Khoa học kỹ thuật

Khoa học kỹ thuật (95)

BẠN CÓ BIẾT VÂN TAY CỦA MÌNH MANG Ý NGHĨA GÌ?

Quiz: Check Your Knowledge About DNA Fingerprinting - BestFunQuiz
 

o
 

    Hiểu rõ tính cách qua dấu vân tay    

Tính cách là được định nghĩa là một thuộc tính tâm lý phức tạp bao gồm hệ thống thái độ và cách ứng xử của một người đối với mỗi sự vật hiện tượng, tính cách là nét đặc trưng riêng có của mỗi người. Vân tay cũng là đặc trưng riêng có của mỗi người và được pháp luật sử dụng để nhận biết các công dân. Vậy vân tay tính cách đều là độc đáo là riêng biệt. Vậy liệu chúng có liên hệ gì với nhau không nhỉ? Câu trả lời là có.
Đúng vậy, vân tay và tính cách có mối liên hệ biện chứng chặt chẽ với nhau và đã được nghiên cứu kỹ trong khoa học về sinh trắc học vân tay. Vân tay được chia thành 3 chủng chính, và mỗi chủng được chứng minh là có những đặc điểm tính cách khác nhau. Chúng ta hãy cũng tìm hiểu nhé!
  

Đầu tiên là vân tay chủng Whorl (chủng xoáy) thường được gọi là chủng đại bàng, những người có vân tay thuộc chủng này có tính cách mạnh mẽ như đại bàng. Họ có các đặc điểm nổi bật là:
+ Họ có tính cách mạnh mẽ
+ Luôn là người chủ động trong mọi vấn đề, làm việc có kế hoạch
+ Có quyết tâm cao trong mọi việc, thường đặt ra những mục tiêu hấp dẫn
+ Có khả năng chịu áp lực cao và khả năng học tập tốt
Tiếp theo phải kể đến đó là những người có vân tay chủng nước (chủng vân tay có hình móc) được ví là uyển chuyển như nước. Tính cách đặc trưng ở họ là:
+ Họ là những người nhẹ nhàng, cởi mở, thân thiện với mọi người xung quanh, dễ được yêu quý, dễ dàng kết bạn với nhiều người
+ Sự chủ động của những người thuộc nhóm này không được đánh giá cao
+ Họ là những người hòa nhã, thân thiện, thường cố gắng giảm tránh các mâu thuẫn ở mức tối đa, không thích tranh cãi và có thói quen nhường nhịn người khác
+ Điểm nổi bật ở họ là khả năng học hỏi, bắt trước cực kỳ xuất sắc, họ tiếp thu kiến thức một cách rất nhanh chóng
+ Họ thường bị cảm xúc chi phối mạnh
Và đặc biệt phải kể đến đó là vân tay chủng Arch (vân dạng sóng) được coi là chủng thiên tài - bền vững như núi:
+ Họ có khả năng học tập, tiếp thu kiến thức mới dường như là vô hạn
  + Họ có khả năng lãnh đạo bẩm sinh
  + Họ có tinh thần trách nhiệm rất cao, luôn chấp hành nghiêm các quy định
  + Họ thường sống kín đáo và giữ bí mật tốt, không bị tác động nhiều bởi các tin đồn
  + Họ thường theo đuổi phong cách sống thực tế
Thật thú vị phải không các bạn. Chắc hẳn bạn đang nhìn vân tay của mình và đang ngẫm nghĩ về tính cách bản thân mình phải không? Có một cách đơn giản hơn đó là nhờ đến sự trợ giúp của công nghệ sinh trắc vân tay tại Vân tay khai sáng để hiểu rõ hơn về tính cách của chính mình qua mối liên hệ giữa vân tay và tính cách như mình vừa chia sẻ bạn nhé.
BẠN CÓ BIẾT VÂN TAY CỦA MÌNH MANG Ý NGHĨA GÌ?

Sinh trắc vân tay là gì?

Sinh trắc vân tay là lĩnh vực nghiên cứu dấu vân tay của con người. Dấu vân tay trưởng thành cùng lúc với các nếp nhăn của não nên giữa chúng có mối liên quan mật thiết, do vậy bộ môn Sinh trắc học vân tay ra đời nhằm giải mã tính cách nguyên thuỷ trong não bộ của mỗi cá nhân thông qua vân tay của họ.
Mỗi vân tay đại diện cho phạm trù khả năng khác nhau, có thể tiết lộ tài năng bẩm sinh của mỗi người, bao gồm loại hình, cách thức học tập và độ nhạy cảm, v…v, tất cả đều dựa trên cơ sở khoa học, độ chính xác cao đến 80%.

Sinh trắc vân tay có tên khoa học là dermatoglyphics là một từ có gốc Hy Lạp ghép từ “derma" dùng để chỉ lớp da (biểu bì) và từ “glyph" để chỉ nét khắc. Hiểu nôm na thì dermatoglyphics chính là nghiên cứu về đường nét trên da khác biệt ở đầu ngón tay mỗi người mà chúng ta vẫn gọi là dấu vân tay.
Ai cũng biết rằng dấu vân tay của mỗi người là không giống nhau, chính vì vậy, dấu vân tay còn được xem như đặc điểm nhận dạng của từng người. Tuy nhiên, dấu vân tay còn có thể cho ta biết nhiều hơn thế. Dấu vân tay của một người cũng có thể hé lộ cho bạn biết những đặc điểm về chính con người đó, những thứ bạn có thể dễ dàng thấy và cả những thứ bạn không thể nhận ra. Không chỉ thế, dấu vân tay còn hé lộ cho bạn tiềm năng của một người dựa trên cá tính của họ. Dấu vân tay của mỗi người không giống nhau, và cũng chẳng ai có tính cách và tiềm năng giống hệt nhau.
Sinh trắc vân tay phân tích hình dáng dấu vân tay, mật độ vân tay, khúc quanh dấu vân tay và nhiều yếu tố liên quan khác ở những bộ phận cơ thể nhất định như lòng bàn tay, ngón tay, lòng bàn chân và ngón chân. Dấu vân tay của mỗi người không giống nhau và thường dấu vân tay sẽ không thay đổi kích thước hoặc hình dạng trong suốt cuộc đời của một người, ngoại trừ trong trường hợp chấn thương nghiêm trọng làm sẹo lớp hạ bì.
Sinh trắc học vân tay là một bộ môn khoa học nghiên cứu có cơ sở. Trải qua một thời gian dài phát triển, sinh trắc học vân tay đã có thể đưa ra mối liên hệ giữa dấu vân tay và não bộ - điều này giải thích tại sao mỗi con người có tính cách khác nhau, khả năng học hỏi và sử dụng bán cầu khác nhau, cũng như tài năng trong mỗi lĩnh vực khác nhau.

Các loại chủng vân tay tiêu biểu

có 4 loại hình mẫu (kiểu mẫu):
  1. []: Hình ngũ giác

    Vân tay thuộc chủng Ngũ Giác có hình dáng tròn xoắn ốc, dân gian hay gọi là hoa tay. Tính cách độc lập, uy quyền, giỏi về nêu câu hỏi (chất vấn), cá tính rõ ràng dứt khoát.
    Có tinh thần tìm tòi, khám phá, coi mình là trung tâm trong mọi việc, hy vọng tự mình có thể phát hiện, lĩnh hội. Vì vậy thường bị cho là chính kiến mạnh, quá chủ quan, khó tương tác. Cá tính khá độc lập, quyết đoán và không bị ràng buộc bởi truyền thống, là người có tính cách đặc biệt, có sức sáng tạo cao độ, khi học cần phải nói rõ đạo lý, tăng thêm động lực, tạo không gian cho cá nhân.
  2. []: Hình tròn

    Vân tay thuộc chủng Tròn có hình dáng uốn về phía một bên (Nếu uốn về phía ngón út là thuận hướng, tính là hình tròn, nếu uốn về phía ngón cái là nghịch hướng, tính là hình Tam Giác Ngược). Sở hữu tính hợp tác mạnh, đôn hậu thật thà, ôn hòa, sẵn sàng giúp đỡ người khác.
    Giỏi trong việc học hỏi và bắt chước, có năng lực tốt trong việc sao chép, phù hợp trong các biện pháp hướng dẫn quy định rõ ràng, nhưng cần lưu ý, vì điều tốt cũng học, cái xấu cũng học, dễ bị những người cùng trang lứa hoặc bạn bè ảnh hưởng, do vậy việc đặt ra quan niệm về thị phi cũng vô cùng quan trọng.
  3. []: Hình Tam Giác Ngược

    Vân tay thuộc chủng Tam Giác Ngược có hình dáng uốn về phía một bên (Nếu uốn về phía ngón út là thuận hướng, tính là hình tròn, nếu uốn về phía ngón cái là nghịch hướng, tính là hình tam giác ngược). Tính cách chú trọng tiểu tiết, làm theo ý mình, khác người, theo chủ nghĩa hoàn hảo
    Giỏi tư duy ngược, có năng lực sáng tạo, đổi mới khác thường, cách tư duy trong mọi việc đều khác người, cũng không cần người khác hiểu và công nhận, phong cách làm việc không theo số đông, dễ bị người khác hiểu nhầm. Nên học cách bao dung nhiều hơn, học những quy tắc cơ bản, tránh việc chi phối và điều khiển bằng hình thức cưỡng ép, đe dọa, đánh đập, mắng chửi.
  4. []: Hình Vuông

    Vân tay thuộc chủng Vuông ,có hình dáng giống ngọn núi. Tính cách bảo thủ và vững vàng, khả năng tiếp thu mạnh, tính dễ thích nghi (uyển chuyển) rất lớn, có khả năng thích nghi với môi trường sống tốt
    Có khả năng tiếp thu đáng kể, giống như xốp, vừa giống như một hòn đảo hoang, đáng để khai phá. Trong quá trình khai phá, cần phải học đi học lại rất nhiều lần mới có được kiến thức và năng lực, do vậy dễ bị người khác hiểu nhầm, một khi nắm được kỹ thuật nào đó, sẽ trở thành người xuất sắc trong lĩnh vực này, thích hợp trong việc giáo dục cường độ cao.

