Hình Ảnh Vắng Vẻ Của Thế Giới Trong Cơn Đại Dịch Coronavirus

Hình Ảnh Vắng Vẻ Của Thế Giới

Trong Cơn Đại Dịch Coronavirus

Khắp nơi cửa đóng, then cài, giới hạn đi lại, tự cô lập vì e ngại cơn đại dịch do coronavirus từ bên Tàu đang xâm lăng khắp nơi thế giới. Những khu vực du lịch, thắng cảnh, thường có hàng ngàn người thăm viếng mỗi ngày đã trở nên hoang vắng như những thành phố ma (ghost town) vì không ai dám rời khỏi nhà, nói chi đến du lịch, ngắm cảnh. Nhiếp ảnh gia của các quốc gia như Pháp, Ấn Độ, Hoa Kỳ, Ý, Tàu, Úc, ... đã ghi lại những hình ảnh lạnh lùng, hoang vắng đến ... dựng tóc gáy của những khu vực nói trên đang trở thành những khu vắng lặng, không người.

Nói đến sự hoang vắng thì không thể không nhắc đến một địa danh của nước Việt Nam đã được lưu truyền trong nhân gian là "nơi hoang vắng nhất nước", đó là Chùa Bà Đanh. Sự hoang vắng của Chùa Bà Đanh đã khiến từ ngữ "vắng như chùa bà Đanh" trở thành câu thành ngữ dân gian để chỉ sự vắng vẻ, đìu hiu.

Chùa Bà Đanh có diện tích 10 hec-ta nằm ở thôn Đanh, xã Ngọc Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Chùa quay mặt hướng Nam ra mạn sông Đáy.

Chùa được xem là một trong những ngôi chùa đẹp, cổ kính và vắng vẻ nhất Hà Nam của miền Bắc, nói riêng, và cả Việt Nam, nói chung.

Chùa Bà Đanh thờ Phật, tuy nhiên, ngoài tượng Bồ Tát còn có tượng Nam Tào, Bắc Đẩu, Thái Thượng Lão Quân và các tượng của tín ngưỡng Tứ Phủ, một tín ngưỡng dân gian Việt Nam.

Bây giờ chúng ta hãy ghé qua những nơi khác trên thế giới cũng đang "vắng như chùa Bà Đanh".

1. Ngày 17 tháng 3 năm 2020, tại Washington, D.C, chỉ có một người tập thể thao, chạy như bị ... ma đuổi.

2. Ngày 17 tháng 3, hàng triệu cư dân của vùng Vịnh (Bay Area), kể cả Thung Lũng Hoa Vàng (Silicon Valley), được lệnh ở trong nhà để làm chậm lại sự lây lan của coronavirus.

3. Hình chụp ngày 16 tháng 3 năm 2020, sau khi Walt Disney World ở Orlando, Florida tuyên bố tạm đóng cửa.

4. Hình chụp ngày 16 tháng 3 ở South Beach thuộc Miami Beach, Florida, sau khi chính phủ thành phố ra lệnh phong toả khu vực bờ biển để tránh tụ tập đông người.

5. Khu vực tháp Eiffel ở Paris trở nên hoang vắng trong ngày 17 tháng 3, sau khi chính phủ tuyên bố thi hành kiểm dịch.

6. Cảnh hoang vắng của Sydney Opera House sau khi các buổi trình diễn đã bị huỷ bỏ kể từ ngày 18 tháng 3 năm 2020.

7. Khung cảnh Taj Mahal ngày 17 tháng 3 sau khi chính phủ Ấn Độ tuyên bố đóng cửa các khu du lịch và cấm tụ họp trên 50 người ở những nơi công cộng.

8. Khung cảnh ở khu tháp nghiêng Piazza ở Pisa, Italy sau khi được phun thuốc khử trùng ngày 17 tháng 3 năm 2020.

9. Khung cảnh vắng lặng của trạm xe điện Zoloti Vorota ở trung tâm Kyiv, Ukraine, sau khi tạm đóng cửa từ ngày 17 tháng 3 năm 2020.

10. Hình chụp trên chiếc cầu Brooklyn Bridge ở New York City ngày 17 tháng 3 năm 2020.

11. Một người khách bộ hành duy nhất đang đi qua khu Kiener Plaza Park ở St. Louis, Missouri, ngày 17 tháng 3 năm 2020, sau khi hầu hết các cơ sở kinh doanh đều đóng cửa hoặc cho nhân viên làm việc ở nhà để tránh lây lan.

12. Một người đang đi ngang qua trạm Fulton Center ở Lower Manhattan, thuộc New York City, ngày 15 tháng 3 năm 2020.

13. Bãi đậu xe vắng tanh của khu The Shops at Hilltop ở Richmond, California trong ngày 17 tháng 3 năm 2020.

14. Khung cảnh hoang vắng của con đường Rue de Rivoli ở Paris trong ngày phong toả  thành phố, 18 tháng 3 năm 2020.

15. Một thanh niên đang ngồi xem điện thoại ở trạm xe điện vắng tanh ở thành phố Lviv thuộc Ukrain, ngày 18 tháng 3 năm 2020.

16. Khung cảnh trống vắng của Squaw Valley Resort ở Olympic Valley, California, ngày 14 tháng 3 năm 2020. Công ty Alterra Mountain Company tuyên bố đóng cửa tất cả 15 khu trượt tuyết trong vùng bắc Mỹ kể từ ngày 15 tháng 3 cho đến khi có lệnh mới.

17. Khu nhà vòm (rotunda) của Quốc hội Hoa Kỳ ở Washington, D.C., "vắng như chùa Bà Đanh" vào ngày 17 tháng 3 năm 2020.

18. Khung cảnh đường phố, ngày 17 tháng 3 năm 2020, ở Tegucigalpa, Honduras, sau khi chính phủ tuyên bố "giới nghiêm - curfew" trên toàn quốc trong 7 ngày.

19. Khung cảnh trống vắng, ngày 17 tháng 3 năm 2020, của khu vườn Jardin des Tuileries ở Paris sau khi tuyên bố tạm đóng cửa.

20. Westminster Bridge ở London, England trong ngày 18 tháng 3 năm 2020.

21. Một người đàn ông tự chụp hình (selfie) ở Catalunya Square thuộc Barcelona, Spain, ngày 15 tháng 3 năm 2020 khi chính phủ tuyên bố tình trạng khẩn cấp 15 ngày.

22. Một cô giáo dạy môn khoa học đang trực tuyến (live-stream) bài giảng cho học sinh ở một cánh đồng hoa ở Hangzhou, thuộc tỉnh Zhejiang, China, ngày 16 tháng 3 năm 2020.

23. Vài người đang đi xuống trạm xe điện ngầm Bethesda trong giờ làm việc ngày 16 tháng 3 năm 2020, sau khi ông Larry Hogan, thống đốc của tiểu bang Maryland, tuyên bố đóng cửa tất cả các quán rượu (bars) và quán ăn (eateries) trên toàn tiểu bang.

24. Quang cảnh khu phố cổ Annecy ở Pháp như bị bỏ hoang ngày 17 tháng 3 năm 2020.

25. Một người phụ nữ đứng trên ban-công vỗ tay khen ngợi các bác sĩ và y tá đang nỗ lực chống coronavirus. Đây là một phần của sáng kiến toàn quốc đoàn kết chống bệnh dịch ở thành phố Sofia, Bulgaria, vào ngày 16 tháng 3 năm 2020.

26. Khung cảng quãng trường trước nhà thờ Notre-Dame de Reims ở Pháp, ngày 17 tháng 3 năm 2020.

27. Khung cảnh của cây cầu quốc tế giữa Peru và Bolivia, sau khi chính phủ Peru tuyên bố đóng cửa biên giới ngày 17 tháng 3 năm 2020, lý do cư dân ở Desaguadero, Bolivia bị nhiễm coronavirus.

28. Một nhạc sĩ đang kéo đàn violin trong khi chờ chuyến xe điện cuối cùng ở trạm Zoloti Vorota  thành phố Kyiv, Ukraine,  ngày 17 tháng 3 năm 2020, trước khi chính phủ tuyên bố tạm đóng cửa các trạm xe điện.

 Thanh Hương sưu tầm

Hình ảnh Ấn Độ áp lệnh phong tỏa toàn quốc chống Covid-19

 

Xem thêm...

HENRI DUNANT - LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA CỦA HỘI HỒNG THẬP TỰ

HENRI DUNANT - LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA

CỦA HỘI HỒNG THẬP TỰ

 
Solferino là một thị xã của Lombardie, tỉnh Mantoue, miền Nam hồ Garde. Ngày 24 tháng 6 năm 1859 trong trận chiến với đơn vị Ý, quân đội Pháp-Sardaigne (đảo miền Nam Ý) chạm trán với quân đội Áo quanh thị trấn Solferino tạo miền Bắc nước Ý.

Ngày hôm đó, một công dân Genève, Henri Dunant, tìm cách gặp vua Napoléon III để hỏi những  mệnh lệnh riêng tư. Đêm đến, Dunant tới làng  bên cạnh Castiglione nơi đó 9000 thương binh đang trốn. Ngày đêm tại Chiesa Maggiore chất hàng 5000 nguời bị thương, Dunant  và những người đàn  bà  nơi  đó cho họ uống nước, lau rửa cho họ và băng bó vết thương, cho  họ thuốc  lá, nước tisane và trái cây. Dunant  nán lại ở đó cho tới ngày 27 tháng  6 rồi lên đường và trở về Genève ngày 11 tháng  7. Lúc bấy giờ ông rất thiếu thốn về tài chánh, nhưng  không  quên những gì ông đã thấy.
 
