Khoa học kỹ thuật

Khoa học kỹ thuật (214)

Đồng Bạc Đông Dương

Đồng Bạc Đông Dương

Đồng Đông Dương (tiếng Pháp: piastre) đơn vị tiền tệ người Pháp cho phát hành và lưu thông tại Đông Dương thuộc Pháp trong thời gian từ năm 1885 đến năm 1954.

Tiền giấy 5 xu

Tiền Đông Dương được chia thành các đơn vị piastre, cent/centime và sapèque. Một piastre bằng 100 cent. Một cent lại bằng 2-6 sapèque tùy theo triều đại. Theo tỷ lệ đó thì một đồng bạc Đông Dương có giá trị từ 200 đền 600 đồng tiền cổ truyền của người Việt. Mặt trước của các tờ tiền giấy hoặc tiền kim loại ghi bằng tiếng Pháp. Mặt sau ghi bằng chữ Hán, chữ Quốc ngữ, chữ Lào và chữ Khmer, song cũng có lúc chỉ ghi chữ Pháp.

Hai mươi xu

Piastre phiên dịch sang chữ Hán thành 元 (nguyên); thông dụng gọi là đồng, hoặc đồng bạc hay thậm chí ngắn gọn là bạc (khi tiền Đông Dương còn theo chế độ bản vị bạc cho đến tháng 5, 1930), hoặc đồng vàng (khi tiền Đông Dương theo chế độ bản vị vàng từ tháng 5, 1930 về sau).

Cent tức sou khi phiên âm sang chữ quốc ngữ thành xu. Người Việt Nam còn có thói quen gọi các tiền mệnh giá hàng chục xu trở lên là cắc (gọi chệch từ âm giác của chữ Hán 角). Về sau, người Pháp viết chính thức bằng chữ quốc ngữ là hào và bằng chữ Hán là 毛 (mao). Sapèque tục gọi là đồng kẽm hay đồng điếu là đơn vị có giá trị nhỏ nhất.

Tờ 100 đồng

Theo nghị định ngày 21 Tháng Giêng, 1875 thì Ngân hàng Đông Dương cho lưu hành những tờ giấy bạc đầu tiên với ba mệnh giá: $5, $20, và $100. Loại này mặt trước ghi bằng hai thứ tiếng Pháp và Anh. Mặt sau ghi chữ Nho: Đông phương hối lý ngân hàng (東方滙理銀行).

Kỳ thứ nhì năm 1893-6 thêm tờ $1; kỳ thứ ba 1903-7 thì bỏ phần tiếng Anh nhưng ghi thêm xuất xứ: Cao Miên (高綿), Lục Tỉnh (六省) cho khu vực miền nam và Đông Kinh (東京), An Nam (安南) cho khu vực miền bắc vì lúc đó đã hình thành Liên bang Đông Dương. Tổng cộng có nhiều thay đổi ít nhiều về hình thức, màu sắc. Tờ $20 được người Việt gọi là tờ "hoảnh", đọc trại âm "vingt" của Pháp.

Tờ bạc 200 đồng đông dương có in hình vua Bảo Đại

Bắt đầu từ năm 1919 thì in thêm những tờ với mệnh giá: 10 cents, 20 cents, 50 cents.Sau cuộc Đại khủng hoảng kinh tế, đồng tiền mất giá nên đợt phát hành 1936-9 Nhà nước phải cho phát hành tờ $500.

Năm 1940 với biến động chính trị ở chính quốc, Đệ tam Cộng hòa Pháp sụp đổ, bị thay thế bới chính phủ Vichy chủ trương hợp tác với Nhật Bản thì bên Đông Dương cho phát một loạt tiền giấy mới. Loại tiền này in thêm dòng chữ Phủ Toàn quyền Đông Dương (Gouvernement General de l'Indochine) thay vì Banque de l'Indochine như những tờ giấy bạc trước kia.

Những tờ 10 cents, 20 cents, và 50 cents rồi tiếp theo là tờ 5 cents xuất hiện từ năm 1942 đến 1944. Tuy nhiên cũng trong khoảng thời gian đó thì những tờ giấy bạc mệnh giá $1 đến $500 vẫn giữ dòng chữ Banque de l'Indochine.

Sau Đệ nhị Thế chiến người Pháp tái chiếm Đông Dương. Tình hình xáo trộn nên mãi đến năm 1947 mới phát hành những mẫu tiền mới, trong đó xuất hiện tờ $50 lần đầu tiên.

Đồng bạc Đông Dương tờ $100 ghi chữ Nho:

Đông phương hối lý ngân hàng tức Ngân hàng Đông Dương

Năm 1952, Institut d'Emission des Etats du Cambodge, du Laos et du Vietnam (Viện Phát hành Quốc gia Việt, Miên, Lào) đảm nhận việc phát hành mẫu tiền giấy riêng cho mỗi nước nhưng có giá trị khắp ba nước. Chân dung Quốc trưởng Bảo Đại, quốc vương Sihanouk, và quốc vương Sisavang Vong xuất hiện trên tờ $1. Danh xưng piastre được dùng song hành với những tên bản xứ: riel cho Campuchia, kip của Lào, và đồng của Quốc gia Việt Nam.