Lịch sử của Sinh trắc học vân tay

Mặc dù lịch sử của khoa học nghiên cứu dấu vân tay đã xuất hiện từ rất lâu nhưng người đặt nền móng đầu tiên cho nó lại chính là Tiến sĩ Harold Cummins, bởi ông là người đầu tiên thiết lập mối quan hệ trực tiếp giữa sự hình thành và phát triển các đường nét trên lòng bàn tay và sự phát triển của bộ não vào năm 1926. Phương pháp Cummins là công nghệ đầu tiên được sử dụng để biểu diễn các hệ gen và các mối quan hệ tiến hóa. Ông cũng là người xuất bản tập sách “Finger Prints, Palms and Soles” được đúc kết từ những nghiên cứu của mình vào năm 1943. Kể từ những nghiên cứu của Cummins, sinh trắc vân tay sử dụng rộng rãi trong chẩn đoán và phân tích hành vi của những người bị tâm thần phân liệt, chậm phát triển tâm thần và nhiều bệnh như bệnh tim.
Vậy ngoài Cummins, những ai là người đã đóng góp nghiên cứu cho Sinh trắc vân tay? Hãy cùng điểm qua những mốc phát triển tiêu biểu của Sinh trắc vân tay dưới đây:
  • Năm 1788: J.C.Mayer là người đầu tiên viết ra các nguyên lý cơ bản về phân tích vân tay. Ông cũng là người đưa ra giả thuyết rằng dấu vân tay là duy nhất.
  • Năm 1788: J.C.Mayer là người đầu tiên viết ra các nguyên lý cơ bản về phân tích vân tay. Ông cũng là người đưa ra giả thuyết rằng dấu vân tay là duy nhất.
  • Năm 1823: Joannes Evangelista Purkinji, một giáo sư giải phẫu học tại Đại học Breslau nhận thấy các hoa văn trên đầu ngón tay của một người và những đường nhú giống hình núi trên đầu ngón tay bắt đầu hình thành vào khoảng tuần thứ mười ba trong bụng mẹ và xuất bản luận án nghiên cứu của mình về phân loại vân tay.
  • Năm 1832: Bác sĩ Charles Bell là một trong những người đầu tiên kết hợp nghiên cứu khoa học về giải phẫu thần kinh với thực hành lâm sàng.
  • Năm 1892: Tiến sĩ Francis Galton, một nhà nhân chủng học người Anh đồng thời là một trong những họ hàng của Charles Darwin, đã xuất bản cuốn sách nghiên cứu về dấu vân tay của mình. Nguyên cứu của ông đã đưa ra đặc điểm tính cá nhân dựa trên dấu vân tay cũng như việc dấu vân tay không biến đổi trong suốt cuộc đời một người. Cuốn sách bao gồm hệ thống phân loại đầu tiên cho dấu vân tay bao gồm Arch, Loop và Whorl.
  • Năm 1897: Harris Hawthorne Wilder là người Mỹ đầu tiên nghiên cứu về Sinh trắc vân tay. Ông là người phát minh ra chỉ số Main Line.
  • Năm 1926: Tiến sĩ Harold Cummins & Charles Midlo đưa ra nghiên cứu tất cả các khía cạnh của phân tích dấu vân tay, từ nhân chủng học đến di truyền học và quan điểm phôi thai. Họ cũng là người đặt ra thuật ngữ "Dermatoglyphics" cho sinh trắc vân tay.
  • Năm 1943: Harold Cummins đã xuất bản một cuốn sách kinh điển trong lĩnh vực da liễu với tựa đề "Finger Prints, Palms and Soles".
  • Năm 1944: Julius Spier, nhà tâm lý học phân tích tâm lý, đã đưa ra công chúng một số khám phá quan trọng, đặc biệt là trong lĩnh vực phát triển tâm thần và tình dục, sự mất cân bằng và mối liên hệ của các vấn đề này với hình dạng vân tay.
  • Năm 1968: Sarah Holt đưa ra nghiên cứu của mình về các mẫu da và dấu vân ở ngón tay và lòng bàn tay của liễu của các chủng tộc khác nhau.
  • Năm 1969: John J. Mulvihill, MD và David W. Smith, MD xuất bản cuốn sách “The Genesis of Dermatoglyphics” đưa ra cách vân tay hình thành.
  • Năm 1970: Liên Xô áp dụng sinh trắc vân tay trong việc chọn thí sinh tham dự Thế vận hội và giành được hơn 50 huy chương vàng.
  • Năm 1976: Cuốn sách “Dermatoglyphics in Medical Disorders” của Schaumann và Alter được xuất bản, đưa ra dấu hiệu của những bệnh bẩm sinh dựa trên sinh trắc vân tay bao gồm bệnh tim bẩm sinh, bệnh bạch cầu, ung thư, rubella phôi, bệnh Alzheimer, tâm thần phân liệt,... Nghiên cứu về sinh trắc vân tay được lồng vào nghiên cứu di truyền và chẩn đoán các khuyết tật nhiễm sắc thể.
  • Năm 1980: Trung Quốc thực hiện nghiên cứu về tiềm năng con người, trí thông minh và tài năng trong mối tương quan về da liễu và hệ gen người.
  • Năm 1983: Howard Gardner phát triển lý thuyết về Đa trí tuệ .
  • Năm 1985: Chen Yi Mou - tiến sỹ của Đại học Harvard - đưa ra nghiên cứu về sinh trắc vân tay dựa trên lý thuyết Đa trí tuệ của Howard Gardner. Sinh trắc vân tay bắt đầu được áp dụng cho các lĩnh vực giáo dục và sinh lý học về não.
  • 1986: Giải Nobel Sinh lý học được trao cho Rita Levi-Montalcini và Stanley Cohen trong sự khám phá mối tương quan giữa NGF (Yếu tố tăng trưởng thần kinh) và EGF (Yếu tố tăng trưởng biểu bì).
  • Năm 2000: DrStowens - Trưởng khoa bệnh lý tại bệnh viện St Luke ở New York - tuyên bố có thể chẩn đoán tâm thần phân liệt và bệnh bạch cầu với độ chính xác tới 90%. Ở Đức, Tiến sĩ Alexander Rodewald báo cáo rằng ông có thể xác định nhiều bất thường bẩm sinh với độ chính xác 90%.
Trong gần hai thế kỷ phát triển của sinh trắc vân tay, các nhà khoa học đã khám phá ra mối liên quan giữa dấu vân tay và trí thông minh của con người, làm tiền đề để nhiều nhà khoa học và chuyên gia y học đã nghiên cứu về sinh trắc vân tay thông qua việc cách quan sát, ghi chép, so sánh, lắp ráp và cuối cùng tổ chức tất cả các dữ liệu để có được một phân tích chính xác về tài năng và thế mạnh tiềm ẩn của một cá nhân. Ngày nay, các nước tiên tiến như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc và Đài Loan đã áp dụng sinh trắc vân tay trong các lĩnh vực giáo dục với mong muốn nâng cao chất lượng giảng dạy và nâng cao hiệu quả học tập bằng.
Sinh trắc phân tay là một bộ môn khoa học cực kì thú vị vì nó có thể tích hợp phân tích khoa học não, tâm lý học, y học, di truyền học và khoa học hành vi vào cùng một nghiên cứu. Dựa trên kết quả của sinh trắc vân tay, một cá nhân có thể định hướng suy nghĩ, sử dụng tiềm năng của mình để học tập và phát triển bản thân.
Cũng từ những nghiên cứu về sinh trắc vân tay mà các chuyên gia y tế và nhà khoa học phát hiện ra rằng số lượng tế bào não phân bố ở các phần khác nhau của não giúp chúng ta hiểu được trí thông minh của nhiều người cũng như khả năng và tính cách tiềm năng bẩm sinh của mình. Dấu vân tay tiết lộ những kiến thức chúng ta cần có thông qua một phương pháp giáo dục toàn diện để có thể thay đổi cuộc sống. Những thông tin mà dấu vân tay tiết lộ phải được phân tích và chứng minh qua những bằng chứng về nhân học, di truyền học, y học và thống kê.
Mặc dù Sinh trắc vân tay có thể xác định tiềm năng của một người, con người không thể đạt được tiềm năng đầy đủ của mình nếu không có trau dồi và đào tạo. Nếu dấu vân tay của bạn xác định rằng người ta có tiềm năng về nghệ thuật, nhưng thiếu đào tạo kỷ luật, tiềm năng của một người có thể bị ẩn đi.

Sử dụng Sinh trắc vân tay

Sinh trắc vân tay (Dermatoglyphics) giúp cho một người hiểu rõ bản thân và tiềm năng của chính anh ta. Mỗi người sinh ra đều được thừa hưởng trí thông minh bẩm sinh từ cha mẹ. Tuy nhiên nếu trí thông minh của một người không có cơ hội được rèn rũa, truyền cảm hứng và phát triển thì người đó sẽ không thể phát triển đầy đủ trí thông minh của mình, bao hàm trí nhớ, sự hiểu biết, lý luận, phân tích, tích hợp và ứng dụng. Bằng cách phân tích sinh trắc vân tay, chúng ta có thể hiểu chính xác sự phân bố và số lượng tế bào ở não trái và phải của tế bào để đưa ra dự đoán một người có tiềm năng ở đâu, lĩnh vực nào, từ đó vẽ ra một sơ đồ giáo dục tối ưu cho họ.
Sinh trắc vân tay có khả năng chỉ ra điểm mạnh và điểm yếu của một cá nhân. Nếu hiểu được điểm yếu của mình, mỗi người có thể tập trung vào phát triển điểm mạnh và cải thiện điểm yếu, đồng thời tạo điều kiện để não trái và não phải đều có thể phát triển cân bằng. Sinh trắc vân tay có khả năng chỉ ra điểm mạnh và điểm yếu của một cá nhân. Nếu hiểu được điểm yếu của mình, mỗi người có thể tập trung vào phát triển điểm mạnh và cải thiện điểm yếu, đồng thời tạo điều kiện để não trái và não phải đều có thể phát triển cân bằng.
Sinh trắc vân tay có thể cho bạn biết điều gì?
Lượng thông tin mà sinh trắc vân tay của mỗi cá nhân có thể được bao hàm trong những điểm lớn sau:

Phát triển cá nhân

  • Tăng cường kỹ năng giao tiếp và tương tác giữa các cá nhân
  • Biết cách đánh giá cao mọi người
  • Cải thiện quan hệ giữa các giới với nhau
  • Nâng cao EQ
  • Khám phá tiềm năng nổi bật của bản thân
  • Giúp cải thiện sự nghiệp
  • Nâng cao ý thức về giá trị và hạnh phúc trong cuộc sống

Về giáo dục

  • Giúp phụ huynh cải thiện giao tiếp với trẻ
  • Xác định tài năng cá nhân
  • Đưa ra chương trình giáo dục cá nhân
  • Đưa ra chuyên ngành phù hợp nhất với con đường sự nghiệp mong muốn của một người
  • Xác định cách dạy và học phù hợp nhất cho từng cá nhân

Đối với doanh nghiệp

  • Ứng dụng trong tuyển dụng
  • Đánh giá năng lực làm việc
  • Lập kế hoạch giáo dục và đào tạo trong doanh nghiệp
  • Khám phá tiềm năng của nhân viên
  • Nhận biết khả năng lãnh đạo
  • Cải thiện giao tiếp và tương tác trong môi trường làm việc
  • Củng cố nguồn nhân lực

Dermotoglyphics Multiple Intelligence Test (DMIT) là gì?