Image result for Để vinh danh Jean Henri Dunant
Năm 1862 ông cho  in tác phẩm Một Kỷ niệm về Solferino (Un Souvenir de Solferino) trong đó ông  mô tả chiến tranh rồi những người bị thương ở Chiesa Maggiore, rồi kết luận bằng  một câu hỏi:
Có thể nào có được một phương cách để, trong thời bình thì thành lập những cơ quan cấp cứu mà chủ đích là săn sóc những người bị thương, và  trong thời chiến thì những người tình nguyện nhiệt tình, tận tụy và thật rành nghề cho một công tác tương tự? 


Từ câu hỏi này dẫn đến sự thành lập hội Hồng Thập Tự. Ông còn  hỏi các gới có thẩm quyền của các quân đội có quốc tịch khác nhau trên thế giới xem họ có thể trình bày nguyên tắc quốc tế, có quy ước và thiêng  liêng, nguyên tắc mà một khi đã được chấp thuận  và được thừa nhận, sẽ được coi là căn bản cho các cơ quan cứu cấp những  người bị thương trong  các nước  khác  nhau của Âu Châu? Câu hỏi thứ hai này  từ nguồn gốc các thỏa hiệp Genève.

Tác phẩm của Henri Dunant mang  lại thành công  lớn và được dịch sang tất cả mọi thứ tiếng của Âu Châu và được giới thẩm quyền có ảnh hưỏng nhất thời bấy giờ đọc. Trong số những người đó có Gustave Moynier, luật sư người Genève, chủ tịch một cơ quan địa phương về từ thiện, Cơ quan xã hội Genève (La Société genevoise d' Utilité publique, Geneva Society for Public Welfare ) Ngày 9 tháng 2 năm 1863 ông giới thiệu những  kết luận của tác phẩm Henri Dunant cho cơ quan ông. Cơ quan này mở ra một ban gồm 5 thành viên để nghiên cứu các đề nghị của Dunant.


Ủy ban gồm năm thành viên Moynier, Dunant, tướng Dufour và hai bác sĩ  Louis Appia và Théodore Maunoir, là nguồn gốc của Ủy ban Quốc tế Chữ Thập đỏ Comité international de la Croix-Rouge (CICR). Ủy ban  này họp lần đầu ngày 17 tháng  2 năm 1863. Ngay lập tức  ủy ban nhận xét rằng những  người tình nguyện do Henri Dunant tưởng tượng sẽ chỉ hành động có hiệu quả, không bị các sĩ quan và  quân lính từ chối, khi họ được  mang dấu hiệu đặc biệt để phân biệt họ với dân thường và họ phải được bảo vệ. Đó là ý niệm về sự trung lập hóa của cơ quan vệ sinh và các y sĩ tình nguyện.


Ngày 25 tháng  8 năm 1863, Ủy ban Quốc tế quyết định hội họp tại Genève dưới trách nhiệm của họ, một Hội nghị quốc tế để nghiên cứu các phương tiện để bù vào những thiếu thốn của ban Vệ sinh trong quân đội. Ủy ban gởi giấy mời cho tất cả các cơ quan chính quyền các  nước  Âu châu và tới nhiều nhân vật. Ủy ban gom tụ 36 người, trong số đó có 14 đại diện các  nước, 6 đại diện cho các tổ chức và 7 người với danh hiệu tư nhân.  Với tính chất ghép giữa dân sự và quân sự, tổ chức đi sâu vô các hội nghị quốc tế của  Hồng Thập Tự (La Croix Rouge, The Red Cross) và Trăng Lưỡi liềm Đỏ (Le Croissant Rouge, The Red Crescent). Ngày nay,  phái đoàn các cơ quan quốc tế của Croix Rouge và Croissant Rouge, của các nước có chân trong Hiệp ước Genève và các quan sát viên (thường là các cơ quan từ thiện) cùng tham dự.


Hội nghị năm 1863 được Ủy ban quốc tế chuẩn bị  thảo luận "dự kiến Concordat" và chấm dứt sau khi soạn ra 10 nghị quyết làm nền tảng cho các cơ quan cấp cứu thương binh: là những cơ quan Chữ Thập Đỏ trong tương  lai và sau nữa là Trăng lưỡi liềm Đỏ.

Nghị quyết 10 ủy quyền cho Ủy ban quốc tế trao đổi tin tức giữa các Ủy ban của các  nước khác nhau

Trong những  năm tiếp theo, các Cơ quan Cứu trợ thành lập: nước Bỉ, Phổ, Đan Mạch, Pháp, Ý, Tây Ban Nha..
 
Name:  IMG_6808.JPG
Views: 2784
Size:  62.6 KB
Ủy ban quốc tế chuẩn bị giai đoạn kế tiếp cho một cuộc hội nghị ngoại giao. Hội nghị này phải biến các nghị quyết năm 1863 thành các luật theo qui ước, có uy quyền của luật pháp cho những nước đã ký kết.
Nhưng ngày 1 tháng 2 năm 1864, các  quân đội Áo-Phổ xâm chiếm Danemark. Đó là bước đầu của cuộc chiến. Ủy ban quốc  tế quyết dịnh gởi các đại diện tới tận nơi để săn sóc  những người bị thương và nghiên cứu có thể thi hành những kết luận của Hội nghị năm 1863.


Ngày 6 tháng 6 năm 1864 chính quyền Thụy Sĩ (đã chấp nhận tổ chức hội nghị ngoại giao) gởi thư mời tất cả các nước Âu Châu, Hoa Kỳ, Brésil và Mexique.

Hội nghị kéo dài từ 8 tới 28 tháng 8 năm 1864 dưới sự hiện diện của các đại diện của 16 nước. Hôi nghị thông qua dự thảo theo qui ước do Ủy ban quốc tế soạn ra. Ngày 22 tháng 8 năm 1864 hội nghị ký Qui ước cải thiện số phận các thương binh tại chiến trường, nghĩa là cấp cứu những người bị thương. Sau đó Hội Hồng Thập Tự  thành lập một cơ quan, có Hiến Chương về Tù Binh phải đối xử nhân đạo với các Tù Binh khi họ bị bắt tại chiến trường. Quyền từ thiện tân thời quốc tế được sinh ra.


Image result for hồng thập tự
Để vinh danh Jean Henri Dunant, người sáng lập ra hội, Âu Châu đồng ý chọn  cờ cho Hội này là nền trắng Chữ Thập Đỏ (vì Dunant quốc tịch Thụy Sĩ,  cờ màu đỏ có chữ thập trắng).
Cuối năm đó, Quy ước được  nhiều nước chấp nhận: Pháp, Thụy Sĩ, Bỉ, Hòa Lan, Ý, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Na Uy, Đan Mạch.

Nhưng chiến tranh Áo-Phổ  xảy ra năm 1866. Rồi vài năm sau để đồng nhất hóa Đức, Bismark dự tính phá tan nước Pháp, vậy là chiến tranh Pháp-Phổ bùng nổ năm 1870.

Chính trong  cuộc xung đột này mà Ủy ban quốc tế sáng  lập ra một tổ chức hướng dẫn số phận các thương binh hay tù binh theo ý muốn của gia đình họ.

Năm 1867 Dunant bị sạt nghiệp vì ông chỉ chú tâm đến  vấn đề từ thiện. Sự kiện này làm ông  mất hết bạn bè tại Genève. Dunant không còn được đón  tiếp tại Genève nữa. Chỉ trong  vài năm sau đó, ông sống nghèo nàn như những người ăn mày cho đến cuối đời.


Một cuộc xung đột khác: chiến tranh miền Đông (1875-1878) đã đưa các đại diện của Ủy ban quốc tế tới tận Balkans.

Ủy ban Quốc tế Hồng Thập Tự luôn giữ vai trò chính trong sự phát triển nhân quyền trên thế giới.


(1) "N'y aurait-il pas moyen, pendant une période de paix et de tranquilité, de constituer des sociétés de secours dont le but serait de faire donner des soins aux blessés, en temps de guerre, par des volontaires zélés, dévoués et bien qualifiés pour une pareille oeuvre ? ")


    Hiệp ước Genève

    Những hiệp ước Genève chào đời ngày 22/08/1864. Ngay trong thời kỳ chiến tranh, mọi người phải tuân theo những quy luật nhằm mục đích tôn trọng nhân phẩm con Người. Những điều luật này phán rằng người dân sự sẽ không bị liên lụy trong các trận đánh và người quân  sự ngoài cuộc chiến phải được bảo vệ, người bị thương phải được cứu cấp không phân biệt chủng tộc hay quốc gia và nhân phẩn của họ phải được tôn trọng.

    . Hiệp ước đầu tiên liên quan đến việc bảo vệ những thương bệnh binh các quân lực trên chiến trường

     . Hiệp ước thứ hai liên quan đến việc bảo vệ những binh sĩ bị bịnh, bị thương và  bị đắm tàu của các lực lượng chiến đấu trên biển.
   . Hiệp ước thứ ba liên quan đến cách xử sự với các tù nhân chiến tranh.
    . Hiệp ước thứ tư bàn về việc bảo vệ thường dân.

