người ta lấy. Vô phúc mới đi lấy của của người ta. Vậy các con chọn đi. Làm người bị mất của hay là người lấy của”.

Hoặc một lần khác do tuổi tác cao, với tư cách đại diện hội cao niên, ba tôi được nhà nước cộng sản mời tham dự cuộc họp tham khảo ý kiến dân, ba phát biểu làm ai nấy ngẩn tò te: “Tôi nhận thấy nhà nước ta cái gì cũng giỏi. Nói rất hay, hứa rất hay, và làm gì cũng rất hay. Chỉ có điều, tôi thật đáng tiếc, nhà nước lại giấu dân. Tôi vào Nam, cả đời vất vả mới tạo nên tài sản, còn nhà nước mới thoáng chốc mà ai cũng có nhà cao cửa rộng, giàu có, thế sao không chỉ cho dân làm giàu với mà lại… giấu dân?!”

Bây giờ ba tôi đã 96 tuổi. Da dẻ ba vẫn hồng hào tươi nhuận. Thời gian dường như luôn giữ ba ở mức tuổi 80. Hằng năm, tôi vẫn về thăm cha, lòng thật vui khi thấy cha khỏe mạnh vui cảnh điền viên tẩn mẩn như một vị sư thư thái nhẹ nhàng cầm chổi quét sân chùa, quét những chiếc lá khô túm vào một góc. Tẩn mẩn sửa lại hàng dậu của giàn mồng tơi, tỉa những chậu cây cảnh, rải thóc gạo nuôi chim…

Có hôm, buổi sáng tôi còn ngủ nướng, ông đánh thức tôi dậy, bưng cho tôi một tô phở ăn liền có đầy đủ thịt bò, rau, giá… do chính ông nấu. Có lần, khi ba tôi 94 tuổi, cũng buổi sáng khi tôi còn ngủ nướng, ông cũng đánh thức tôi dậy để sai tôi mua ít gia vị cho ông làm món gà hầm.

Chao ôi, tôi không ngờ, từng tuổi đó, ba tôi có thể đun nước sôi, cắt tiết gà lặt lông… rồi tẩn mẩn bày biện nấu món này món kia để đãi con gái. Tôi vừa mừng vừa cảm động. Mừng vì thấy cha còn minh mẫn. Cảm động vì  tôi vẫn được cha cưng. Cha còn khoe với tôi tập hồi ký viết dở dang, nét chữ ngoằn ngoèo xiêu vẹo… kể về cuộc đời gian truân của ông với hai bàn tay trắng lưu lạc từ Bắc vào Nam. Tôi cười, nói với cha: “Ba cố viết cho xong đi, đưa bản thảo cho con, con sẽ gởi đăng ở các báo. Tuổi già động não một chút cũng tốt. Vận động tay chân cho thư giãn gân cốt cũng tốt. Nhưng với con, nếu ba nghỉ ngơi đừng làm gì hết vẫn tốt hơn”.

Trong phố, ba tôi được tiếng hào sảng, hay thương người, đóng góp rất nhiều trong công tác từ thiện. Ở tuổi 90, ông còn về Bắc đích thân trông coi xây cất từ đường gia tộc, tậu nghĩa trang cho giòng họ, tu bổ đình làng, miếu đền… Suốt đời của cha, ông luôn là người thích gánh vác với tinh thần trách nhiệm cao.

Còn tôi, tôi luôn nhớ ơn cha. Khắc cốt ghi tâm những tình cảm sâu đậm cha dành cho tôi. Và tôi cũng vui đã thực hiện tất cả nguyện vọng trong đời của cha coi như đền đáp phần nào công ơn sinh thành dưỡng dục và nhất là cha đã đến với tôi trong những tháng ngày tôi gian khổ cùng cực nhất.

Mỗi lần về Việt Nam, trước khi trở lại Thụy Sĩ, bắt chước cha ngày nào, tôi thường xiết tay cha, xòe năm ngón tay cha ra và trang trọng đặt vào đó một phong bì như ngày nào cha đã đặt vào tay tôi để thấy niềm vui xôn xao ánh lên trong mắt cha không hẳn vì phong bì mà vì có một người con hiểu và giống mình.

 

Tác giả TTNH

------------

Hình Internet

Kim Quy sưu tầm

 

 
Xem thêm...
Theo dõi RSS này