Bài kiểm tra sinh trắc vân tay đa trí tuệ (DMIT) dựa trên sự hiểu biết từ hệ thần kinh, gen di truyền, sinh trắc vân tay, sinh lý học và and phôi học. Phương pháp đánh giá thử nghiệm DMIT đã được các nhà khoa học và chuyên gia trong lĩnh vực y tế xây dựng. Kiểm tra DMIT đã được chấp nhận rộng rãi và được sử dụng trong các trường đại học. Các chuyên gia y tế và những người có kinh nghiệm lâm sàng đã đưa ra chứng nhận rằng dấu vân tay cung cấp phân tích chính xác về sự Đa trí tuệ và tiềm năng bẩm sinh của mỗi người. Nếu như trong khoa học truyền thống, chỉ có trắc nghiệm IQ được sử dụng làm công cụ đo lường cho mức độ thông minh thì giờ đây, sinh trắc vân tay và DMIT đã được sử dụng trong nhiều trường đại học và các tổ chức giáo dục, sử dụng trong quản trị nhân sự, đào tạo và định hướng nghề nghiệp.
Biometric Vehicle Access System Using Finger Print Recognition
Sinh trắc học dấu vân tay là phương pháp phân tích mối liên hệ giữa dấu vân tay và não bộ từ đó phát hiện những tố chất và tính cách bẩm sinh của con người. 
Bài báo cáo phân tích về Sinh trắc học dấu vân tay là bức tranh từ chi tiết đến toàn diện về các chỉ số IQ, EQ, AQ, CQ..., 8 loại hình thông minh của con người...
Sinh trắc học dấu vân tay đề cập đến các chi nhánh của khoa học nghiên cứu những mẫu vân  hiện trên đầu ngón tay, ngón chân của con người. Những mẫu vân tay đặc biệt này có liên quan đến sự hình thành gen của cá nhân và được liên kết chặt chẽ với hệ thần kinh.
Dermatoglyphics là một từ xuất phát từ tiếng Hy Lạp cổ đại. (Nó  có nghĩa là: Derma = "da", glyph = "khắc" tức là những dấu khắc trên da hay còn gọi là vân tay).  Dermatoglyphics  là nghiên cứu khoa học của dấu vân tay (Sinh trắc học dấu vân tay).
sinh trắc học dấu vân tay
  • Sinh trắc học dấu vân tay đề cập đến các chi nhánh của khoa học nghiên cứu những mẫu vân  hiện trên đầu ngón tay, ngón chân của con người. Những mẫu vân tay đặc biệt này có liên quan đến sự hình thành gen của cá nhân và được liên kết chặt chẽ với hệ thần kinh.
  • Triết học gia người Đức  Immanuel Kant đã khẳng định rằng “khám phá dấu vân tay chính là khám phá não bộ”. Nó phản ánh toàn bộ hoạt động của bộ não.Ngón tay có nhiều giác quan để cảm nhận các cảm giác kết nối với các dây thần kinh. Các đường vân trong dấu vân tay rất tinh tế và có liên quan chặt chẽ đến sự phát triển của các dây thần kinh trên não bộ. Các dấu vân tay được hình thành từ tuần thứ 13 đến tuần thứ 19 của bào thai đồng thời với sự phát triển của não bộ. Dấu vân tay có đặc tính di truyền. Trên thế giới này, không có hai người có thể có cùng dấu vân tay. Và một khi một đứa trẻ được sinh ra, dấu vân tay của nó phát triển và không thay đổi cho đến hết cuộc đời.
  • Phân tích sinh trắc học dấu vân tay có thể phát hiện được những tố chất, tài năng tiềm ẩn bên trong mỗi con người.
  • Sinh trắc học dấu vân tay có cơ sở khoa học tuyệt đối, với 200 năm nghiên cứu và phát triển bởi các nhà khao học và các chuyên gia nghiên cứu nổi tiếng thế giới. Nó là sự tổng hợp dựa trên các kiến thức cơ bản về di truyền học, phôi sinh học, tâm lý học, khoa học thần kinh và khoa học về dấu vân tay.
  • Giáo sư Harold Cummins được biết đến như là cha đẻ của ngành nghiên cứu vân tay học. Ông nghiên cứu tất cả những khía cạnh về phân tích vân tay trong nhiều lĩnh vực đa dạng như nhân chủng học, phôi thai học, di truyền học.
  • Bài báo cáo phân tích dấu vân tay giúp cha mẹ có thể nhận ra tiềm năng của con mình ở lứa tuổi còn bé và đưa ra những định hướng phát triển tiềm năng. Các số liệu thống kê cho thấy mức độ chính xác của phân tích dấu vân tay lên đến 90%.
  • Trong những năm gần đây Mỹ, Nhật Bản và Đài Loan đã áp dụng  khoa học dấu vân tay để chẩn đoán hội chứng Down, rối loạn bẩm sinh, bất thường về gen, các lĩnh vực giáo dục, quản lý nguồn nhân lực, tuyển dụng nhân viên...v.v...
Sinh trắc học dấu vân tay
  • Phát hiện tố chất và tính cách bẩm sinh của trẻ.
  • Phân tích các chỉ số IQEQAQCQ mà trẻ sở hữu.
  • Phân tích 8 loại hình thông mình của trẻ trong thời kì vàng.
  • Phân tích chỉ số TFRC - Thể hiện mật độ tế bào thần kinh trên vỏ não - Giá trị tiềm năng bộ não.
  • Phương pháp tiếp nhận thông tin hiệu quả VAK (Quan sát, nghe, vận động).
  • Phân tích chỉ số ATD - Thể hiện khả năng tiếp thu của trẻ (Mức độ nhanh chậm).
  • Thiên hướng nghề nghiệp phù hợp của trẻ.
  • Hiểu trẻ để nuôi và dạy trẻ được tốt.
  • Cấu trúc thùy não của trẻ (Thùy trước trán, thùy đỉnh, thùy chẩm, thùy trán, thùy thái dương).
  • Các phương thức phát triển não bộ cho trẻ.
  • Chỉ ra phương pháp học tập và rèn luyện phù hợp cho từng trẻ.
  • Phương pháp kích thích các chỉ số thông minh cho trẻ.
  • Và nhiều giá trị khác...
SINH TRẮC HỌC DẤU VÂN TAY Ở ĐÂU CHUYÊN NGHIỆP?
Genius Print là thương hiệu Sinh trắc học dấu vân tay hàng đầu Việt Nam được sự chứng nhận và bảo trợ của Trung tâm Sinh trắc học dấu vân tay Châu Á ADRC và Hội Khoa học Tâm lý - Giáo dục Việt Nam. Sinh trắc học dấu vân tay là phương pháp phân tích mối liên hệ giữa dấu vân tay và não bộ từ đó phát hiện những tố chất và tính cách bẩm sinh của con người. Bài báo cáo phân tích về Sinh trắc học dấu vân tay là bức tranh từ chi tiết đến toàn diện về các chỉ số IQ, EQ, AQ, CQ..., 8 loại hình thông minh của con người...

Dấu Vân Tay “Mật Mã” Của Mỗi Con Người

Cho đến nay, dấu vân tay vẫn là dấu ấn phổ thông nhưng chuẩn xác để nhận dạng người của cơ quan an ninh. Nếp vân da ngón tay ở mỗi người do nhiều gene chi phối. Số lượng nếp vân và hình thái của chúng sẽ không thay đổi trong suốt cuộc đời.
 
Thoáng nhìn, vân ngón tay người này và vân ngón tay người kia có vẻ chẳng khác nhau là mấy. Nhưng thực ra dấu vân taycủa mỗi người đều có những nét riêng biệt, rất đặc trưng cho từng cá thể.
 
Từ thế kỷ XV, người Trung Quốc đã biết dùng dấu vân ngón tay để điểm chỉ làm bằng chứng trong các giấy tờ. Ở Châu Âu thì muộn hơn. Năm 1823, giáo sư Johannes E.Purkinje đề cập đến phân loại vân tay. Đến năm 1901, khoa giám định vân tay mới thực sự hình thành và được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia, trở thành phương pháp chính trong hình pháp học. Các chuyên gia về dấu vân tay cho rằng, xác suất xuất hiện hai người có cùng những nét vân tay giống nhau nhỏ hơn một phần tỷ.
 
Dấu vân tay có từ lúc bào thai mới 5-6 tháng tuổi, lớn dần theo năm tháng và đến khi chết vẫn không thay đổi. Có những tên tội phạm đã dùng đá nhám mài cho mất dấu vân tay nhưng vô ích, lớp da mới mọc lên lại mang đầy đủ dấu ấn của vân tay cũ.
Ngày nay khi đến tuổi làm chứng minh thư, mọi người đều phải lăn các ngón tay để lại dấu vân tay trong tàng thư lưu trữ của cảnh sát. Xác định dấu vân tay là một tiêu chuẩn quan trọng của giám định hình sự. Bởi vậy hiện nay, ngay cả những tên trộm mới vào nghề cũng tìm mọi cách không để lại dấu vân tay trên hiện trường.
 
Hiện tại, nhiều nước đã áp dụng máy tính điện tử xác định dấu vân tay. Máy phân loại theo các hạng mục vân tay, phân tích lựa chọn các đặc điểm đặc trưng, so sánh với các dữ liệu vân tay trong tàng thư lưu trữ và chỉ trong mấy giây là xác định được ngay dấu vân tay của cá thể nào. Hiện nay, việc ứng dụng dấu vân tay có nhiều bước tiến mới. Một trong số đó là lấy dấu vân tay bằng mạt sắt từ. Theo kỹ thuật truyền thống, người ta rắc bột lên những bề mặt nghi vấn có dấu vân tay. Bột bám dính vào lớp mỡ do tay để lại, lớp bột thừa sẽ bị quét sạch và cuối cùng thu được dấu vân tay có thể giúp cảnh sát tìm ra đối tượng điều tra.
 
Tuy nhiên, việc quét bỏ phần bột thừa có thể làm mờ dấu vân tay vốn rất mờ nhạt. Mặt khác, đối với những bề mặt thô hay xốp thì kỹ thuật cổ điển kém hiệu quả. Bởi vậy, các nhà khoa học Anh đã nghiên cứu một kỹ thuật lấy dấu vân tay cho kết quả rất tốt ngay cả với những dấu vân tay mờ nhất. Thay vì dùng bột, họ dùng mạt sắt với chất keo để bám vào bề mặt, phần mạt sắt thừa bị lấy đi bằng nam châm và để lại dấu vân tay mà không làm hư hỏng. Các nhà nghiên cứu đã nhận thấy các mạt sắt có bề rộng 25 micron sẽ cho hình ảnh sắc nét nhất.
Các nhà khoa học cũng chế tạo thành công loại “chìa khóa vân tay” rất đặc biệt. Người ta mã hóa tất cả các loại vân tay của nhân viên và cho vào bộ nhớ của máy tính điện tử. Chỉ có bàn tay đó đặt vào, cửa mới mở. Ở một số nước công nghiệp phát triển, loại chìa khóa đặc biệt này được sử dụng nhiều nhất trong các ngân hàng, các tủ hồ sơ quan trọng, văn phòng hải quan và những khách sạn cao cấp.
 
Tại Mỹ, người ta đang nghiên cứu một loại súng ngắn nhận dạng vân tay, chỉ một mình chủ nhân của nó mới sử dụng được. Hệ thống khóa điện tử của súng được xây dựng trên cơ sở nhận biết các dấu vân tay của người chủ. Các nhà hình pháp học hy vọng rằng trong tương lai, loại súng đó sẽ ngăn cản được những kẻ giết người. Chúng không thể sử dụng được vũ khí lấy trộm của người khác.
 
NGUYÊN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA CẢM BIẾN VÂN TAY TRÊN KHÓA THÔNG MINH – Filta Việt  Nam

Sự hình thành dấu vân tay ở con người

Vân tay
Dấu vân tay đã được sử dụng trong hơn 2000 năm. Chúng đã được nghiên cứu rộng rãi bởi các nhà nhân chủng học và nhà sinh học. Dấu vân tay của một người bắt đầu được hình thành vào tuần thứ 13 và kết thúc vào khoảng tuần 19 đến 24 của thai kỳ. Dấu vân tay rất độc đáo, khó thay đổi và tồn tại tương đối bền bỉ trong suốt cuộc đời con người. Chúng tượng trưng cho đặc điểm cơ bản của một người.

1. Vân tay là gì?

Mô hình của các đường biểu bì trên ngón tay, lòng bàn tay được gọi là dấu vân tay đầu tiên- là một phần cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Nó được đặc trưng bởi các đường vân gần như song song tạo thành các cấu hình có thể phân biệt được. Trên đầu ngón tay có ba kiểu mẫu chính được phân biệt đó là: vân xoáy, vân móc, vân cung.
 
Các vân móc xuất hiện như vòng trụ và các vòng tròn hướng tâm. Các cấu hình này được liên kết thành bộ ba. Bộ ba này bao gồm ba hệ thống đỉnh chóp hội tụ với nhau theo góc 120 độ. Các mô hình phức tạp hơn được gọi là tai nạn nhưng xảy ra tương đối hiếm. Hơn nữa, mô hình thể hiện nhiều khiếm khuyết (thường được gọi là những chi tiết chính xác về dấu vân tay) như trật khớp. Những chi tiết này đã nhận được sự chú ý đáng kể của khoa học pháp y bởi vì chúng làm cho mọi dấu vân tay của con người trở nên độc đáo và không thay đổi trong cuộc sống. Các nghiên cứu trước đây cho thấy các ứng dụng của dấu vân tay như chẩn đoán các khiếm khuyết di truyền nhất định và các nghiên cứu dân tộc mặc dù chúng dường như trở nên lỗi thời do sự ra đời của các phương pháp DNA.

Vân tay

Mô hình của các đường biểu bì trên ngón tay, lòng bàn tay được gọi là dấu vân tay

2. Sự hình thành dấu vân tay

Từ lâu người ta đã biết rằng có một mối liên hệ giữa mô hình chóp và các cấu trúc giải phẫu được gọi là miếng đệm lòng bàn tay. Các miếng đệm này xuất hiện tạm thời của da lòng bàn tay vào khoảng tuần thứ 7 ở đầu ngón (miếng đệm đỉnh), ở phần xa của lòng bàn tay giữa ngón và gan bàn tay. Các miếng đệm lòng bàn tay trở nên ít nổi bật vào khoảng tuần thứ 10 và sau đó biến mất trong phôi thai.
 
Các sự kiện quan trọng cho việc thiết lập mô hình sườn bì diễn ra từ tuần thứ 10 đến tuần thứ 16 của thai kỳ. Ở tuần thai thứ 10, da lòng bàn tay phôi thai bao gồm lớp biểu bì xếp lớp trên lớp hạ bì sợi vô định hình. Lớp trong cùng của lớp biểu bì tại giao diện với lớp hạ bì được gọi là lớp cơ bản và bao gồm các tế bào có trục vuông góc với bề mặt da. Sau đó, người ta quan sát thấy trong phôi thai của tuần thứ 10 đến tuần thứ 13 thì lớp cơ bản này trở nên gợn sóng.
 
Những gợn sóng nhanh chóng nổi bật hơn và hình thành các nếp gấp của lớp biểu bì vào lớp hạ bì. Các nếp gấp này được gọi là các đường gờ chính. Chúng được thiết lập mô hình bề mặt vào tuần thứ 16. Bởi vì các mô hình dấu vân tay được mã hoá tại giao diện giữa lớp hạ bì và lớp biểu bì nên chúng sẽ không bị phá huỷ bởi những vết thương ngoài da. Quá trình này sẽ tiếp tục và kết thúc trong khoảng tuần 19-24 của thai kỳ.
 