Image result for jean henri dunant red cross
Henri Dunant (1828-1910), nhà bác ái Thụy Sĩ,  sáng  lập Hội Hồng Thập Tự, Giải thưởng Nobel Hòa bình năm 1901
 
 08/05/1828: Sinh tại số 12 đường Verdaine, Genève. Cha của Jean-Henri là Jean-Jacques Dunant, thương gia, thẩm phán phòng Giám hộ phụ trách trông coi số phận các trẻ mồ côi. Mẹ, Antoinette Colladon, rất mộ đạo, lo việc từ thiện.
 
Là học sinh kém, cậu Henri chỉ mang về những phần thưởng về lòng ngoan đạo. Cậu đi thăm những người nghèo, bệnh nhân và tù nhân. Ham đọc Thánh kinh, năm 1847 cậu thành lập một nhóm đọc kinh thánh với những người cùng tuổi tên là Họp mặt thứ Năm, nhóm này, năm 1852 sẽ rở thành "Hội liên hiệp Thiên chúa giáo những người trẻ" (les Unions chrétiennes de jeunes gens).
 
1849: Henri Dunant  bắt đầu học nghề tại nhà băng Lullin&Suter và được gởi đi làm việc tại Algérie. Ông mơ ước làm phồn thịnh và kỹ nghệ hóa nước này. Năm 1855 chính quyền Pháp chấp nhận nhường đất Algérie cho ông lần đầu tiên. Ông xây một cối xay gió nhưng không nhận được câu trả lời về việc phát triển trong tương  lai của ông trong lãnh vực này
 
08/01/1858: Hội đồng nhà nước Genève cho phép công ty vô danh  Moulins de Mons-Djemila do Dunant thành lập.
 
Năm 1858 ông in quyển sách đầu tiên, Notice sur la Régence de Tunis [An Account of the Regency in Tunis], viết lại những quan sát khi ông du lịch, trong đó có một chương dài rất được độc giả chú ý.
 
 Năm 1863 ông  in rời ra thành cuốn  Sự nô lệ nơi những người  hồi giáo và tại Mỹ (L'Esclavage chez les musulmans et aux États-Unis d'Amérique, Slavery among the Mohammedans and in the United States of America).
 
4/1859: Lập luận rằng vì xuất thân từ một gia đình bị trục xuất ra khỏi nước Pháp vì lý do tín ngưỡng, ông xin  được vô quốc tịch Pháp để tiến hành nhanh công việc đang  ứ đọng tại Algérie.
 
25/06/1859: Không được cơ quan hành chánh trả lời về chuyện thuộc địa của ông tại Algérie, Dunant sang Paris để trình bày trước Napoléon III, nhưng lúc đó Napoléon đã tới nước Ý để cầm binh giao chiến với nước Áo. Trận chiến Soferino gồm phe Đồng minh là vua Napoléon III và Victor-Emmanuel II de Savoie, và phe địch là vua François-Joseph Ier nước Áo. Ngày 24 tháng 6 năm 1859, 9 quân đoàn với 250-250 ngàn binh sĩ  Áo đánh với 104 ngàn lính Pháp (trong số đó có 35 ngàn lính Sardes mà vua Victor-Emmanuel vừa mới thu dụng được). Trận chiến xảy ra rất nhanh nhưng rất nhiều người chết, mất tích và bị thương, cả thảy khoảng 40 ngàn người vì Pháp và Áo đều dùng những lính pháo binh và đại bác.
 
 Dunant lại quay qua Ý để tìm gặp Napoléon, nhưng khi tới làng  bên cạnh Castiglione, ông chứng kiến 9000 thương binh đang trốn và tại Chiesa Maggiore nằm la liệt hàng 5000 nguời bị thương rên siết đau đớn. Dunant đã thuyết phục những người địa phương giúp đỡ ông cho thương binh của cả hai bên uống nước, lau rửa và băng bó vết thương, cho  họ thuốc  lá, nước tisane và trái cây. Dunant  nán lại ở đó cho tới ngày 27 tháng  6 rồi lên đường và trở về Genève ngày 11 tháng 7. Lúc bấy giờ ông rất thiếu thốn về tài chánh, nhưng  không  quên những gì ông đã thấy và viết quyển Un souvenir de Solférino (A memory of Solferino, Hồi ký từ Soferino).
 
Name:  IMG_6816.JPG
Views: 2689
Size:  57.2 KB
Napoléon III tại trận chiến Solferino.  Ernest Meissonnier 1863 (Musée du Second Empire, Compiègne).
 
Quyển Hồi ký từ Solferino  có 3 chủ đề: Thứ nhất là chính cuộc chiến. Chủ đề thứ hai vẽ lên chiến trường sau trận đánh, cái hỗn độn vô thứ tự của nó, sự thất vọng không thể nói ra được, sự khốn khổ về mọi thứ và nói tới câu chuyện chính là gắng cứu chữa những  người bị thương trong một làng nhỏ của Castiglione. Chủ đề thứ ba là một phương án. Các quốc gia phải tạo một phương cách để, trong thời bình thì thành lập những cơ quan cấp cứu mà chủ đích là săn sóc những người bị thương, và  trong thời chiến thì những người tình nguyện nhiệt tình, tận tụy và thật rành nghề cho một công tác tương tự.
 
Năm 1862 Dunant cho  in quyển Hồi ký này trong đó ông mô tả chiến tranh và những người bị thương ở Chiesa Maggiore, rồi kết luận bằng một câu hỏi:
 
Có cách nào để thành lập những cơ quan cấp cứu trong thời bình, tìm những người tình nguyện nhiệt tình, tận tụy và thật rành nghề để săn sóc những người bị thương trong thời chiến không? (N'y aurait-il pas moyen, pendant une période de paix et de tranquilité, de constituer des sociétés de secours dont le but serait de faire donner des soins aux blessés, en temps de guerre, par des volontaires zélés, dévoués et bien qualifiés pour une pareille oeuvre ?)
 
Từ câu hỏi này dẫn đến sự thành lập hội Hồng Thập Tự. Ông còn  hỏi giới có thẩm quyền của các quân đội có quốc tịch khác nhau trên thế giới xem họ có thể trình bày nguyên tắc quốc tế, có quy ước và thiêng  liêng, nguyên tắc mà một khi đã được chấp thuận  và được thừa nhận, sẽ được coi là căn bản cho các cơ quan cứu cấp những  người bị thương trong  các nước  khác  nhau của Âu Châu? Câu hỏi thứ hai này  từ nguồn gốc các thỏa hiệp Genève.
 
Tháng Hai ngày 7 năm 1863 Cơ quan xã hội Genève chỉ định 5 người trong đó có Dunant, quan sát tình hình  để hành động. Với lời kêu gọi của cơ quan này trong hội nghị, hội Hồng Thập Tự ra đời. Dunant  đi khắp Âu châu và được các nước  hứa sẽ gởi đại diện. Hội nghị ngày 26 kéo dài tới 29 tháng  10 với 39 đại biểu của 16 nước. Đến tháng 8 năm 1864, 12 quốc gia ký kết hiệp ước quốc tế, đó là Hiệp ước Genève.
 
09/02/1863: Cơ quan xã hội Genève quyết định thực hành ý định của Hôi ký Solferino và hình thành một "Ủy ban quốc tế cứu trợ những người bị thương". Đây là mầm móng cho CICR tương  lai (Comité international de la Croix-Rouge). Dưới sự hiện diện của tướng Dufour. Ủy ban  họp với bác sĩ  Docteur Louis Appia, Théodore Maunoir, Gustave Moynier và Henri Dunant.
 
1863-1864: Dunant đi khắp âu Châu để loan truyền ý tưởng của ông cho các cơ quan  tình nguyện cứu trợ những người bị thương.
 
 Từ ngày 26 đến 29/10/0863, một hội nghị chuẩn bị họp hội các đại diện của 14 quốc gia tại Athénée, Genève.
 
 Hội nghị ngoại giao từ ngày 8 tới 22/8/1864 đưa đến Hiệp ước Genève trong đó có 10 điều trong hiến chương của Hội Hồng Thập Tự sau này.
 
1867: Đáng  lẽ Dunant được mời tới triều đình nước Phổ để được quàng vòng hoa vinh quang nhân cuộc Triển lãm Hoàn vũ Paris thì ông  lại dấn thân vào những kinh doanh may rủi (công ty nặc danh  Moulins de Mons-Djemila). Ông bị phá sản. Các tòa án Genève kết án ông đã "cố tình đánh lừa các cộng sự viên của ông". Sau khi bị phá sản tan tành, Gustave Moynier ép buộc ông phải từ chức khỏi Ủy ban. Ông thi hành việc này ngày 25/08/1867 và từ giã Genève để rồi không bao giờ trở lại.
 
1867: cho ra  "Thư viện quốc tế toàn năng " (International and Universal Library) nhằm phổ biến các đại tác phẩm của mọi nền văn hóa qua mọi thời gian và có ý qua trung gian của Ủy ban, cho Palestine mà ông đã sáng  lập dùng để ưu đãi những người Do Thái về Palestine  bằng cách thiết lập hai quốc gia Arabe và Do Thái, được  Napoléon III bảo trợ. Song song với việc trên, ông cũng sáng lập Cơ quan quốc tế toàn năng để khôi phục miền Đông  (Société internationale universelle pour la rénovation de l'Orient, the Universal and International Society for the Revival of the Orient) nhằm tìm một phương án để tạo ra một khối trung  lập ở Palestine.
 