Tại Campuchia, các tờ bạc có mệnh giá 1, 5, 10, 100, và 200 đồng/riel được phát hành. Tại Lào là các tờ bạc 1, 5, 10 và 100 đồng/kip. Còn ở Nam Việt Nam là các tờ bạc 1, 5, 10, 100 và 200 đồng/đồng Việt Nam. Loại tiền này đến năm 1955 thì bị thu hồi, nhường chỗ cho tiền tệ của bốn quốc gia độc lập trên bán đảo Đông Dương.

Tờ bạc 100 đồng Đông Dương, 1954

 

Ngọc Lan sưu tầm

 

 

Xem thêm...

Chàng trai tự làm siêu xe Lamborghini

Chàng trai tự làm siêu xe Lamborghini

và mở ra nghề kinh doanh mới

  ◊ ► ◄ ► ◄ ◊ ► 

Bạn yêu thích siêu xe Lamborghini và muốn mua, nhưng lại không có đủ tiền để hiện thực giấc mơ? Câu trả lời là hãy tự chế cho mình một chiếc, và làm ra những chiếc khác để kiếm lời. Câu chuyện sau đây kể về Mike Vetter, một triệu phú đang sống ở bang Florida nước Mỹ, giàu lên nhờ đi bán xe hơi – những chiếc siêu xe do anh tự chế.

Mike Vetter là người có đam mê với xe hơi và siêu xe từ khi còn nhỏ (Ảnh: Mike Vetter)

Chuyện bắt đầu 20 năm trước với một ý tưởng điên rồ chợt nảy lên trong đầu Mike: Nếu mình tự chế chiếc xe mơ ước kia thì sao nhỉ?

Con đường đến với nghiệp kit car

Là con trai của một phái viên công tác tại nước ngoài của Bộ Quốc Phòng Mỹ, tuổi thơ của Vetter là những chuỗi ngày chu du khắp miền Nam và Tây Âu. Trong thời gian ở lại nước Đức, anh đã ấp ủ trong mình niềm đam mê cháy bỏng với những chiếc xe hơi thời trang bóng bẩy.

Con mê những chiếc siêu xe Lamborghini“, Vetter thổ lộ với cha mình và nhận được câu trả lời: “Thứ đó còn đắt hơn cả một ngôi nhà của người ta; con sẽ phải làm việc rất chăm chỉ để có một cái.”

Sau khi tốt nghiệp trung học, Vetter thử sức mình với khoá về khoa học máy tính nhưng trượt gần hết các môn. Anh chấp nhận hồi hương về Florida sống cùng chị mình đầu những năm 90 rồi tham gia vào một lớp học kinh tế cho cộng đồng tổ chức tại địa phương.

Rồi ngày thay đổi cuộc đời Vetter tới khi anh quyết định tới thăm một trong những triển lãm xe cổ lớn nhất nước Mỹ – Daytona Turkey Run – và bắt gặp bộ vỏ bằng sợi thuỷ tinh của chiếc Lamborghini Countach.

Một chiếc Lamborghini Countach ngoài đời thực (Ảnh: Brian Snelson/Flickr)

Vetter không hề biết mình đã bước chân vào thế giới của ngành công nghiệp kit car, đây là một cộng đồng những người làm nhái các xe sang cao cấp bằng cách chế lại lớp vỏ thép từ bộ vỏ bằng sợi thuỷ tinh rồi lắp lên khung gầm và máy móc của những chiếc xe rẻ tiền hơn.

Tôi chẳng biết tí gì về những chiếc xe nhái này, hay sợi thuỷ tinh, hay những thứ đại loại như vậy. Nhưng có cái gì đó chợt nảy lên trong đầu. Tôi ngắm nhìn bộ vỏ Lamborghini tuyệt đẹp và hạ quyết tâm phải có được nó.”

Vetter mua lại bộ vỏ với giá 2500 đôla và trong garage ngôi nhà nhỏ của chị gái, anh bắt đầu tìm cách chế tạo chiếc Lamborghini mơ ước của mình.

“Siêu xe” khởi đầu từ mớ sắt vụn

Mặc dù không biết chút gì về chế tạo xe hơi, nhưng với niềm đam mê kỹ thuật và cơ khí từ nhỏ, cộng với sự tò mò, tháo vát và quyết tâm, Vetter bắt tay ngay vào công việc. Anh bắt đầu đi tìm chiếc xe có khung gầm phù hợp cho chiếc Lamborghini của mình. Sau khi tham khảo tạp chí Kit Car, anh tìm được một chiếc xe thể thao tầm trung ưng ý hiệu Pontiac Fiero với giá chỉ 1700 đô.