Sự hình thành các đỉnh nguyên sinh không xảy ra đồng thời trên bề mặt lòng bàn tay. Ví dụ: sự hình thành đỉnh trên đầu ngón tay và lòng bàn tay xảy ra trước sự hình thành đỉnh trên ngón chân và gan bàn chân. Hơn nữa, sự hình thành này bắt đầu tại một khu vực nhất định ở giữa miếng đệm của lòng bàn tay và dọc theo rãnh móng tay, và dọc theo nếp gấp uống con liên sườn. Diện tích của đỉnh thường trùng với tâm của các vòng. Bằng cách này, sẽ có ba hệ thống trên đầu ngón tay bắt đầu từ rãnh đỉnh, rãnh móng và nếp gấp uốn cong rồi từ từ lan rộng trên đầu ngón tay.

3. Ứng dụng dấu vân tay

Vân tay

Dấu vân tay có 4 ứng dụng cơ bản là Giám định pháp y, Sử dụng thiết bị thông minh, Quốc phòng và theo dõi hồ sơ

3.1. Giám định pháp y

Với mỗi người, các chất dịch dầu và tế bào chết trong một dấu vân tay có dư lượng chất khác nhau và quá trình trao đổi chất diễn ra cũng khác nhau. Vì vậy, nó sẽ được sử dụng cho các mục đích giám định pháp y.
Ví dụ như dấu vân tay của người hút thuốc lá sẽ có chứa nhiều dấu vết của cotinine do chất nicotine chuyển hoá, họ cũng có dấu vết của chất nicotine. Sự hiện diện của những chất này được gây ra bởi các tác dụng của ngón tay với sản phẩm thuốc lá.

3.2. Sử dụng thiết bị thông minh

Do không thể tồn tại hai dấu vân tay giống nhau nên ác thiết bị thông minh đã ứng dụng mạnh mẽ này vào sản xuất và sử dụng. Ứng đầu tiên là khoá điện tử nhận dạng bằng dấu vân tay. Khi các điểm trên dấu vân tay trùng khớp với dấu vân tay đăng ký ban đầu trong hệ thống thì cửa sẽ tự động mở. Và những ứng dụng này được tiếp tục đưa vào hàng loạt các thiết bị khác như: máy chấm công, khoá/mở vân tay trên điện thoại, ...

3.3. Quốc phòng

Dấu vân tay thu thập tại hiện trường vụ án hoặc các bằng chứng tội phạm đã được sử dụng trong khoa học pháp y để xác định nghi phạm hay nạn nhân. Nhận dạng vân tay được coi như hệ thống quan trọng trong các cơ quan cảnh sát ở thế kỷ 19, khi nó thay thế đo nhân trắc học là một phương pháp đáng tin cậy hơn để xác định tội phạm.

3.4. Theo dõi hồ sơ

Dấu vân tay phục vụ các chính phủ trên toàn thế giới trong vòng 100 năm qua để cung cấp xác định chính xác hồ sơ tội phạm. Vì vậy, dấu vân tay là công cụ cơ bản cho việc xác định người có tiền sử tội phạm trong cơ quan cảnh sát.
Dấu vân tay tồn tại suốt cuộc đời của một con người và nó sẽ không bị thay đổi về cấu trúc, đường nét theo thời gian. Nếu có thể thay đổi theo thời gian thì chắc chắn chỉ là sự thay đổi lớn lên của các mô mà thôi. Chính vì vậy, dấu vân tay là cơ sở khoa học quan trọng khám phá tiềm năng của con người. Việc đánh giá dấu vân tay sẽ giúp chúng ta dễ dàng đánh giá thiên khiếu bẩm sinh, hiểu được tính cách... của mỗi người.

Lấy dấu vân tay để truy tìm tội phạm như thế nào?

Những vụ thảm án, các vụ giết người, cướp ngân hàng hay trọng án... tuỳ theo trình độ mà thủ phạm có thể vô tình "để quên" những bằng cớ tố cáo thân phận của mình. Dấu vân tay là một trong những chứng cứ sắt đá ấy.
Vân tay là "chữ ký" sinh học riêng của mọi người
 
Dấu vân tay (finger print) là một trong các "chữ ký" sinh học mà bất kỳ người bình thường nào cũng có. Chúng luôn là duy nhất, bất kể bạn có anh chị em song sinh hay không, DNA có giống nhau hay không. Vì thế, vân tay là một công cụ tốt dùng để nhận dạng từng cá nhân trong cộng đồng. Đối với khoa học hình sự, đấy là công cụ để lần ra kẻ phạm tội, nhất là trong những vụ trọng án khi mà hung thủ đã trốn thoát khỏi hiện trường.
Nhưng cảnh sát đã làm thế nào để có được dấu vân tay nghi phạm? Hay nói cách khác, các chuyên gia hình sự làm những gì? Bởi vì không phải lúc nào "chữ ký" sinh học trên cũng thể hiện rõ ràng và dứt khoát. Trong nhiều trường hợp, gần như không thể truy ra được mẫu vân tay gốc.
Trong bài viết này, chúng tôi sẽ chỉ ra một số phương pháp mà các nhà điều tra hình sự thường dùng để lấy mẫu vân tay và thậm chí cả những loại vân khác của con người. Bạn cũng chú ý rằng ngoài việc điều tra tội phạm, các phương pháp trên còn có thể giúp ích trong việc tìm kiếm người bị hại, nạn nhân của các vụ thiên tai thảm hoạ vì đôi khi chúng ta không thể biết chắc một ai đó còn sống hay đã chết hoặc cái xác đang bị phân huỷ ấy có thể là ai...
 
Dấu vân tay có thể tìm thấy ở đâu?
Chúng có thể tìm thấy ở mọi nơi, miễn là một bề mặt rắn, bao gồm cả trên cơ thể người. Các nhà phân tích chia ra 3 loại vân tay tuỳ theo nơi mà chúng được tìm thấy. Trước hết là dấu vân trên những bề mặt mềm như xà phòng, sáp nến, khăn ướt... còn được gọi là vân "mềm" 3 chiều. 2 loại còn lại là vân trên bề mặt cứng và chia thành vân nhìn thấy (hay vân nổi - patent print) hoặc không nhìn thấy (hay vân chìm - latent print).
Hầu hết mọi bề mặt đều có thể lưu lại vân tay
 
Vân nổi có thể dễ dàng tìm thấy được vì chúng nổi lên trên các bề mặt khi máu, bụi đất, mực, sơn, dầu... mà hung thủ để lại trên bề mặt. Còn vân chìm rất khó nhận thấy bằng mắt thường, chúng được hình thành khi dầu và mồ hôi của hung thủ bám lên một bề mặt khác. Để tìm thấy vân chìm, các nhà điều tra phải dùng đến nhiều công cụ khác nhau để làm nổi bật chúng lên.
 
Vân tay được thu thập như thế nào?
Tuỳ theo loại vân, cách thu thập sẽ khác nhau. Dĩ nhiên với loại vân "mềm", chúng biến mất theo thời gian khi bề mặt vật chất thay đổi nên gần như rất khó thu thập. Thường các nhà điều tra thu thập 2 loại vân "cứng" còn lại.
 
Thu thập vân nổi
Đây là kiểu vân dễ thu thập nhất. Cách thu thập cũng rất đơn giản - máy ảnh. Nhà điều tra sẽ chụp lại ảnh vân tay ở độ phân giải cao rồi từ đó dùng các công cụ đo đạc hình sự để trích xuất ra thông tin. Họ có thể cải thiện chất lượng hình ảnh bằng cách thay đổi hướng ánh sáng khi chụp hoặc sử dụng những loại ánh sáng khác (alternate) hoặc một số hoá chất khác. Song thông thường thì việc này không cần thiết lắm.
 
Thu thập vân chìm
Không phải lúc nào mọi thứ cũng dễ dàng như vân nổi. Nếu hung thủ ranh ma, hắn sẽ không để lại mẫu vân nổi nào lại hiện trường. Song đôi khi vì "lơ đãng", một số vân chìm có thể sẽ tố cáo chính hắn. Hung thủ càng tiếp xúc với nhiều đồ vật thì rủi ro "rơi rớt" dấu vết càng cao. Giả định như lúc rửa tay hay đi toilet, kẻ phạm tội bỏ găng tay và để lại đâu đó xung quanh khu vực gây án.
 
Bột lưu vân tay
Một phương pháp phổ biến nhất để lấy vân chìm là phủ bụi lên khu vực có dấu vân bằng các loại bột lưu vân tay. Chúng sẽ bám lên các vị trí có vân tay và biến vân chìm thành vân nổi. Tiếp đấy các nhà điều tra sẽ chụp hình lại y như cách thu thập vân nổi. Sau đó, chúng còn được lưu mẫu bằng cách áp băng dính để lưu trữ về sau này. Tuy nhiên, các loại bột này có thể làm hư hại đến các bằng chứng liên quan khác có ở hiện trường khiến cho công tác điều tra bị ảnh hưởng. Vì thế, trước khi sử dụng loại bột trên, nhà điều tra có thể sẽ dùng các phương pháp lấy vân chìm khác để hỗ trợ.
 
Các loại ánh sáng khác nhau có thể giúp cải thiện chất lượng hình ảnh vân tay

Đây là phương pháp phổ biến thứ 2 và đang được nhiều nhà điều tra sử dụng vì có thể áp dụng lên hầu hết mọi bề mặt lấy mẫu (cửa chính, cửa sổ, tay cầm, thang vịn...). Một thiết bị phát tia laser hoặc LED với ánh sáng nằm trong một dải bức xạ cố định sẽ được quét lên bề mặt nghi án. Thậm chí những thiết bị cao cấp hơn có thể cung cấp các bộ lọc sáng khác nhau dành cho từng phổ màu hoặc bột lưu vân khác nhau. Lấy ví dụ, nhà điều tra có thể dùng ánh sáng xanh với bộ lọc màu cam để làm nổi bật dấu vân chìm hơn.

Căn buồng đặc biệt dùng cho việc phun keo siêu dính lên các vân chìm
Đây là tên một loại keo siêu dính, vốn sẽ được nhà điều tra phun sương lên bề mặt lấy mẫu trước khi cho bột vân tay hoặc thuốc nhuộm màu. Phương pháp này được dùng trên các bề mặt không xốp (non-porous) như mặt kính, gương, kim loại... vốn cho phép hơi cyanoacrylate bám lên. Sau đó, các vân tay có thể sẽ được nhìn thấy dưới ánh sáng đèn sáng trắng thông thường.
 
Các hoá chất hỗ trợ
Vân tay hiện màu tím khi tương tác với ninhydrin
Với các bề mặt xốp (porous) như gỗ, giấy... các nhà điều tra cần tới những loại hoá chất khác, ví dụ ninhydrin hay hoá chất tương tác vật lý, nhằm làm bật lên những chi tiết vân chìm. Từng loại hoá chất trên sẽ tương tác với từng loại thành phần của bề mặt tiếp xúc, như các amino acid hoặc hoặc muối vô cơ. Chất ninhydrin khiến các mẫu vân chìm chuyển sang màu tím, giúp chúng dễ chụp hình hơn. Trong khi DFO (1,2-diazafluoren-9-one) lại gây ra hiệu ứng huỳnh quang, các mẫu vân chìm sẽ sáng lên khi chúng được rọi bởi những tia sáng xanh-lam.
 
Các kỹ thuật khác
Ngoài các biện pháp đã nêu, còn một số những kỹ thuật đặc biệt khác chuyên dùng cho việc lấy mẫu van từ da người, vải vóc, quần áo hoặc các bề mặt khó khăn khác. Amido Black, một chất nhuộm màu protein, vốn phản ứng với sự hiện diện của bất kỳ loại protein nào (do sinh vật để lại), thường được dùng để tăng cường hình ảnh các vết máu nằm trên da người. Riêng với quần áo, một số kỹ thuật cao như kết tủa kim loại trong buồng chân không bằng bột vàng và kẽm, được dùng để hỗ trợ công tác điều tra.
AccuTrans, một phức chất đổ khuôn dạng lỏng, được dùng để tách các mẫu vân làm bằng bột lưu vân ra khỏi những bề mặt gồ ghề, cong hoặc dệt bằng sợi. Về cơ bản, đây là một chất lỏng sẽ lấp đầy những ngóc ngách hoặc lỗ hổng có trên bề mặt lấy mẫu, cho phép chúng dính tốt hơn với bột lưu vân, khi mà những mẫu băng dính để tách loại bột trên gặp nhiều khó khăn hơn trong quá trình bám dính.
Tuy vậy quá trình sử dụng hoá chất để lấy mẫu vân tay có thể làm giảm khả năng thu thập những thông tin khác có giá trị cho việc điều tra. Vì vậy các phép điều tra không làm hỏng (nondestructive) mẫu vật thường được tiến hành trước khi các phương pháp hoá chất được sử dụng. Lấy ví dụ, một mảnh giấy do hung thủ để lại sẽ được khám nghiệm trước bởi các chuyên gia về tài liệu trước khi được xử lý bằng ninhydrin, vì phản ứng hoá học của ninhydrin sẽ khiến một số loại mực bị biến mất, từ đó làm mất đi thông tin của hung thủ.
 