Name:  IMG_6811.JPG
Views: 2751
Size:  67.9 KB
Bị ra khỏi Hội, ông qua Pháp, xin lại quốc tịch Pháp và sống tại Paris với nữ nghệ sĩ Sarah Bernhardt, sau này làm nữ cứu thương cho Hội.
 
1870-1871: Chiến tranh xảy ra giữa Pháp-Đức. Dunant thấy rằng cuộc chiến tranh mới này là cơ hội để ông phục vụ cho nhân loại một lần nữa. Ông lập ra một tổ chức song song với Hồng Thập Tự, Cơ quan phụ trợ cứu những người bị thương (Société auxiliaire de Secours aux bléssés), và  chắc chắn vì thấy những  cuộc tàn sát kèm theo quận Paris bị mất, nên  ông triệu tập cuộc họp để thành lập một "Liên Minh toàn năng cho trật tự và văn hóa" (Alliance universelle de l'ordre et de la civilisation) để nói lên sự cần thiết của một hiệp ước quốc tế về việc nắm giữ các tù binh chiến tranh và để dàn xếp các cuộc tranh chấp quốc tế nhờ tòa án làm trọng tài hơn là gây chiến tranh. Ông xoay sở để sống, viêt những  bài tiểu luận... Bị ám ảnh hoàn trả số nợ lớn, ông  mơ thành lập những hãng xưởng kỳ diệu chỉ có trong trí tưởng tượng mà thôi.
 
Năm 1872 và 1873, bên Anh quốc, Dunant buộc phải kích thích công luận về vấn đề các tù binh chiến tranh cho Hội Hồng Thập Tự lúc bấy giờ do Gustave Moynier lãnh đạo, nhưng chỉ mới bắt đầu. Ông định truyền bá ý tưởng cho một tòa án làm trọng tài để  giải quyết những cuộc đụng độ quốc tế (Société d'arbitrage des Nations).
 
 Từ năm 1874 đến 1886, Dunant lang thang nghèo khổ khắp Âu châu, giữa Stuttgart, Rome, Corfou, Bâle và Karlsruhe. Ông  nợ nần và bị ủy ban Hồng thập tự Quốc tế bỏ rơi cho dù ủy ban các nước Áo, Hòa Lan, Thụy Điển, Phổ, Tây Ban Nha vẫn để ông làm hội viên danh dự. Có một số mạnh thường quân vẫn giúp đỡ như Charles Bowles, Jean-Jacques Boucart Max Gracia, nhất là với một bà góa giáu có Léonie Kastner-Boursault, vợ nhà soạn nhạc Jean-Georges Kastner. Bà nhờ Dunant thương phẩm hóa chiếc Pyrophon do con trai bà là Friedrich Eugen Kastner sáng chế. Pyrophone là "đàn lửa", một dụng cụ âm nhạc mà âm thanh phát ra do những tiếng nổ của lửa. Năm 1875 ông du lịch với Léonie sang Ý.
 
Tại Stuttgart, ông kết thân với Rudolf Muller và nhờ đó ông biết thành phố Heiden. Sau đó ông chơi thân với hai vợ chồng Wilhem và Susanna Sonderegger. Hai người này khuyến khích ông kiểm lại và in tập hồi ký thành sách và ngày 27 tháng 2 năm 1880, ông thành lập chi nhánh Hồng Thập Tự tại Heiden. Ông trở thành giám đốc danh dự cho hội này.
 
1892:  Ông muốn thực hiện việc viết bài tự thuật của mình, nhưng  đã mòn mỏi vì cuộc sống nay đây mai đó và vì là nạn nhận của sự hành hạ không ngừng nên ông  không thể sắp thứ tự những  ý tưởng của mình. Quyển "nhật ký" của ông hãy còn  là một hỗn độn dở dang.
Name:  IMG_6819.JPG
Views: 2633
Size:  106.4 KB
Sau gần 20 năm lang thang khắp châu Âu, ông trở lại Suisse, nhưng không tới Genève, mà ở tại Heiden, một bang của Appenzell, trong nhà thương thí tên là Ký túc xá Thiên đường (Pension Paradis) để chữa bệnh ngoài da và chứng trầm cảm.
 
Mãi đến năm 1895, Georg Baumberger chủ biên tập trẻ tuổi người Áo của báo Die Ostschweiz xã Saint-Gall mới phát hiện ra ông. Georg Baumberger viết bài phỏng vấn tựa đề "Henri Dunant, sáng lập viên Hội Hồng thập tự" trên tờ báo Đức "Trên đất và biển" (Sur terre et mer). Bài báo được truyền ra khắp châu Âu, gây phản ứng khắp nơi trên thế giới. Ý tưởng của Dunant  đã thay đổi, ông  không chỉ  muốn có bộ luật chiến tranh mà còn chống  lại với chính chiến tranh bằng cách cộng tác với các tờ báo chuộng hòa bình và viết bài "Tương  lai đẫm máu", lên án chế độ phong  kiến và nghiên cứu khoa học nhằm mục đích chiến tranh. Mọi người nhớ lại ông, gởi cho ông nhiều thiện cảm và được toàn thể thế giới ủng hộ. Ông lại trở về với công chúng tuy Hội Hồng Thập Tự tại Genève vẫn còn lánh mặt ông.
 
Dunant được giải thưởng Binet-Fendt và sự biết ơn của Giáo hoàng Léon XIII. Nhờ tiền cấp dưỡng của bà sa hoàng Maria Fedorovna và nhiều trợ cấp khác, ông thoát khỏi cảnh nghèo khó nhanh chóng.
 
Năm 1899 ông cho in tác phẩm Đề nghị Hoàng đế Nicolas II  (Proposition à sa majesté l'Empereur Nicolas II). Đó là tác phẩm cuối cùng của ông.
 
Năm 1901, ông được giải Nobel chung với Frédéric Passy, một chính trị gia Pháp, người sáng lập ra Hội Trọng tài các Quốc gia (Société d'arbitrage des Nations), tổ tiên của Liên Hiệp Quốc (ONU).
 
08/05/1908 : Cả thế giới làm lễ sinh nhật thứ 80 của ông.
 
30/10/1910: Ông mất ở tuổi 82. Nhờ tiền giải thưởng, ông để lại tờ di chúc: lập ra một cái giường vĩnh cửu cho người nghèo khó tại bệnh viện Heidn, nơi mà ông đã  sống những  năm cuối đời, và những cơ quan từ thiện. Tro ông được rải  ở  Zurich theo ý muốn của ông.
 
 
Hồng Vân sưu tầm
 
Name:  IMG_6808.JPG
Views: 2784
Size:  62.6 KB
v
 
Xem thêm...

Người Việt Gốc Mỹ

Người Việt Gốc Mỹ

Nguyễn Thế Thăng

Tác giả Nguyễn Thế Thăng tốt nghiệp khóa K2DH/DH/CTCT, định cư tại Mỹ 1992, diện HO 13, hiện là cư dân tiểu bang Oregon.
Công việc: Sĩ quan điều hành tổ thông dịch viên của Lực Lựơng Phòng Vệ thuộc Vệ Binh Quốc Gia, Oregan, cấp bậc Thiếu Tá. (Oregon Army National Guard/State Defense Force/Interpreters Team/X.O) (ORANG/SDF/Interp.Team/XO).
Bài viết về nước Mỹ đầu tiên của ông là chuyện về một người bạn cựu chiến binh Mỹ tự xưng là 
“Người Việt gốc Mỹ”.

✧✧✧

Tôi biết Mike khoảng hai năm sau ngày đặt chân lên đất Hoa Kỳ. Dù hành trang sẵn có chút ít tiếng Anh từ trước 1975, tôi vẫn phải vất vả hội nhập vào xã hội mới bằng những bước chân chập chững, e dè trong độ tuổi “bất hoặc”.

Thật may mắn, tôi tình cờ được gặp và quen biết Mike. Anh đã cho tôi một cái nhìn khá bao quát nước Mỹ từ phong tục tập quán đến văn hóa xã hội lẫn chính trị. Mike đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ cả vật chất tinh thần để tôi có được một nghị lực, niềm tự tin, sự phấn khởi tràn trề khi bắt đầu nửa cuộc đời còn lại nơi tha phương, đất khách.

 

Trong buổi họp mặt cựu Chiến Binh nhân dịp Memorial Day của State Guards Association of U.S (SGAUS), bàn của tụi tôi rất ồn ào với đủ mọi vấn đề trên trời dưới đất, vui nhất là những chuyện tiếu lâm xoay quanh đời sống thường nhật của người Mỹ, đặc biệt lớp tuổi về hưu phải đương đầu với nhà dưỡng lão, bệnh tật, nhất là bệnh lãng trí Alzheimer….

Hôm ấy, tôi kể chuyện một đôi vợ chồng già, Bác Sĩ nói với người vợ: tôi thấy sức khỏe ông nhà ngày càng khá hơn khi ông tìm được niềm vui nơi Thượng Đế, tin tưởng nhiều hơn vào Chúa Quan Phòng, đến nỗi, ông nghĩ Chúa đang theo giúp đỡ ông trong mọi việc, trong từng bước chân đi. Ông nói với tôi, đêm qua, khi ông vừa mở cửa nhà vệ sinh để đi tiểu thì Chúa bật đèn lên cho ông liền…. Bà vợ la lên, ngắt lời Bác Sĩ: ôi lạy Chúa tôi, ổng lại đái vào tủ lạnh của tôi rồi!!! Cả bọn cười bò lê bò càng. Cười lớn nhất là một chàng cao lớn, tóc vàng tên là Mike. Anh vỗ vai tôi:

– Ê, bạn người gốc nước nào  ?  