Quá trình phân tích vân tay
Sau khi mẫu vân tay được thu thập, có 4 bước mà nhà giám định vân tay cần thực hiện, được gọi là ACE-V (phân tích, so sánh, đánh giá và xác nhận), để quyết định liệu mẫu vân đó có phản ánh chính xác chủ của nó hay không.
Phân tích bao gồm việc xác định xem mẫu vân có thể dùng để so sánh được hay không. Nếu nó không phù hợp bởi các lý do như chất lượng kém hoặc số lượng các chi tiết nhận dạng không đầy đủ, quá trình giám định kết thúc và mẫu vân được báo cáo là không phù hợp. Nếu nó phù hợp, việc phân tích chấp nhận các chi tiết nhận dạng có thể dùng được và số lượng các sai số nằm trong khoảng cho phép. Quá trình phân tích trên thậm chí còn có thể tiết lộ thêm một số chi tiết vật lý khác mà mẫu vân gốc không có, giúp làm rõ thêm về hung thủ.
Nhà giám định dùng một thấu kính đặc biệt để đánh giá các chi tiết vi mô của vân tay

So sánh được thực hiện khi nhà phân tích nhìn vào mẫu vân của nghi phạm (có sẵn) và mẫu vừa được lấy từ quá trình phân tích. Họ sẽ so sánh các chi tiết nhỏ nhặt riêng biệt để quyết định xem chúng có trùng khớp hay không. Mẫu vân có sẵn thường được lấy từ những người có mặt tại hiện trường, nghi phạm hoặc các đối tượng có liên quan khác. Tất nhiên là đến cả từ những cơ sở dữ liệu về vân tay khác nếu nó không trùng khớp với bất kỳ người nào kể trên.
Đánh giá là giai đoạn mà nhà giám định sẽ đưa ra quyết định liệu các mẫu vân có đến từ chung một nguồn không (nhận diện được chủ mẫu vân) hoặc từ nguồn khác (loại trừ nghi vấn) hoặc không thể kết luận được. Trường hợp không kết luận được có thể do chất lượng các mẫu vân quá tệ, thiếu sót các khu vực có thể so sánh hoặc không có đủ số lượng các chi tiết đồng dạng hoặc không đồng dạng để có thể chắc chắn nó thuộc về ai.
Xác nhận là lúc mà một nhà giám định khác, độc lập thực hiện 3 bước trên nhằm để xem họ có đưa ra quyết định giống như nhà giám định ban đầu hay không. Bước kiểm tra chéo này nhằm loại bỏ các sai sót mang tính chủ quan mà nhà giám định đầu tiên có thể mắc phải.
 
Beyond Biometrics: Do Fingerprints Represent Blueprint for t
 
 
    Sưu tầm và tổng hợp by Nguyễn Ngọc Quang   

Ảnh minh họa

db43c148c6ox4y5hrxvc7lqb668gdb43c148c6ox4y5hrxvc7lqb668gc6ox4y5hrxvc7lqb668g

Xem thêm...

Leica con tàu tự do

Leica con tàu tự do

 ◄ ◊ ► ◄ ◊ ► ◊ ◄ ◊ ◄  ◊ ►

Dân rành nhiếp ảnh ai cũng biết tiếng Leica, hãng làm ống kính hàng đầu thế giới. Nhưng có lẽ ít ai biết là trước khi Đệ Nhị Thế Chiến bùng nổ, chủ công ty Ernst Leitz II đã cứu nhiều người Do Thái khỏi cuộc thanh trừng của Hitler.

Ernst Leitz I (1843-1920) Nguồn: Internet     

Cha của Ernst Leitz II, Ernst Leitz I, sinh năm 1843 tại Baden, Ðức. Từ nhỏ ông được cha mẹ cho vào nhà dòng để học, với hy vọng ông sẽ thành nhà tu. Nhưng năm 21 tuổi Ernst I rời nhà dòng và dọn đến thành phố Wetzlar, một thời là thủ phủ của vương quốc Holy Roman Empire, để làm việc trong xưởng kính hiển vi Optisches Instituts của nhà phát minh danh tiếng Carl Kellner. Tại đây Ernst I học được nghề làm dụng cụ quang học và hoá học. Chỉ một năm sau, 1865, ông trở thành hội viên hùn vốn trong công ty của Kellner. Khi Kellner đột ngột qua đời năm 1869, Ernst Leitz lên làm chủ công ty và đổi tên hãng sang tên mình — Ernst Leitz GmbH.

Khác với Kellner, Leitz là một nhà khoa học có đầu óc kinh doanh, và một nhà kinh doanh có đầu óc khoa học. Tất cả các sản phẩm của Leitz đều được đánh số theo thứ tự — serial number, và ông bắt đầu mở rộng thị trường sang các lãnh vực ngoài kính hiển vi mặc dù đó là thị trường lớn nhất cho công ty thời bấy giờ. Năm 1907 công ty Leitz đã tặng chiếc kính hiển vi mang số 100,000 cho nhà dịch tễ học nổi tiếng Robert Koch, cha đẻ của vaccine. Leitz còn được biết đến như một nhà tư bản giàu lòng từ thiện có khuynh hướng xã hội. Ông lập ra chương trình bảo hiểm y tế cũng như quỹ hưu trí cho nhân viên, và đặt ra quy chế làm việc tối đa 40 giờ một tuần.

Ernst Leitz II (1871-1956) Nguồn: Internet

Sau Ðệ Nhất Thế Chiến, kinh tế Ðức xuống dốc thê thảm và công ty Leitz cũng bị khủng hoảng theo. Ernst Leitz mất năm 1920, người con trưởng là Ernst Leitz II lên thay. Mặc dù tình hình tài chánh bấp bênh, Leitz quyết định đầu tư vào ngành phim ảnh. Ông chiêu dụ nhà phát minh Oskar Barnack từ đối thủ Carl Zeiss và giao cho Barnack nhiệm vụ nghiên cứu các loại ống kính dùng cho điện ảnh và nhiếp ảnh.

Từ loại phim 35mm dùng trong điện ảnh, Barnack chế ra chiếc máy ảnh cầm tay đầu tiên với khổ phim 24×36 mm để tạo nên khung ảnh với tỉ lệ 2:3 mà ông cho là “vừa mắt” nhất. Tại hội chợ mùa Xuân năm 1925 ở Leipzig, máy ảnh Leica ra mắt công chúng lần đầu tiên và ngay lập tức trở thành món hàng nóng nhất thời bấy giờ. Nó thay đổi hoàn toàn ngành báo chí; trong tay phóng viên các tờ báo như Life, Picture Post nay có thêm một vũ khí vô cùng lợi hại. Thành công ngoài sự tưởng tượng của Leica đã giúp Leitz vượt qua cơn khủng hoảng kinh tế.

Ngoài máy ảnh, Leitz còn sản xuất nhiều loại ống kính đặc biệt cho nhiều ngành kỹ nghệ khác như địa chất học, y học, hoá học, địa lý học v.v. Leitz xuất cảng sản phẩm của mình đến khắp nơi trên thế giới; Mỹ là một thị trường quan trọng vì nó mang lại nhiều ngoại tệ mà Ðức lúc đó rất cần. Không những vậy, một trong những khách hàng lớn của Leitz là quân đội Ðức vì Không Quân rất cần đến các dụng cụ chụp không ảnh dùng cho máy bay trinh thám. Chưa kể việc ban tuyên giáo của Ðức Quốc Xã thời bấy giờ, dưới sự điều khiển của Joseph Goebbels, đã biết tận dụng nhiếp ảnh và phim ảnh để tuyên truyền cho chế độ.

Elsie Kuhn-Leitz (1903-1985). Nguồn: Internet

Giống như cha mình, Ernst Leitz II cũng là một người chủ biết lo cho nhân viên, luôn quan tâm đến gia đình họ. Vì công ty chuyên chế tạo các sản phẩm đòi hỏi lượng lao động cao tay nghề, Leitz có khá nhiều nhân viên là người Do Thái. Từ thập niên 1930 chủ nghĩa dân tuý ở Ðức bắt đầu trổi dậy, phong trào “Aryan thượng đẳng” bành trướng. Ðến khi Hitler lên nắm chánh quyền năm 1933 và đạo luật Nuremberg Law đàn áp người Do Thái ra đời thì Ernst Leitz II biết đã đến lúc phải giúp nhân viên mình đi trốn.

Ðể cho họ có thể rời Ðức một cách hợp pháp, ông mượn tên các đại lý của công ty Leitz ở nước ngoài để xin visa làm việc cho họ. Một số con cái của nhân viên được ông mướn vào xưởng ở Wetzlar để học nghề, rồi sau đó gởi họ sang Mỹ, Anh, Pháp, Hồng Kông v.v. như nhân viên của Leitz. Ông làm trong âm thầm, không cho ai biết trừ một vài nhân viên thân cận và cô con gái tên Elsie. Việc làm này dĩ nhiên cực kỳ nguy hiểm vì nếu bại lộ ông có thể bị tù tội, công ty phải đóng cửa. Nhưng ông vẫn cứ làm.

Hãng Leitz tại Wetzlar vào thế kỷ 19. Nguồn: Internet

Tất nhiên dưới chế độ công an trị như Nazi thì việc làm của Leitz đâu làm sao giấu được cảnh sát. Một lần nọ Gestapo bắt được lá thư giới thiệu việc làm cho một nhân viên của Leitz, ký bởi một viên chức cấp cao tên Mark Turk. Cảnh sát Gestapo bắt giam Turk mấy tháng trời. Ernst Leitz phải đích thân đi Berlin thương lượng để Gestapo thả Turk ra (với điều kiện ông Turk không được làm việc cho công ty nữa).

Ngoài việc trả tiền cho các gia đình nhân viên đi vượt biên, Leitz còn cho mỗi người một chiếc máy ảnh Leica phòng thân, để khi đến bờ tự do họ có thể bán lấy tiền nếu cần. Chính phủ Ðức tuy biết việc làm của Ernst Leitz nhưng không thể bắt ông vì họ biết công nhân trong hãng rất thương chủ. Nếu không có ông thì chắc chắn họ sẽ đình công, việc buôn bán sẽ đình trệ, quân đội sẽ không có những dụng cụ cần thiết, và nhà nước sẽ mất một số lượng ngoại tệ đáng kể.

Oskar Barnack thử nghiệm máy quay phim

của ông vào thập niên 1920-1930. Nguồn: Internet

Chương trình vượt biên này kéo dài đến năm 1939 mới bị dứt, sau khi Ðức xâm lăng Ba Lan và đóng cửa biên giới, khai mào Ðệ II Thế Chiến. Trong những năm chiến tranh Ðức còn gởi mấy trăm người nô lệ từ Ukraine, toàn là phụ nữ, đến Wetzlar để làm lao động trong xưởng của Leitz. Bà Elise Kuhn-Leitz đã ngấm ngầm hỗ trợ cho những người này. Có lần bà bị bắt và đánh đập trong trại giam vì đã giúp một người đàn bà trốn sang Thuỵ Sĩ.

Tất cả những hành động cứu người của công ty Leitz đều được giữ kín. Ernst Leitz II cấm con cái nói với công chúng những điều này. Ông dạy các con khi làm việc thiện không được khoa trương. Số người được ông cứu mạng tuy không nhiều (con số chính thức chỉ khoảng vài chục), nhưng sự biết ơn của gia đình họ dĩ nhiên là vô bờ. Nhiều người về sau đã rất thành công ở Mỹ. Nhờ họ mà một số chi tiết về cuộc vượt biên độc đáo này mới được hé lộ.