- Việt Nam

Mike bật đứng dậy, bàn tay như

hộ pháp chụp lên đầu tôi, nói thật lớn, nguyên văn bằng tiếng Việt đặc sệt giọng miền nam:

– Đ.M. nãy giờ sao hổng nói.

– Ủa, anh biết tiếng Việt hả.

Mike vênh mặt lên, tay phải vỗ bồm bộp vào cái ngực đang ưỡn, vẫn dùng tiếng Việt:

– Hai lần công tác Việt Nam, đem về Mỹ một cô giáo dạy tiếng Việt tại gia từ 1972, học và nói tiếng Việt từ hồi đó đến giờ, bộ ngu lắm sao mà không biết, biết rành quá đi chứ!!

 

Không ngờ trong bàn lại có một số cựu chiến binh Việt Nam khác, đua nhau xổ ra những câu tiếng Việt họ còn nhớ lõm bõm: Chòi đắt ui (trời đất ơi) chào cắc Ong, mành giỏi” (chào các Ông, mạnh giỏi) Con gái Viết Nàm dde.p lám (con gái VN đẹp lắm) Ngùi Viết Nàmtót lám, đi đi mao, đin – kí đàu(người VN tốt lắm, đi đi mau, điên cái đầu !)….

Riêng Mike nói tiếng Việt rất lưu loát, không hề sai một âm nào (giống như ca sĩ Delena hát tiếng Việt vậy), kể cả cách dùng chữ rất trí thức, đôi khi dí dỏm, có lúc thật tiếu lâm. Tôi đã gặp một nhân viên Bộ Ngoại Giao rành tiếng Việt đến nỗi khi tôi đùa hỏi “Anh người gì mà nói tiếng Việt ngon lành vậy” Anh trả lời tỉnh bơ “Tôi người Bắc !”.

Tôi cũng đã gặp một số người Mỹ chính gốc, thuộc giáo phái Mormon, họ thảo luận Kinh Thánh, đi truyền đạo Tin Lành bằng tiếng Việt thật trôi chảy, nhưng đó là nghề của họ. Còn Mike, anh nói tiếng Việt bằng cả tấm lòng: tên Mỹ của tôi là Micheal, tên Việt của tôi là Mai, theo giọng Việt Nam có nghĩa là hên, là may mắn, còn giọng Việt Bắc (“) hay Việt Trung (“) có nghĩa là hoa mai, một loài hoa rực rỡ mùa xuân ! Vợ tôi vẫn thích kêu tôi là Mai Cồ, hay Anh Cồ, hoặc Cồ ơi chỉ vì tôi bự con! Con rể của nước Đại Cồ Việt mà!

Một ông thày bói VN nói số tôi phải cưới vợ họ Trần vì cả đời tôi không thích mặc áo..vv và vv … tôi há hốc miệng ngồi nghe một chàng mắt xanh, mũi lõ, tóc vàng 100% Anglo-Saxon đang chơi chữ bằng chính ngôn ngữ của tôi !!! Một đêm hội ngộ tuyệt vời, vui như chưa từng thấy từ ngày mất nước, từ ngày sống kiếp lưu vong.

 

Một tuần sau, Mike điện thoại mời tôi đến nhà. Từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác: gia đình Mike gồm vợ chồng và 2 con hoàn toàn sinh hoạt theo truyền thống Việt Nam và tự nhận là người VN. Mike nói: đúng ra tôi là người Việt gốc Mỹ! Người bản xứ khi nghe tôi giới thiệu là người VN, nói tiếng VN thì họ vui lắm, vài người lúc đầu cứ tưởng nước VN ở đâu đó bên Đông Âu nên mới tóc vàng, mắt xanh! Người gốc VN lại tưởng tôi là Mỹ lai, càng vui hơn, gần gũi hơn vì có 50% máu Việt Nam trong người mà, ai cũng vui.

Mike dùng chữ “vui cả làng”! Cả gia đình dùng tiếng Việt làm ngôn ngữ chính. Sống trên đất Mỹ, Mike tâm sự, nói tiếng Anh là việc đương nhiên, thế mà nhiều gia đình VN từ vợ chồng con cái đều ra vẻ hãnh diện với mớ tiếng Mỹ đôi khi trật giọng, sai văn phạm….hoặc nói đệm, câu nào cũng chêm thêm chữ Mỹ vào, trong khi cố tình lơ lớ tiếng mẹ đẻ của mình, dễ mất gốc quá, tủi hổ ông bà tổ tiên quá, uổng phí quá. Lại có cả vài người viết văn, nhiều chữ thông thường không biết, hay giả vờ không biết, lại phải dùng tiếng Anh mới thấy dổm làm sao.

Tôi rất khâm phục những gia đình còn giữ vững truyền thống tốt đẹp VN. Tôi thấy những em bé VN thật dễ thương với tiếng Việt líu lo như chim hót nhưng tôi nhìn các em với cặp mắt bình thường nếu các em nói tiếng Anh, thật bình thường vì đây là nước Mỹ, sau này khi lớn lên phải học thêm một ngoại ngữ ngoài tiếng Anh, họ sẽ hối hận.

Tiếc quá, Mike chặt lưỡi, lập đi lập lại, tiếc quá !! Anh có biết “bà lang kẹt” là ai không” Thế mà một ông VN đã tuyên bố tự nhiên như người Sàigòn, vào mỗi mùa Đông, trên giường của ông phải có ít nhất hai bà lang kẹt ngủ mới đã, mới đủ ấm !”!”

 

Mai Liên, vợ anh, một sinh viên Đại Học Cần Thơ sinh quán Sóc Trăng. Hai người quen nhau khi Mai Liên đi học thêm Anh ngữ trong một lớp do chính Mike phụ trách phần đàm thoại và luyện giọng. Thế rồi hai người yêu nhau nhưng không thể tiến đến hôn nhân vì gia đình hai bên đều không tán thành.

Mike phải xin trở lại Việt Nam lần thứ hai, kiên trì thuyết phục cha mẹ Mai Liên bằng chính tiếng Việt anh đã học được từ người tình. Cuối cùng không những cha mẹ, anh chị em của Mai Liên mà cả bà con xóm giềng cũng hài lòng với “thằng Cồ” vui tánh dễ thương lúc nào, nơi nào cũng pha trò được.

Riêng gia đình Mike lúc đầu vẫn chưa mấy thiện cảm với người dâu dị tộc. Hai vợ chồng son cố gắng sống hòa hợp với mọi người, không tỏ ra khó chịu mà còn thấy vui vui với cái tên Liên vài người cố tình đọc trại thành Alien (=người lạ).

Chẳng bao lâu sau tình thế hoàn toàn đảo ngược. Khi cha mẹ Mike dọn vô nhà dưỡng lão chỉ có vợ chồng Mike thăm viếng thường xuyên. Ông bà rất cảm động, thỉnh thoảng lại công khai ngỏ lời xin lỗi Mai Liên và giới thiệu với mọi người Liên là đứa con gái yêu quý nhất.

Bốn gia đình anh chị của Mike tan vỡ hết ba, sự kiện phổ thông với trên 60% gia đình Mỹ bị rắc rối trong hôn nhân. Cứ một lần li dị lại một lần chia gia tài, riết giống như chuyện thường tình. Tuy nhiên, có điều lạ là sau khi chia tay, họ vẫn liên lạc qua lại với nhau, coi nhau như bạn, không ai ghen tuông gì hết.

 

“Tạ ơn trời đất (Mike không dùng chữ Chúa) tôi có được một bà vợ tuyệt vời. Liên lo lắng chăm sóc tôi kỹ lắm từ mọi sinh hoạt đến từng miếng ăn hàng ngày. Tôi đã quen và rất thích thức ăn Việt Nam. Rất hợp lý nếu ta không biết kiêng cữ, cứ ăn tầm bậy là đưa đủ thứ bệnh tật vào thân thể mình thôi. Anh ăn cái gì anh sẽ như thứ ấy (1). Ăn nhiều rau, đậu, trái cây tươi, da thịt anh sẽ tươi. Anh ăn mỡ, cơ thể anh sẽ phải đeo mỡ (2).

Tốt nhứt nên ăn chay. Gia đình tôi ăn chay mỗi tuần một lần, nhiều nhất là các loại rau. Đồ chay Liên làm ngon lắm. Món nào cũng ngon, cũng tốt cho sức khỏe vì Liên chỉ dùng dầu olive thay cho mỡ động vật, không mặn lắm, không ngọt quá như đồ ăn Mỹ, nhất là hoàn toàn không dùng bột ngọt.

Đặc biệt nước mắm ăn riết rồi mê luôn nhưng điều cần thiết nước mắm mua ở chợ về phải đem nấu cho sôi lên rồi đổ lại vô chai xài vì trong nước mắm có thể có nhiều siêu vi trùng, nhất là siêu vi bệnh gan, các loại mắm cũng vậy.

Chế độ ăn uống như thế làm sao bị phát phì như ba phần tư dân Mỹ hiện nay. Đến như con nít trên 6 tuổi thì phân nửa đã vượt quá trọng lượng được coi là mập rồi. Còn về thẩm mỹ, Anh thấy không, thông thường da người Mỹ trắng lại quá trắng, trắng nhễ nhại (“!)trắng như Bạch Tuyết nên trông có vẻ yếu đuối, bệnh tật, vì vậy họ phải đi phơi nắng ngoài biển hay vô các phòng nhuộm da trong các tanning clubs để cho da họ có màu đồng nâu hay màu bánh mật, nhìn rất khỏe mạnh, thể thao hơn, mốt thời thượng mà! Bà xã tôi được Trời Đất thương cho cái màu tự nhiên đó từ bé nên Ông Bà Ngoại sắp nhỏ mới đặt cho cái tên Mai Liên, anh đọc lái lại coi”!”


Nghe đến đây chính tôi đã phải kêu lên: chu choa mệ tổ ơi, mần răng mà cái chi mô anh cũng biết hết rứa chừ hết biết luôn. Mike hiện nguyên hình một “chú Sam” há hốc miệng “Wh…what” What d’you say””

Ngay sau khi dành thắng lợi đem được Mai Liên về Mỹ, Mike giải ngũ. Liên đi làm 2 nghề khác nhau cho phép Mike trở lại Đại Học lấy xong bằng Kỹ Sư Điện Tử. Mike rất vui mỗi lần nhắc lại giai đoạn này: tôi sướng như Ông Trời con, ngày ngày đi học, còn Liên cực lắm, hy sinh vừa đi làm vừa lo cho tôi còn hơn Ba Má tôi ngày xưa, dĩ nhiên tôi yên tâm học xong rất nhanh.

Bên Mỹ này anh muốn học là phải được, muốn học gì cũng được, muốn lấy bằng gì cũng có, chỉ cần anh có ý thích và có ý chí. Anh có thể học toàn thời gian, bán thời gian, học hàm thụ hay học ngay cả trên online. Không có tiền thì Chánh Phủ hoặc một cơ sở, một công ty hay một tổ chức nào đó ứng tiền cho mượn nếu đủ tiêu chuẩn.

Tuy nhiên khi nộp đơn xin việc làm, người chủ chỉ căn cứ một phần trên bằng cấp, còn phần lớn dựa trên kinh nghiệm việc làm đã qua và sự giới thiệu, phê bình của các chủ cũ. Tôi là cựu chiến binh, gần lấy xong bằng Kỹ Sư thì hãng Điện Tử Intel đã nhận trước rồi. 

Năm đầu tiên tôi đi làm Liên chỉ còn làm một nghề, đến năm thứ hai Liên nghỉ việc hoàn toàn để đi học ngành Y tá. Đó là lý do chúng tôi chậm có con và chỉ có hai đứa. Bên Mỹ này nghe nhà nào có 3,4 con là thiên hạ lắc đầu, le lưỡi liền. Có bầu, sanh con thật dễ dàng nhưng khó nhất, đau đầu nhất là vấn đề giáo dục, không dạy dỗ con được thì lại đổ thừa “cha mẹ sanh con, Trời sanh tánh”, chưa chắc vậy đâu !

Có rất nhiều gia đình nuôi con đến 18 tuổi là bắt nó phải tự lập, nghĩa là đẩy nó ra ngoài xã hội, xét cho cùng điều này cũng có phần tốt. Vì vậy, cũng rất công bằng khi bố mẹ già yếu, đến phiên chúng nó sẽ đẩy bố mẹ vô nhà hưu dưỡng thôi! – Mai Lan ơi, ra chào chú đi con, Mike gọi. Một cô gái Mỹ đẹp như tài tử điện ảnh Hollywood tươi cười bước ra, hai tay khoanh trước ngực, đầu cúi xuống, nói bằng tiếng Việt rất chuẩn:

– Cháu tên Mai Lan, cháu chào chú.

Tôi đứng dậy, Mai Lan bắt tay tôi bằng cả hai bàn tay:

– Chú tên là Long, Chú rất hân hạnh được biết cháu, được quen biết gia đình cháu, một gia đình tuyệt vời, cháu là một cô gái tuyệt vời. Cháu có về VN lần nào chưa.

– Dạ, cám ơn lời khen của Chú. Cháu đã về VN hai lần. Năm rồi cháu đi VN miễn phí.

– Sao vậy.

– Cháu có hai người bạn, hai chị em, bố mẹ họ là người Việt, hai bạn cháu không rành tiếng Việt nên bao cháu đi chung về VN để làm thông ngôn. Vui quá chừng. Bà con chòm xóm dưới quê cứ nhìn cháu chằm chằm: sao kỳ quá hè, Mỹ nói tiếng Việt còn Việt đặc thì bù trất, kỳ hén !Lại nữa, Mỹ thì tên Việt còn Việt lại lấy tên Mỹ, ngộ ghê!! Cháu dịch lại cho hai đứa bạn nghe, tụi nó mắc cỡ quá, về đến Mỹ bắt đầu học tiếng Việt ngay.

Ba má tụi nó kèm riết, cháu cũng dạy thêm, bây giờ nói được hơi nhiều rồi. Hè năm nay tụi cháu lại về VN nhưng lần này cháu phải trả tiền vé máy bay vì bạn cháu không cần thông ngôn nữa, thông ngôn thất nghiệp rồi !!Ông bà ngoại cùng gia đình mấy Cậu, mấy Dì thương cháu lắm. Cũng có thể sẽ có anh Liêm đi cùng.

 

– Liêm là ai.

– Anh Hai cháu. Ảnh tên là Uy Liêm.

– Có phải đó là phiên âm tiếng Việt của chữ William không.

– Dạ đúng

– Thế anh cháu thích tên nào.

– Cả nhà cháu thích tên Uy Liêm hơn vì đa số tên riêng của Mỹ không có ý nghĩa gì hết, thường được bắt chước từ trong Kinh Thánh. Còn tên VN có lồng nghĩa trong đó, có khi mang cả ước vọng của cha mẹ đặt ở người con.

– Vậy Uy Liêm nghĩa là sao. Tôi giả vờ hỏi.

– Uy là uy phong, uy nghi, uy quyền, uy lực… còn Liêm là liêm chính, liêm sỉ, thanh liêm. Người có quyền uy thì phải liêm chính. Người ta khi có chút quyền chức thường hay sanh tật xấu, rồi tham nhũng, rồi phách lối. Ba má cháu muốn anh Hai khi nào có địa vị lớn thì phải sống thanh liêm.

– Anh hai cháu đã có địa vị lớn chưa.

– Dạ ảnh chỉ mới là Đại Úy Thủy Quân Lục Chiến đang chiến đấu ở Iraq. Còn 4 tháng nữa ảnh sẽ xong nghĩa vụ, khi trở lại Mỹ, được nghỉ phép, anh Hai sẽ theo tụi cháu về thăm Ngoại.

– Anh Hai có biết tiếng Việt không?

– Hết sẩy Chú ơi, dù dở nhứt nhà nhưng cũng gần ngang tầm với Ba cháu …

Mike ngồi nghe tôi khảo hạch cô con gái, miệng cứ tủm tỉm cười. Tôi thật sự cảm động, nếu không nói là choáng váng, cứ ngây người ra. Giả sử có ai đó kể tôi nghe về một gia đình như thế này, về một cô gái Mỹ thế này, về một Đại Úy Đại Đội Trưởng TQLC Mỹ như vậy… chắc chắn tôi không thể tin vì tôi đã phải chứng kiến nhiều hoàn cảnh trái ngược.

 

Có lần, vừa bước vô nhà một người bạn VN, ngay tại phòng khách treo một tấm bảng bằng carton với chữ: “No Vietnamese!” tôi ngập ngừng, hơi tái mặt, rồi lẳng lặng, chẳng nói chẳng rằng bước ra ngoài. Chủ nhà chạy theo đon đả. Tôi nuốt nước miếng cho dằn cái gì đó nghèn nghẹn trong cổ họng rồi chậm rãi: có phải ông không muốn tiếp khách người VN hay ông không cho phép ai ngồi trong phòng đó nói tiếng Việt ”

Anh ta phân bua: tôi chỉ muốn bà Xã và các cháu luyện tiếng Anh cho thật nhuyễn để mau thành dân Mỹ thôi !”!” Vậy nếu ông vào một nhà hàng, một công viên, lên máy bay, xe lửa, xe buýt hay vô nhà một người Mỹ nào đó, ông thấy hàng chữ này, ông hiểu nó thế nào”!”

! Cách đây vài chục năm, khi tình trạng kỳ thị chủng tộc còn tồn tại trên đất nước Mỹ, người ta thường thấy trên xe buýt hay công viên có đeo bảng: No dogs and negroes (cấm chó và người da đen). Đến thập niên 60 mới chấm dứt. Bây giờ ông treo “No Vietnamese” trong phòng khách nghĩa là làm sao”!”!

 

Ông ta gỡ bảng xuống liền. Ông bà này nghe nói qua Mỹ có mấy năm đã về VN xum xue, bà con bên nhà ngạc nhiên thấy ông và gia đình lột xác nhanh quá, sức mạnh một đại cường quốc có khác. Bên này cả hai ông bà đi làm vệ sinh, quét dọn trường học, về VN khoe làm trong ngành giáo dục nên rất ít nói tiếng Việt.