Frank Dabba Smith, một giáo sĩ Do Thái người Mỹ hiện sinh sống ở Luân Ðôn, là người đã có công truy lùng những người này, luôn cả con trai của bà Elsie tên Knut, để viết một quyển sách tựa đề “Phát minh vĩ đại nhất của gia đình Leitz: Leica, Con Tàu Tự Do” (2002). Là một nhiếp ảnh gia tài tử và fan của Leica, ông Smith đã bỏ ra nhiều năm trời truy cứu các dữ liệu cho câu chuyện vô cùng bí mật này. Knut, cháu ngoại của Ernst Leitz II, kể với Dabba Smith: “Ông ngoại luôn nói với chúng tôi ‘Hãy làm việc tốt, nhưng đừng bao giờ kể ai nghe’. Nếu còn sống, ông tôi sẽ không muốn thấy cuộc phỏng vấn này.” (Ian Bui)

Một chiếc máy ảnh Leica năm 1925, giờ thuộc hạng quý hiếm. Nguồn: Internet

 

✧✧✧

Tìm hiểu về máy ảnh Leica: 

Máy ảnh Leica có tốt không?

Hầu như sản phẩm nào của Leica được tung ra thị trường đều ghi điểm về chất lượng cũng như kiểu dáng, vậy nên đối với câu hỏi này bạn có thể hoàn toàn yên tâm là TỐT. Máy ảnh Leica sử dụng cảm biến CCD của Kodak, cảm biến này được lắp gọn trong máy và được bảo vệ bởi khung ngoài của máy. Khung máy được thiết kế để đảm bảo chắc chắn, bảo vệ tốt các thiết bị bên trong khỏi va đập, điều kiện bất lợi bên ngoài.

Sau khi được lắp ráp thành một chiếc máy hoàn chỉnh, máy ảnh Leica được kiểm tra kỹ càng tất cả các lỗi với 1800 bộ phận riêng biệt. Sau đó máy tiếp tục được kiểm tra kỹ thuật như về các nút bấm, độ chính xác của hệ thống lấy nét hay độ nhạy, độ ổn định của cảm biến rồi mới chính thức đưa ra thị trường.

Ngay từ khi ra đời chiếc Ur-Leica năm 1914, thương hiệu này đã nhanh chóng gặt hái thành công ngoài sức tưởng tượng. Tuy nhiên, vì gián đoạn bởi chiến tranh nên đến 1924 và 1925, những chiếc máy ảnh Leica mới lần lượt được đưa vào sản xuất và giới thiệu đến công chúng.

Sau Thế chiến thứ II, máy ảnh Leica lan rộng ra khắp thế giới nhờ chất lượng hình ảnh không thể chê với chuẩn phim 35mm.

Kể từ năm 1954, máy ảnh Leica dòng M ra đời với chất lượng hình ảnh hàng đầu, không thể thiếu cho các phóng viễn cũng như nhiếp ảnh gia.

Năm 2006, trào lưu máy số hiện đại Leica M8 xuất hiện đã khiến giới nhiếp ảnh và giới phóng viên choáng ngợp vì sự kết hợp hoàn mỹ giữa tính bảo thủ của người Đức và sự hiện đại của người Nhật. Phiên bản này cũng đánh dấu sự chuyển giao thời kỳ kỹ thuật số của dòng máy ảnh Leica M.

Năm 2009, Leica M9 ra đời, đặt dấu ấn mới trong thời đại ảnh số với

máy Rangerfinder đầu tiên trên thế giới dùng cảm biến full frame 24×26 mm.

Tại sao máy ảnh Leica lại đắt đến thế?

Nhìn vào giá bán của máy ảnh Leica, hẳn nhiều người sẽ cảm thấy rất sốc vì có rất ít mẫu giá rẻ, rẻ nhất cũng khoảng 15 triệuvn còn đâu đều có giá vài chục cho đến vài trăm triệu. Tuy nhiên nếu bạn biết được những nguyên nhân sau đây thì sẽ không còn ngỡ ngàng vì mức giá đó nữa.

Máy ảnh Leica đắt bởi độ bền, độ chuẩn xác cao, kỹ thuật và sự tinh tế đã được cả thế giới công nhận. Mỗi thành phẩm được xuất xưởng đều được chế tác thủ công, máy móc chỉ đóng vai trò phụ trợ trong các tác vụ như kiểm tra kính, mài kính, kiểm tra thông số kỹ thuật… Nhưng nếu chỉ có thế vẫn chưa đủ để thuyết phục bạn, phải không nào? Vậy thì hãy tiếp tục đến với lý do sau.

Bạn có biết, cùng một thông số nhưng ống kính máy ảnh của Leica chưa bao giờ bán ra với con số dưới 5000 USD? Thực tế là vậy. Nếu ở Canon, để sản xuất một ống kính trung bình thì thời gian hạ nhiệt (giai đoạn quan trọng quyết định đến độ bền và độ trong của ống kính) chỉ khoảng vài ngày đến 1 năm là lâu nhất.

Nhưng với ống kính Leica, trung bình thời gian hạ nhiệt khoảng từ 2 năm trở lên, cá biệt một số loại như ống kính Leica Noctilux 50 mm f/0.95 có thời gian hạ nhiệt tận 10 năm. Hãy thử tưởng tượng xem trong ngần ấy thời gian sẽ phát sinh ra biết bao chi phí liên quan như giá thành về năng lượng, giá thành nhân công quản lý cũng như xác suất hư hỏng xảy ra trong quá trình gia công sản phẩm. Vì vậy, đừng quá kinh ngạc cho câu trả lời vì sao máy ảnh Leica vẫn trụ lại trên thị trường bất chấp thời gian dù nó có là đắt nhất thế giới.

Và điều cuối cùng khiến máy ảnh Leica khác biệt, cũng như quyết định giá thành của nó là sự khác biệt: khác biệt về đẳng cấp, khác biệt về chất lượng.

Để đảm bảo chất lượng sản phẩm, Leica không hề theo chân các đối thủ cạnh tranh trong việc cải tiến giảm thời gian sản xuất sản phẩm và mặc dù là nhà phát triển nguyên lý lấy nét tự động nhưng hãng không bao giờ áp dụng chúng cho các sản phẩm của mình. Bởi lẽ, Leica tin rằng lấy nét thủ công sẽ giúp bức ảnh có hồn hơn, mỗi lần chụp đều là nghệ thuật và nghệ thuật thì không nên có sự can thiệp của quá nhiều kỹ thuật. Có thể nói đây là niềm tự hào và cũng là sự bảo thủ của nhà sản xuất thiết bị quang học huyền thoại này.

Tóm lại, đối với máy ảnh Leica, câu thành ngữ “Tiền nào của nấy” là vô cùng chính xác. Hy vọng bài viết này đã phần nào giúp bạn tháo gỡ những khúc mắc về thương hiệu này đồng thời mang đến cho bạn cái nhìn mới về thương hiệu máy ảnh đắt tiền này. 

Triết lí bền vững

Sang trọng và lặng lẽ, Leica chứa đựng tất cả sự tinh tế, chính xác và tính bảo thủ của người Đức, “là điều tuyệt vời của nước Đức” – Jim Rakete.

Chỉ với một câu nói đã cho thấy được nét đẹp huyễn hoặc và tinh tế và Leica đem lại, chứa đựng trong đó là bản chất con người Đức, tỉ mỉ, chính xác, hoàn mĩ và bảo thủ. Không áp dụng quy trình tự động hóa để tăng số lượng như các hãng Canon hay Nikon, ở Leica do các nghệ nhân chế tác bằng tay nên số lượng sản phẩm tạo ra không nhiều những vô cùng chất lượng.

Chất lượng thấu kính đỉnh cao

Dường như không nhiều người biết rằng để có được một thấu kính chất lượng cao như thế, thì các nghệ nhân của Leica phải tốn 2 – 3 năm thậm chí 10 năm cho thời gian hạ nhiệt (Quyết định tới độ trong và bền bỉ của ống kính) do dùng trong khi nhiều nhà sản xuất chỉ mất có vài tháng thậm chí vài ngày.

Những bức ảnh chụp bằng ống kính Leica cho khả năng tái tạo hình ảnh tuyệt hảo, độ tương phản chân thực và vô cùng tự nhiên. Nó cho phép những người đam mê nhiếp ảnh tự do sáng tạo và bay bổng.

Bởi thế, mà một chiếc thấu kính Leica ra đời chứa đựng trong đó là tình yêu, sự kiên trì và đôi bàn tay khéo léo của những nghệ nhân Leica.

Đơn giản để tập trung vào những điều quan trọng

Khi nhiều nhà sản xuất muốn sử dụng càng nhiều công nghệ, tính năng cho sản phẩm của mình càng tốt thì những giá trị cốt lõi, những điều đơn giản nhất lại không được chú trọng. Tuy nhiên, với Leica điều đáng quan tâm là sự đầu tư và tập trung tối ưu cho những điều cần thiết và quan trọng nhất. Các sản phẩm của Leica luôn được thiết kế từ nền tảng một cách tối ưu mang tới những trải nghiêm đầy đủ nhất, chuẩn xác nhất. Vì lý do đó mà từ những chiếc Leica đầu tiên, việc phát triển cơ khí và quang học nhằm mang tới những tính năng thực sự cần thiết vẫn luôn là mối quan tâm lớn nhất của hãng.

Đơn giản để tập trung vào những điều quan trọng

Giá trị lâu bền

Leica là tài sản có thể truyền lại từ đời này sang đời khác mà vẫn đạt được hiệu năng làm việc như ngày đầu tiên. Ví dụ như chiếc 1923 Leica 0-Series được xuất xưởng vào năm 1923 và đến ngày nay vẫn được săn tìm thậm chí là bỏ ra cả triệu đô la để được sở hữu nó. Không chỉ là bởi đó là đồ dùng cổ mà còn do vẻ đẹp nghệ thuật và hơi thở cổ điển mà nó đem lại.

Mỗi một sản phẩm Leica trước khi được tung ra thị trường đều phải vượt qua một quy trình kiểm tra chặt chẽ, nghiêm ngặt nhằm mang lại những tác phẩm nghệ thuật đích thực, một thứ để truyền lại cho thế hệ sau như một gia tài.

Thiết kế cổ điển mang nhiều tính nghệ thuật

Từ những giá trị cốt lõi bền vững, lí tưởng hơi có phần bảo thủ, sự tập trung cho những cái gì quan trọng nhất, luôn đặt tình yêu của mình cho từng sản phẩm được làm ra nên ở Leica luôn có sự hoàn mỹ trong nét đẹp và sự hoàn hảo trong từng khung hình.

-------------

Theo websosanh

Kim Quy st tổng hợp

Xem thêm...

Đeo tấm chắn có giúp chặn virus corona thâm nhập?

Đeo tấm chắn có giúp chặn virus corona thâm nhập?

•°҈°•°҈°•°҈°•°҈°•°҈°•°҈°•

 

image

 

Hít vào đầy một buồng phổi, Kerstin Rosenfeldt bước vào vị trí trên bục cao. Đèn tắt. Không khí tĩnh lặng. Sau đó, cô mở miệng phát ra một đoạn ngắn giai điệu opera.

Lan truyền qua khí dung

Khi cô hát, một màn mịn những giọt nhỏ li ti bắn ra từ đường thở của cô, ánh đèn sáng choang tắt ở một phía làm cho chuyển động xoay vần của những giọt bắn hiện rõ.

Với mỗi từ cô phát ra, đám mây giọt bắn bay nhanh về phía trước sau đó quay vòng một cách lờ đờ trong không khí cách khoảng một mét trước mặt cô.

Màn sương này là khí dung mô phỏng, được cấu thành từ hơi nước cô đã hít vào chỉ trong chốc lát trước khi bắt đầu hát.

Tuy có phần phóng đại, nhưng lớp khí dung này là nhằm để tái hiện lớp màng mịn dịch hô hấp được phun ra khi mọi người nói, thở và hát.

Mỗi khi chúng ta thốt ra chỉ một vài từ, chúng ta sẽ phun ra hàng ngàn giọt bắn khí dung, vốn hầu như không thể nhìn thấy được bằng mắt thường, vào không khí trước mặt chúng ta.

image

Khi một ai đó bị nhiễm virus đường hô hấp như virus gây bệnh Covid-19, mỗi giọt khí dung có thể chứa hàng nghìn hạt có chứa virus, mà mỗi hạt đều có khả năng lây nhiễm cho những người xung quanh nếu hít phải chúng.

Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy các hạt khí dung lơ lửng có virus corona có thể đóng vai trò lớn trong việc làm lây lan Covid-19.

Tổ chức Y tế Thế giới vốn không coi Covid-19 là bệnh lây truyền qua không khí – tức là có thể tồn tại trong không khí trong một thời gian đáng kể mà vẫn có thể lây nhiễm – nhưng giờ đây nhiều nhà khoa học tin là có.

image

Tấm chắn nhựa đã đóng vai trò then chốt trong bộ thiết bị bảo hộ dành cho các nhân viên y tế làm việc ở tuyến đầu trong đại dịch Covid-19

May mắn thay, Rosenfeldt không làm lây lan virus corona khi cô hát trên sân khấu tại phòng thu của Bavarian Broadcasting ở Unterföhring, Munich.

Những luồng khí dung từ miệng và mũi của cô được theo dõi chặt chẽ bằng camera tốc độ cao do Matthais Echternach, trưởng khoa âm thanh và thính học nhi tại Bệnh viện Đại học Ludwig-Maximilians, và Stefan Kniesburges, chuyên gia cơ học chất lỏng tại Bệnh viện Đại học Erlangen, thiết lập.

Họ hy vọng là có thể xác định được là các ca sĩ cùng trình diễn trên sân khấu hoặc trong các dàn hợp xướng cần phải giữ khoảng cách với nhau và với khán giả bao xa để giảm nguy cơ lây lan Covid-19.

Giọt bắn bay xa

image

Mức độ văng xa của khí dung khi một ca sĩ hát bằng cả nội lực thật là đáng kinh ngạc.

“Một số ca sĩ chuyên nghiệp có thể tạo ra một đám mây khí dung xa tới 1,4m trước mặt họ,” Echternach nói.

Những giọt bắn lớn hơn – giống những giọt nước bọt nhỏ – bay về phía trước và bay xuống dưới để đáp lên những bề mặt cách xa khoảng 1,5m.

Ho có thể làm cho các hạt khí dung bay xa hơn – lên đến 1,9m, trong khi các nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng việc hắt hơi có thể bắn ra các đám mây khí dung xa tới 8 mét.

Khi Rosenfeldt đeo khẩu trang – loại bạn thấy các bác sĩ đeo trong phòng phẫu thuật – tình hình thay đổi đáng kể.

Thay vì bay cuồn cuộn trước mặt, luồng khí bắn ra bị chặn lại.. Các tia khí dung bắn lên qua những khoảng hở nơi chiếc khẩu trang che trên mũi cô ấy, thoát ra hai bên.

Mặc dù rõ ràng là virus vẫn có thể thoát ra không khí qua khẩu trang như thế này, nhưng lượng khí dung mang virus đã giảm đi đáng kể.

“Không có giọt bắn lớn khi đeo khẩu trang,” Echternach nói. “Sẽ gặp nhiều vấn đề hơn với khí dung nếu khẩu trang đeo không khít, bởi khi đó khí dung sẽ có đường dễ dàng nhất thoát ra ngoài và thoát ra qua khẩu trang. Khẩu trang làm giảm tốc độ của khí dung ở phía trước.”

Các thử nghiệm với chín ca sĩ khác từ dàn hợp xướng Đài phát thanh Bavaria cho kết quả tương tự.

Mọi người đều vất vả khi hát mà phải đeo khẩu trang – như hầu hết chúng ta, vốn đeo thậm chí là khẩu trang tự may trong những tháng gần đây, sẽ biết, đeo khẩu trang sẽ khó thở hơn và miếng vải có thể làm át đi tiếng hát.

“Hát khi đeo khẩu trang gần như là không thể,” Echternach, bản thân cũng là một ca sĩ qua trường lớp, nói. “Vì vậy, chúng tôi đã thực hiện một thí nghiệm khác với hai ca sĩ đeo tấm chắn.”

image

Khí dung và giọt bắn bay xa nhất khi ho hoặc hắt hơi,
nhưng ta vẫn xả ra chúng khi hát, nói hoặc thậm chí chỉ thở.

Đó là những tấm chắn nhựa trong bộ trang bị bảo hộ cá nhân mà bác sĩ điều trị bệnh nhân Covid-19 thường đeo, nhưng hiện nay những tấm chắn này đang trở nên phổ biến ở những nơi khác như cửa hàng, thẩm mỹ viện và quán bar.

Một số dàn hợp xướng cũng đã bắt đầu luyện tập với tấm chắn.

Nhiều người đã chọn tấm chắn để thay cho khẩu trang vải khi họ ra khỏi nhà trong thời đại dịch.

Ở một số quốc gia, bao gồm cả Vương quốc Anh, chính phủ đã đưa ra lời khuyên chính thức rằng những ai làm các công việc tiếp xúc gần gũi với công chúng, chẳng hạn thợ làm tóc, thợ cắt tóc, thợ làm đẹp, thợ xăm và thợ chụp hình studio, phải đeo tấm chắn.

Một số bang của Mỹ cũng khuyến cáo những người làm chứng trước tòa, giảng bài hoặc biểu diễn trước công chúng phải đeo tấm che mặt.

Chính phủ Singapore cũng đưa ra lời khuyên tương tự trong khi một số bang ở Úc nói rằng tấm chắn có thể thay cho khẩu trang nơi công cộng.

Hiệu quả ra sao?

image

Những tấm chắn này chắc chắn rất hiệu quả trong việc ngăn những giọt bắn lớn từ nước bọt bắn khỏi miệng người đeo – Echternach và các thí nghiệm của nhóm ông cho thấy mặt các tấm chắn nhanh chóng lấm tấm hơi ẩm.

Tương tự, chúng cũng giúp giữ cho nước bọt của người khác không bắn vào mặt người đeo.

 

Vấn đề là điều gì sẽ xảy ra với khí dung khi đeo tấm chắn nhựa?

“Gần như toàn bộ khí dung đều bám xung quanh tấm chắn và văng xa với khoảng cách gần như bằng với khoảng cách khi không đeo,” Echternach nói.

Những kết quả này vẫn chưa được công bố, nhưng Echternach nói rằng chúng là lời cảnh báo cho bất kỳ ai chỉ dựa vào tấm chắn để giữ mình an toàn khi lệnh phong tỏa được nới lỏng.

“Chúng chắc chắn không hiệu quả khi bạn tiếp xúc gần với ai đó,” ông cho biết.

Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ dường như đồng ý với ông – họ không khuyến nghị sử dụng tấm chắn trong các hoạt động thông thường hàng ngày hoặc dùng thay thế cho khẩu trang.

Giới chức y tế Thụy Sĩ cũng cảnh báo không nên dùng tấm chắn thay cho khẩu trang sau khi cuộc điều tra về việc bùng phát Covid-19 tại một khách sạn ở bang Graubünden cho thấy tất cả những người bị nhiễm đều đeo tấm chắn nhựa, trong khi những người không bị nhiễm là những người đã đeo khẩu trang.

Tuy nhiên, bằng chứng khoa học xung quanh tính hiệu quả của tấm chắn còn chưa thống nhất.

image

Kerstin Rosenfeldt thở ra một lồng ngực đầy hơi nước trước khi hát để chứng minh các hạt siêu nhỏ có thể bay xa tới đâu theo đường hô hấp.

Trong khi nghiên cứu của Echternach xem xét điều gì sẽ xảy ra khi người có thể mang virus trong người nay đeo tấm chắn, thì các nhà nghiên cứu khác cố gắng đánh giá xem tấm chắn có thể bảo vệ người đeo khỏi những người xung quanh ra sao.

Nghiên cứu chưa được công bố gần đây của Viện Nghiên cứu Sinh học Israel đã sử dụng giấy nhạy nước dán quanh mặt một mannequin đeo tấm chắn nhựa.

Đối với những giọt bắn lớn xịt trực tiếp vào mặt mannequin ở khoảng cách 60cm khi ho hoặc hắt hơi, nó có hiệu quả như khẩu trang. Tấm chắn cũng dường như có hiệu quả hơn gấp 10 lần trước khí dung mịn so với khẩu trang.

Tấm chắn mang lại một số lợi thế so với khẩu trang, chẳng hạn như bảo vệ mắt – vốn có thể là điểm xâm nhập vào cơ thể của một số virus.

Chúng cũng có thể giúp giảm nguy cơ mọi người chạm tay lên mặt và bị lây nhiễm bất kỳ loại virus nào dính vào tay họ.

Chúng cũng thường được xem là thoải mái hơn và lớp kính ít bị mờ hơn khi người đeo thở ra.

Lợi thế của tấm chắn

image

“Tấm chắn đem lại một số lợi thế,” Eli Perencevich, nhà dịch tễ học tại Đại học Iowa, viết trong một bài báo mới đây trên Tạp chí Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ để kêu gọi sử dụng rộng rãi tấm chắn.

“Trong khi khẩu trang y tế có độ bền hạn chế và ít có khả năng được tái chế thì tấm chắn có thể được dùng đi dùng lại vô thời hạn, dễ dàng được làm sạch bằng xà phòng và nước hoặc các chất khử trùng gia dụng thông thường. Những người đeo khẩu trang y tế thường phải tháo nó ra để giao tiếp với những người xung quanh; điều này không cần thiết khi đeo tấm chắn.”

image

Nhiều cơ sở dịch vụ đã trang bị tấm chắn cho nhân viên của mình

Nhưng tấm chắn dường như chỉ thực sự hiệu quả trong điều kiện lý tưởng: khi ai đó ho trực tiếp lên bề mặt nhựa.

Trong hầu hết các tình huống hàng ngày, chẳng hạn như trong tiệm làm tóc, người đeo tấm chắn có thể di chuyển đến gần khách hàng khi họ cắt tóc.

Khi các nhà nghiên cứu Israel di chuyển ‘nguồn gây ho’ chỉ 30cm lên trên hoặc dưới khẩu trang – nhưng vẫn giữ nó cách xa 60cm theo chiều ngang – khuôn mặt mannequin lốm đốm những giọt nước bắn ra xung quanh các cạnh của tấm chắn.

Trong những tình huống này, họ ước tính rằng tấm che mặt chỉ có hiệu quả 45% trong việc chặn các giọt bắn.

Các thí nghiệm với khí dung và giọt bắn thật sự có chứa virus mới chỉ được thực hiện rất ít, nhưng phân tích do Viện Sức khỏe và An toàn Lao động Quốc gia Hoa Kỳ ở Morgantown, West Virginia, tiến hành phát hiện rằng tấm chắn có thể chặn 96% các giọt bắn lớn khi các giọt bắn này chứa virus cúm.

image

Nhưng với những giọt ho khí dung nhỏ hơn, có kích thước chưa tới 3,4 micromet,
tấm chắn chỉ chặn được 68%.

Nhưng có một vấn đề phức tạp khác nữa.

Như thí nghiệm của Echternach với các ca sĩ cho thấy, màn sương mịn thoát ra khi chúng ta nói chuyện, hát hoặc ho không đơn giản biến mất khi nó bắn cách xa một mét.

Trong khi các giọt lớn hơn sẽ nhanh chóng rơi xuống mặt đất hoặc các bề mặt khác, các giọt bắn siêu nhỏ chúng ta tạo ra có thể vẫn lơ lửng trong không khí trong vài phút và trong một số trường hợp là hàng giờ trong điều kiện rất tĩnh lặng.

Trong các căn phòng được thông gió tốt, hoặc những căn phòng không khí bị xáo động, thời gian chúng lơ lửng trong không khí được cho là thấp hơn nhiều.

 

Nên đeo thêm khẩu trang

Thậm chí có một số báo cáo cho thấy những giọt bắn nhiễm virus corona có thể lây lan qua hệ thống thông gió của các tòa nhà – miếng gạc của cửa thoát khí tại một bệnh viện ở Singapore điều trị cho bệnh nhân Covid-19 được xét nghiệm dương tính với virus.

image

Khi đeo khẩu trang, khí dung thoát ra ở các khe hở phía trên và hai bên thay vì bay ra xa.

Khi khí dung chứa đầy virus bay lảng vảng trong phòng, chúng có thể dễ dàng len lỏi vào các khe hở lớn ở mé tấm chắn nhựa. Các thí nghiệm của Viện Quốc gia về An toàn và Vệ sinh Lao động cho thấy khí dung phân tán khắp phòng trong vòng 30 phút sau khi ho. Trong tình huống này, tấm chắn giúp giảm chỉ 23% lượng khí dung chứa virus được hít vào.