Riêng dân Mỹ hay người VN tại Mỹ chỉ nghe âm Mít đặc, không cần nhìn, đều biết ngay ông chánh gốc là “dân địa phương” Alaska vì, mười câu hết chín, ông đều nhắc đến tên một thành phố lớn của Tiểu Bang này: Du nô (3). Nhưng thôi, đây là đất nước tự do mà! Tự do dân chủ với lưỡng đảng đàng hoàng.

 

Mike thường nói đùa với tôi “coi dzậy chứ hổng phải dzậy mà còn quá cha dzậy nữa” khi đề cập đến hệ thống lưỡng đảng của Hoa Kỳ hiện nay. Cứ nhìn vô gia đình Thống Đốc Tiểu Bang California: Ông chồng Schwarzenegger thuộc đảng Cộng Hòa trong khi bà vợ lại theo Dân Chủ.

Khi làm việc, hai đảng kiểm soát lẫn nhau như vợ theo dõi chồng, như chồng để ý coi chừng bà vợ. Nhưng khi có những sự kiện trọng đại liên quan đến an ninh đất nước, đến sự tồn vong của quốc gia, đến sự sống còn của dân tộc Hoa Kỳ thì hai đảng chỉ là một như sau vụ 9/11 mấy năm trước đây.

Hình như có một thứ siêu chính quyền đâu đó quyết định tất cả, tương tự ảnh hưởng nội ngoại trên hai vợ chồng giữ cho hạnh phúc lứa đôi bền vững, từ đó nuôi dạy con cái thành công, kinh tế gia đình thịnh vượng, cho nước Mỹ chỉ mới hơn 200 năm lập quốc đã tiến lên bá chủ hoàn cầu. Nước Mỹ đang đứng nhất trên toàn thế giới về mọi phương diện nhưng rất tiếc, nhất luôn về vô luân thường, vô đạo lý và nhất luôn về cả lãnh vực tội phạm!

Đấy, Mike hướng dẫn cho tôi nhiều, rất nhiều điều, nhiều chuyện. Chúng tôi ngày càng thân hơn khi biết tôi ngày xưa cũng có một thời gian đi dạy học. Vợ chồng Mike và cháu Lan lại thích tìm hiểu sâu xa tiếng Việt hơn qua những từ ngữ Hán Nôm mà tôi đã được Ông Ngoại, một Cử Nhân Hán Văn, khoa thi cuối cùng, dạy dỗ.

Nhờ vợ chồng Mike, tôi thực sự hội nhập vào xã hội Mỹ lúc nào không hay. Từ sự nhiệt tình giới thiệu của Mike, tôi được một chân Technician trong hãng Merix ở Forest Grove. Một năm sau, Mike khuyến khích và hướng dẫn vợ chồng tôi mua một cơ sở kinh doanh riêng ngay trung tâm thành phố Tigard đến nay đã tròn 12 năm.

 

Thời gian cứ lặng lẽ trôi nhanh như những áng mây ngoài khung trời rộng. Thênh thang như giấc mơ Hoa Kỳ của gia đình tôi liên tiếp nở hoa. Cho đến một ngày… Tin như sét đánh ngang tai. Hai vợ chồng Mike vừa qua đời trong một tai nạn xe! Cháu Lan gọi báo cho tôi bằng tiếng được tiếng mất, tức tưởi, nghẹn ngào. Một anh Mễ nhập cư bất hợp pháp say rượu lái xe vào đường cấm ngược chiều.

Xe Toyota Camry của vợ chồng Mike nằm bẹp dí dưới gầm chiếc xe tải F350 chở đầy đồ nghề làm vườn cắt cỏ. Toán cấp cứu phải cưa xe mới đem được hai người ra nhưng cả hai đều đã tắt thở vì sức va chạm quá mạnh và vì vết thương quá nặng…. Lại thêm một nhức nhối của người Mỹ trước làn sóng nhập cư bất hợp pháp… lại thêm một vết đen tệ nạn say rượu, say xì ke lái xe DUII ngày càng nhiều….

Tang lễ thật đơn giản gồm đa số người quen gia đình, bạn bè làm chung Intel với Mike và đồng nghiệp trong bệnh viện của Mai Liên. Cháu Uy Liêm được thông báo từ Iraq về để vừa kịp nhìn cha mẹ lần cuối trước khi đóng nắp quan tài. Trời Oregon chiều nay mưa buồn day dứt. Nghĩa trang Finley Sunset Hills với những dốc thoai thoải quay về hướng Tây, về hướng Thái Bình Dương mà tận cùng bên kia bờ có một vùng đất mang tên VN, quê hương yêu dấu của Mike và Mai Liên suốt cả đời người.

Gió buốt miên man như xoáy sâu vào tận xương tủy. Như chưa bao giờ. Vài tia sáng yếu ớt long lanh trên những ngọn cỏ đầm đìa. Mắt tôi nhạt nhòa trong cái lạnh tái tê. Cũng xong một kiếp trong vô lượng luân hồi.

Một chút gì đó có lẽ hai người đang hài lòng là vẫn còn được đi chung với nhau, vẫn còn được tay trong tay, cùng qua một thế giới khác, hy vọng sẽ tốt đẹp hơn. Ít nhất về vật chất bây giờ xác hai người vẫn còn được nằm bên nhau, hai ngôi mộ song song, cùng nhìn về quê hương VN tít mù xa thẳm cuối chân trời.

 

Riêng tôi lòng trĩu nặng mối ân tình chưa thanh thỏa. Trong suốt cuộc đời còn lại, dù còn sống trên đất Mỹ này, hay giang hồ đó đây, hình ảnh tươi vui khỏe mạnh, tràn đầy sinh lực, gương mặt dễ thương, cử chỉ ân cần, lời nói nhã nhặn nhiệt tình và đặc biệt ân nghĩa của vợ chồng Mike đã dành cho gia đình tôi chắc chắn sẽ khó phai mờ.

Cám ơn Michael Erickson. Cám ơn Mailiên Trần.

Xin tạm biệt.

 

 Nguyễn Thế Thăng

---------------

Hình minh họa-Inernet

Ngọc Lan sưu tầm

Xem thêm...

Nữ bác sĩ đầu tiên của Việt Nam - Henriette Bùi Quang Chiêu

Kết quả hình ảnh cho Nữ bác sĩ người Việt đầu tiên photos

Henriette Bùi Quang Chiêu - Nữ bác sĩ đầu tiên của Việt Nam

Khi thực dân Pháp sang, hệ thống y bác sĩ, bệnh xá lần hồi mọc lên, người Việt cũng theo đó mà tiếp cận với Tây y. Bà Henriette Bùi Quang Chiêu trở thành nữ bác sĩ đầu tiên của nước ta.
Lịch sử nền y học nước Việt đã có từ lâu đời. Trong đó có nhiều tên tuổi đã đóng góp vào sự phát triển của nghề “lương y như từ mẫu” như Trâu Canh, “thánh thuốc nam” Tuệ Tĩnh thời Trần, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác thời Hậu Lê…
 
Trước khi có Tây y giúp việc chữa bệnh, dân ta đặt hết sinh mạng của mình vào thầy lang, bà đỡ cùng thuốc Nam, thuốc Bắc. Nhưng rồi Pháp sang, hệ thống y bác sĩ, bệnh xá lần hồi mọc lên, người Việt cũng theo đó mà tiếp cận với Tây y. Bà Henriette Bùi Quang Chiêu trở thành nữ bác sĩ đầu tiên của nước ta.
 
         Nữ bác sĩ người Việt đầu tiên        
Henriette Bùi Quang Chiêu (thứ hai từ trái sang) bên gia đình năm 1921 tại Phú Nhuận, TP.Sài Gòn. Ảnh tư liệu
 
Về xuất thân của bà, chẳng cần nói đâu xa, bà là con của một nhân vật có tiếng ở nước Việt, nhất là Nam Kỳ trước 1945, ấy là ông Bùi Quang Chiêu.
Như tiểu sử của ông Chiêu được Tỉnh Bến Tre trong lịch sử Việt Nam (từ năm 1757 đến 1945 - Nguyễn Duy Oanh) ghi lại, ông Chiêu từng du học Pháp, là kỹ sư canh nông.
Riêng đường chính trị, ông tham gia lập Đảng Lập hiến, đòi tự do báo chí, đòi bình đẳng cho người bản xứ và cũng giúp nhiều du học sinh sang Pháp du học…
 
Trong bài viết “Nữ bác sĩ người Việt đầu tiên là ai?” (Trần Đình Ba) trên báo Thời đại, số 482 ra ngày 3-9-2018, cho hay là con của một chính trị gia nổi tiếng đất Nam Kỳ lúc bấy giờ, lại có quốc tịch Pháp, nên Henriette được ăn học đầy đủ, theo nền giáo dục Pháp Việt tân tiến và sau này bà du học nơi đất Pháp để rồi trở thành vị nữ bác sĩ đầu tiên của nước Việt ta.
 