Tất nhiên, vẫn chưa rõ có bao nhiêu con virus corona có thể có trong các giọt khí dung. Nghiên cứu về bệnh cúm cho thấy các giọt bắn mịn siêu nhỏ thuộc loại có thể tồn tại dai dẳng trong không khí có thể chứa hàng chục nghìn con virus cúm. Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy rằng virus có thể tồn tại trong những giọt bắn này đến ba giờ đồng hồ dưới dạng lơ lửng trong không khí.

Hầu hết nhà nghiên cứu, bao gồm cả Echternach, đồng ý rằng có lẽ cách hiệu quả nhất để sử dụng tấm chắn là đeo thêm một chiếc khẩu trang bên dưới nó.

“Chỉ đeo tấm chắn thôi sẽ không có tác dụng bảo vệ cho lắm,” Echternach nói. Ông nói thêm rằng chiếc khẩu trang bên dưới càng khít chừng nào càng tốt chừng đấy.

image

Khoảng trống có thể khiến khí dung thoát ra và xâm nhập – ngay cả với khẩu trang khít chặt như mặt nạ phòng độc N95, râu ria quanh chỗ khép có thể làm giảm hiệu quả của chúng.

Đối với những người muốn tham gia trở lại dàn hợp xướng hoặc hát trong các buổi lễ tôn giáo, Echternach và các đồng nghiệp của ông có thêm một số lời khuyên – giữ khoảng cách ít nhất 2,5m ở phía trước và 1,5m ở hai bên khi hát. Ở trong phòng được thông gió tốt cũng rất quan trọng, Echternach nói thêm.

Đối với Kersten Rosenfeldt và các ca sĩ đồng nghiệp của cô tại Dàn Hợp xướng Đài phát thanh Bavarian, bất kể thông tin gì về cách giữ an toàn trước virus đều được hoan nghênh. “Mọi người rất khát khao biết được nhiều hơn về vấn đề này,” Susanne Vongries, quản lý dàn hợp xướng, nói.

image

Giống như phần còn lại của thế giới, họ đang chờ xem đại dịch diễn ra như thế nào.

Richard Gray

 

 Katherine Nhi Lương sưu tầm

 

Xem thêm...

10 KỶ LỤC GUINNESS CHƯA TỪNG BỊ PHÁ VỠ

10 KỶ LỤC GUINNESS CHƯA TỪNG BỊ PHÁ VỠ

Trong khi nhiều kỷ lục trên thế giới cứ liên tục bị phá bỏ, thì bên cạnh đó, có những kỷ lục "đỉnh" đến nỗi chúng chưa từng bị vượt qua từ khi được thiết lập, ví dụ như kỷ lục về người đàn ông cao nhất trên thế giới chẳng hạn.

Hãy thử xem bạn biết được bao nhiêu trong số những kỷ lục Guinness vô cùng ấn tượng này nhé.


Người giữ nhiều kỷ lục thế giới nhất
Hầu hết mọi người chỉ mơ đến việc giữ được một kỷ lục thế giới đã là giỏi lắm rồi, nhưng có một người đàn ông đã phá vỡ hơn 700 kỷ lục thế giới cơ. Chơi lớn thế này thì ai chơi lại được chứ?

Người đàn ông đáng kinh ngạc, Ashirita Furman, từng nắm giữ 700 kỷ lục thế giới.

Người đàn ông đáng kinh ngạc này chính là Ashrita Furman, người Mỹ, sinh năm 1954. Ông Ashrita đã dành ra hơn 30 năm phá vỡ các kỷ lục, và thậm chí đã giành được danh hiệu người giữ nhiều kỷ lục nhất trên thế giới.
Không phải tất cả các kỷ lục của ông còn được giữ nguyên, có nhiều kỷ lục đã bị người khác phá vỡ, nhưng điều đó không ngăn ông luôn nỗ lực và cố gắng hết sức mình để đạt được thành tựu.
Những thành tích đáng nể của ông Ashirita thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, từ việc đi liên tục được quãng đường dài nhất với 1 chai sữa ở trên đầu, cho tới trò nhảy lò cò lâu nhất được hoàn thành trong 24 giờ.
Phải nói là để vượt qua những kỷ lục của ông Ashirita là cực kỳ khó, cho nên đến nay vẫn chưa ai có thể làm được điều đó.

Người có móng tay dài nhất thế giới
Vào năm 2014, ông Shridhar Chillal, tới từ Ấn Độ đã vinh dự giành giải người có móng tay ở 1 bàn tay dài nhất thế giới.

Ông Shridhar Chillal đã không cắt móng tay trong 60 năm liền.

Để có thể để được móng tay dài từ 164,5 cm cho đến chiếc móng dài nhất là 197,8 cm, ông Shridhar đã phải nuôi liên tục và không cắt trong 60 năm trời. Chỉ nhìn thôi cũng đủ biết ông đã phải vượt qua biết bao sự bất tiện và đau đớn thế nào để giữ cho bộ móng không bị gãy trong suốt chừng ấy năm như vậy.
Cuối cùng thì bộ móng trứ danh ấy cũng đã được cắt đi, và hiện chúng đang được trưng bày ở viện bảo tàng Ripley’s Believe it or Not! tại New York, Mỹ.

Người đàn ông cao nhất thế giới
Người đàn ông cao nhất trong lịch sử từng có tên trong Sách Kỷ lục Guinness là ông Robert Wadlow, người Mỹ, với chiều cao là 2,72m.

Robert Wadlow, người Mỹ, với chiều cao là 2,72m là người đàn ông cao nhất từng được ghi nhận trong lịch sử.

Vào năm 1918, cậu bé Robert ra đời với kích thước bình thường như bao đứa trẻ khác, nhưng rồi sau đó, cậu bé bỗng lớn như thổi trước sự kinh ngạc của người thân và bạn bè.
Đến năm 8 tuổi, cậu bé đã cao hơn cả bố mình - người có chiều cao là 1m8, và dĩ nhiên là cao hơn tất cả những đứa trẻ tầm tuổi ấy.

Chiều cao nổi trội này của Robert có nguyên nhân từ sự sản sinh hormone quá mức của tuyến yên, và gây ra các vấn đề sức khỏe cho cậu. Robert đã không may qua đời khi chỉ mới có 22 tuổi.

Người sống sót sau khi bị sét đánh nhiều nhất
Đây là một kỷ lục khá rùng rợn và có lẽ chẳng ai mong mình nắm giữ, nhưng nó lại chính xác là những gì mà ông Roy C. Sullivan, người Mỹ, sinh năm 1912, từng là một kiểm lâm đã đạt được.

Ông Roy C. Sullivan.


Được biết, ông Roy đã bị sét đánh tới 7 lần, nhưng thật kỳ diệu là Thần Chết nhất định... không chịu đưa ông đi.
Từ lần đầu tiên bị sét đánh vào năm 1942 cho đến lần cuối cùng bị sét đánh vào năm 1977, ông Roy chỉ bị vài vết thương không đáng kể, như bị mất móng chân cái, hoặc bị bỏng ở ngực và bụng mà thôi.

Bộ phim có doanh thu cao nhất mọi thời đại
Hầu hết các bộ phim có doanh thu cao nhất mọi thời đại là các bộ phim được sản xuất gần đây. Tuy nhiên, một khi số tiền này được trừ đi lạm phát thì danh hiệu bộ phim có doanh thu cao nhất mọi thời đại lại là 1 bộ phim của điện anh Mỹ, được sản xuất từ năm 1939, vô cùng nổi tiếng ở Việt Nam với tựa đề Cuốn theo chiều gió.

 

Bộ phim Cuốn theo chiều gió đã thu về được 393,4 triệu đô la, tương đương với 3,44 tỷ đô la theo thời giá hiện nay.


Khi được công chiếu trên khắp thế giới, bộ phim Cuốn theo chiều gió đã thu về được 393,4 triệu đô la Mỹ, nếu tính theo thời giá hiện nay, nó phải tương đương với 3,44 tỷ đô la Mỹ, hay nói cách khác, chính là bộ phim có doanh thu cao nhất mọi thời đại.

Chế độ ăn kỳ lạ nhất thế giới
Ông Michel Lotito, người Pháp hiện vẫn giữ kỷ lục là người có chế độ ăn uống kỳ lạ nhất thế giới, do sở thích vô cùng kỳ quặc của ông với những thứ mà ta tưởng như không thể tiêu hóa được.

Michel Lotito đang ăn 1 cái bánh xe đạp năm 1989.

Trong suốt cuộc đời mình, ông Michel đã ăn 18 chiếc xe đạp, 15 chiếc xe đẩy hàng siêu thị, 7 chiếc tivi, 6 chiếc đèn chùm, 2 chiếc giường, 1 đôi ván trượt tuyết, 1 chiếc máy bay Cessna siêu nhẹ và 1 chiếc máy tính.
Khi chụp X quang dạ dày của ông Michel, người ta thấy ông có khả năng ăn 900g kim loại mỗi ngày. Người đàn ông này cho biết những loại thức ăn khác, ví dụ như chuối, trứng luộc sẽ khiến ông phát ốm, nên thay vào đó, ông sẽ ăn kim loại và thủy tinh.
Nhưng chúng ta chỉ nên ngưỡng mộ ông Michel thôi nhé, tuyệt đối đừng làm theo, mất mạng như chơi.

Bệnh dịch tồi tệ nhất thế giới
Trong khi thế giới đang phải đau đầu đối phó với dịch Covid-19, thì có lẽ nhiều người vẫn chưa biết trên thế giới còn từng xảy ra 1 đại dịch chết chóc kinh khủng hơn nhiều, vào khoảng giữa năm 1347 và năm 1351, mang tên là Cái chết đen - 1 dịch viêm phổi quét qua châu Âu, giết chết khoảng 1/4 dân số nơi đây.

Cái chết đen đã khiến cho 75 triệu người châu Âu thiệt mạng.

Được biết, có khoảng 75 triệu người đã chết do Cái chết đen, và biến đại dịch này trở thành đại dịch chết chóc nhất trên thế giới.
Hiện tại, dịch viêm phổi vẫn ảnh hưởng tới khoảng 1000 đến 3000 người mỗi năm, nhưng đã có thuốc chữa, và hãy hy vọng kỷ lục nói trên không bao giờ bị phá vỡ.

Văn phòng lớn nhất thế giới 

 

Lầu Năm Góc - trụ sở của Bộ Quốc phòng Mỹ.

Hiện tại thì Lầu Năm Góc, trụ sở của Bộ Quốc Phòng Mỹ vẫn đang giữ danh hiệu tòa nhà văn phòng lớn nhất thế giới, với diện tích khoảng 600.000 mét vuông, và hơn 1 nửa trong số này được sử dụng làm văn phòng.

Người lái nhiều mẫu máy bay nhất 

 

Ông Eric Brown, người lái nhiều mẫu máy bay nhất thế giới.

Ông Eric Brown, 1 phi công chuyên lái máy bay thử nghiệm của Hải quân Anh đang giữ kỷ lục người từng lái nhiều loại máy bay nhất thế giới.
Nhờ vai trò đặc biệt của mình trong Thế chiến 2 nên ông Eric đã lái 487 loại máy bay và là ohi công từng lái nhiều loại máy bay nhất trên thế giới. Việc một người khác có thể vượt qua kỷ lục của ông gần như là điều không tưởng.

Người sống sót qua nhiều vụ nổ bom nguyên tử nhất
Một kỷ lục nữa mà không ai mong mình sở hữu, đó là người sống sót qua nhiều vụ nổ bom nguyên tử nhất. Tuy nhiên, dù muốn hay không, nó cũng đã được trao cho một người đàn ông Nhật Bản tên là Tsutomu Yamaguchi - người đã sống sót sau cả 2 vụ nổ bom nguyên tử ở Nhật Bản trong Thế chiến 2. 

Ông Tsutomu Yamaguchi (1916 - 2010), người đã sống sót qua 2 vụ ném bom nguyên tử tại Hiroshima và Nagasaki.

Được biết, ông Tsutomu khi đó đang có 1 chuyến công tác tới thành phố Hiroshima thì gặp ngay vụ thả bom nguyên tử đầu tiên của quân đội Mỹ xuống thành phố này.
Ông Tsutomu đã may mắn sống sót, và trở về quê nhà ở Nagasaki thì lại phải chứng kiến vụ thả bom nguyên tử thứ 2 của quân đội Mỹ tại đây. Một lần nữa, ông lại may mắn thoát chết để có thể kể lại câu chuyện phi thường của mình.
 
 
Ngọc Lan sưu tầm

Theo Mirror
 
Xem thêm...
Theo dõi RSS này