Khi còn nhỏ, Henriette được theo học Trường Saint Paul de Chartres (trường Nhà Trắng) tại Sài Gòn. Năm 1915, Henriette nhận bằng Certificat d'Études rồi vào học trường Collège des Jeunes Filles, tức Trường Trung học Gia Long, trường Áo Tím sau này, mà nay là Trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai thuộc quận 3, TP. Sài Gòn.
Henriette Bùi Quang Chiêu thời sinh viên y khoa. Ảnh tư liệu
 
Con đường đến với lĩnh vực y khoa của Henriette được đánh dấu khi cô gái trẻ sang Pháp du học và duyên lành với nghề chữa bệnh cứu người của Henriette, là từ sự nối bước người anh Louis Bùi Quang Chiêu, vốn là một bác sĩ chuyên về bệnh ho lao nổi tiếng tại Sài Gòn.
 
Do đó sau khi tốt nghiệp bậc trung học tại Trường Lyceé Fenelon ở Paris vào năm 1926, năm sau Henriette đã trở thành cô sinh viên An Nam tại ĐH Y khoa Paris.
Dành cả tuổi thanh xuân cho việc học, sau bảy năm miệt mài nơi ghế giảng đường và trong phòng thí nghiệm, cô gái Á Đông Henriette tốt nghiệp với luận án đạt loại xuất sắc vào năm 1934.
 
Bản luận án được Hội đồng giám khảo khen ngợi và tặng thưởng huy chương. Một vinh dự hiếm có dành cho nữ sinh viên đến từ đất nước An Nam xa xôi.
Đám cưới của Henriette Bùi Quang Chiêu. Ảnh tư liệu
 
Với tấm bằng tốt nghiệp trong tay, Henriette về nước và bắt đầu bước vào con đường lập nghiệp trong lĩnh vực y tế, nơi mà ở đó, đội ngũ y bác sĩ người Việt còn hiếm hoi, chứ chưa nói đến là nữ bác sĩ.
Bên cạnh đó là cả sự coi thường của những đồng nghiệp Pháp với đồng nghiệp Việt lúc bấy giờ, gần như ở bất kỳ lĩnh vực nào. Năm 1935, ở tuổi 29, Henriette nhận chức trưởng khoa Hộ sinh ở Bệnh viện Chợ Lớn.
 
Vượt mọi định kiến, đòi lẽ công bằng
 
Bước chân vào nghề là lúc Henriette đem tâm huyết cùng kiến thức chuyên môn của mình và tình yêu với nghiệp cứu người để tham gia vào nghề “từ mẫu” giữa lúc nền y tế nước Việt còn mang nặng tính cổ truyền.
Người dân phần nhiều còn xa lạ với nhà thương, bệnh xá cũng như phương pháp chữa bệnh khoa học bằng Tây y. Và đâu chỉ thế, bà còn đối diện với nhiều khó khăn khác từ chính nghề của mình bởi chính những đồng nghiệp khác màu da.
Dạo ấy, nước nhà bị người Pháp đô hộ, nên trong con mắt của người Pháp với người An Nam cũng có những phân biệt hẹp hòi. Sự kỳ thị, khinh miệt từ những đồng nghiệp người Pháp với đồng nghiệp An Nam; sự bất công về tiền lương cho y bác sĩ Việt so với đồng nghiệp Pháp,...
 
Tất cả những điều đó, Henriette đều vượt qua bằng lòng yêu nghề và sự tự tôn dân tộc, bằng sự đấu tranh trực diện với cấp trên để yêu cầu những quyền lợi chính đáng cho y bác sĩ Việt, cho bệnh nhân người Việt.
Henriette Bùi Quang Chiêu. Ảnh tư liệu
 
Tỉ như có lần giám đốc bệnh viện là người Pháp, đã yêu cầu bà phải mặc váy đầm với lý do như thế mới nhận được sự kính trọng và bình đẳng hơn trong mắt đồng nghiệp người Pháp, nếu không bà sẽ bị lầm tưởng bà là một “bà mụ đỡ đẻ” hơn là một bác sĩ sản khoa.
 
Tuy nhiên, với lòng tự trọng của bản thân, lòng tự tôn dân tộc, bà khước từ yêu cầu ấy mà vẫn ăn mặc như một người Việt Nam.
Trong quãng đời 44 năm gắn bó với nghề y, Henriette lúc làm việc ở Việt Nam, lúc sang Pháp hành nghề. Bà còn nâng cao tay nghề khi sang Nhật Bản năm 1957 học châm cứu để áp dụng có hiệu quả cho ngành sản khoa. Đến năm 1961, Henriette sang Pháp sinh sống và tiếp tục nghề y với phòng mạch của mình.
 
Sau này khi về nước, năm 1970, bà tình nguyện phục vụ không lương trong ngành hộ sản và nhi khoa tại Bệnh viện Phú Thọ rồi năm 1971, bà lại sang lại Pháp tiếp tục làm nghề y đến năm 1976. Bà mất vào ngày 27-4-2012 tại Paris, thọ 106 tuổi. Không chỉ tận tâm với nghề, Henriette còn hiến tặng biệt thự tư gia của bà ở số 28 đường Testard làm cơ sở cho Trường ĐH Y khoa Sài Gòn thuộc Viện Đại học Sài Gòn. Nơi ấy, nay là địa điểm thuộc Bảo tàng Chứng tích chiến tranh ở đường Võ Văn Tần, TP. Sài Gòn.
Biệt thự tư gia của Henriette Bùi Quang Chiêu ở số 28 đường Testard. Ảnh tư liệu
 
Về phần đời riêng, Henriette qua sự sắp đặt của cha, đã kết duyên với luật sư Vương Quang Nhường, đảng viên của Đảng Lập hiến. Cuộc hôn nhân này đã thu hút sự chú ý của dư luận lúc đó. Thế nhưng vì không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, thiếu sự chia sẻ nên duyên cầm sắt cũng chỉ có hai năm, hai người chia tay năm 1937.
 
Sau này khi ở Pháp đầu thập niên 1960, bà gá nghĩa với ông Nguyễn Ngọc Bích trong tình yêu đến từ hai phía. Tiếc rằng, ông Bích bị ung thư vòm họng rồi mất vài năm sau khi hai người thành vợ chồng.
 

Henriette Bùi, nữ bác sĩ đầu tiên của Việt Nam

Bà Henriette Bùi, hình chụp năm 1931. (Ảnh: Internet)
Bà Henriette Bùi, hình chụp năm 1931./(Ảnh: Internet)
 
Bà trầm ngâm nói: “Hồi đó, ngay cả ở Pháp, phụ nữ học ngành y cũng rất ít. Ra trường, cũng không ít nữ bác sĩ bỏ nghề vì phải lấy chồng, sinh con. Tôi cũng không thoát khỏi định kiến xem thường phụ nữ thời ấy. Vừa tốt nghiệp bác sĩ, tôi đã bị cha triệu về Việt Nam để gả chồng…”. Với bà, đó là mối hôn nhân không hạnh phúc, cho dù gia đình hai bên rất “môn đăng hộ đối”.
 
Chồng bà là luật sư Vương Văn Nhường, xuất thân trong một gia đình trí thức, giàu có, cháu ruột của Thái hậu Từ Dũ. Ông chỉ muốn bà ở nhà, lo chuyện nội trợ.
– Ông luật sư tuyên bố: “Tôi là trạng sư, lương đủ cho bà ở nhà, đi chơi”.
– Bà nói: “Tôi thích làm, không thích chơi”.
Bất chấp sự phản đối của ông, bà vẫn đến nhà bảo sanh Từ Dũ hành nghề bác sĩ, chuyên khoa sản và nhi. Ở đây, bà chứng kiến quá nhiều sự bất công. Cùng là bác sĩ, nhưng vì là người Việt dù mang quốc tịch Pháp, bà chỉ được trả lương 100 đồng mỗi tháng, trong khi bác sĩ Pháp được trả 1.000 đồng. Ban giám đốc bệnh viện bắt bà mặc áo đầm đi làm. Bà từ chối, kiên quyết mặc áo dài để khẳng định mình là người Việt Nam. Và không đầy 2 năm sau, vợ chồng bà ly hôn vì khác biệt trong cách sống. Bấy giờ, việc một người đàn bà ra tòa xin ly dị chồng vào lúc đó được người Việt Nam xem như là một chuyện không thể nào tin được, nhất là một người trong gia đình danh giá như gia đình ông Bùi Quang Chiêu.
 
Sau cái chết bi thảm của người cha yêu quý và các anh em của bà tháng 09/1945, Bác sỹ Henriette Bùi vẫn giữ vững tinh thần dân tộc, phục vụ xã hội; với những thương binh, bệnh binh trong thời chiến, bà đều chăm sóc chu đáo, không hề phân biệt bạn hay thù. Cuối năm 1950 bà sang Nhật Bản học nghề châm cứu, với nhiều áp dụng có hiệu quả cho ngành sản khoa.
Bà Henriette Bùi Quang Chiêu, ở tuổi 105. Hình chụp tại Paris nhân chuyến viếng thăm của đoàn bác sĩ từ Hoa Kỳ. (Ảnh: Internet)
Bà Henriette Bùi Quang Chiêu, ở tuổi 105. Hình chụp tại Paris nhân chuyến viếng thăm của đoàn bác sĩ từ Hoa Kỳ. (Ảnh: Internet)
 
Mãi đến năm 1971, bà Henriette Bùi Quang Chiêu mới sang lại Pháp. Ở đây, bà tiếp tục khám chữa bệnh cho đến năm 1976. Bà mất vào ngày 27/04/2012 tại Paris, thọ 105 tuổi.
 
           Q. NGA - Tổng hợp từ Internet        
 
Xem thêm...
Theo dõi RSS này