Bước tiếp theo là phải bỏ lớp vỏ cũ đi rồi kéo dài khung gầm ra cho giống xe thật. Vetter phải mang ra cửa hàng để nhờ làm giúp với giá 800 đô.

Chưa biết gì về máy cưa, máy hàn, nhưng Vetter không ngần ngại mua chúng về rồi học cách sử dụng. Anh mày mò hoàn thiện từng chi tiết của chiếc Lamborghini Countach, một trong những chiếc kit car khó chế nhất. Chính anh phải học cách sơn xe và tự làm lấy, vì thợ sơn chuyên nghiệp từ chối động đến bộ cánh phức tạp này.

Vừa đi học, vừa đi làm thêm để nuôi dưỡng đam mê, Vetter miệt mài đêm hôm suốt 18 tháng trời. Và sau 2.000 giờ vất vả, anh cuối cùng cũng hoàn thành chiếc xe mơ ước của mình.

Hoàn thành chiếc Lamborghini Countach đầu tiên (Ảnh: Mike Vetter)

Tôi chế ra chiếc xe đầu tiên mà không có tí dụng cụ nào, không có chút kiến thức nào, mà chỉ có động lực và niềm khao khát có được chiếc xe đó mà thôi.”

Năm 1996, chàng thanh niên Vetter mới ra trường lâm vào cảnh thiếu thốn tiền bạc và buộc phải nghĩ đến chuyện bán xe kiếm lời. Tổng cộng anh đã bỏ vào đó 12.000 đôla.

Chiếc xe nhanh chóng thu hút được sự chú ý của người dân trong vùng nhưng lại không gây chú ý với dân sành xe chuyên nghiệp. Chỉ đến khi bỏ ra 40 đôla để quảng cáo trên một tạp chí xe hơi, Vetter mới bán được xe với giá 28.000 đôla, hơn gấp đôi tiền vốn.

Sau thương vụ này, chàng trai nhận ra rằng mình có thể sống đàng hoàng với nghề chế và bán xe hơi thay vì chỉ trông chờ vào đồng lương 18.000 đô một năm cho thợ chiếu phim. Đã đến lúc chơi tất tay.

Ngành chế xe kit car

Với một bồ kinh nghiệm thu được từ chiếc xe đầu tiên, Vetter có thể hoàn thành xong chiếc siêu xe thứ hai của mình, mô phỏng theo chiếc Ferrari 355 màu vàng đình đám lúc bấy giờ, chỉ với chi phí 7.000 đô và hết vỏn vẹn 4 tháng.

Anh bán được chiếc xe với giá 21.000 đô và nhận được một đơn đặt hàng khác có giá 20.000 đô. Cờ đã đến tay và Vetter nhận ra rằng anh có thể biến thứ này thành kế sinh nhai của mình.

Những chiếc Ferrari của Mike trên tạp chí Kit Car. Dưới: đám cưới của Mike,

ảnh chụp bên những tác phẩm của anh (Ảnh: Mike Vetter)

Ngành công nghệp kit car lúc bấy giờ còn rất non trẻ. Hầu hết các sản phẩm đều thô tháo và không mô phỏng chính xác những chiếc siêu xe. Nhưng hàng của Vetter lại rất khác biệt. Với sự tỉ mỉ của mình, Vetter nhìn ra cơ hội để vượt lên trước số đông và thay đổi quan niệm của mọi người về xe kit car.

Những phiên bản nhái xe Ferrari xuất sắc của Vetter nhanh chóng đưa anh lên trang bìa tạp chí Kit Car Magazine cùng vị thế của một trong những nghệ nhân tài năng nhất trong nghề.

Tới đầu những năm 2000, Vetter cùng vợ mình đã hoàn thiện đáng kể quy trình chế tạo của họ và rút ngắn thời gian xuống chỉ còn 45 ngày cho một chiếc siêu xe, với giá thành cao nhất chỉ 60.000 đô. Nhưng đúng lúc này, khó khăn xuất hiện.

Ferrari tới gõ cửa

Vetter luôn cực kỳ thận trọng khi chào hàng những chiếc xe của mình. Anh không bao giờ gọi chúng là những chiếc Ferrari, mà thay vào đó là “những chiếc xe Pontiac Fiero kiểu châu Âu nhìn giống Ferrari“. Tuy nhiên hai ông lớn Ferrari và Lamborghini đều không nghĩ vậy.

Họ lần lượt gửi cho Vetter thư yêu cầu anh chấm dứt ngay hành động nhái xe kiếm lời. Và nửa năm trời kiện tụng kết thúc với việc quan toà ra phán quyết Vetter đã vi phạm thương hiệu và cấm anh sản xuất thêm bất kỳ chiếc xe nào khác.

Các công đoạn làm xe (Ảnh: Mike Vetter)

Việc này khiến Vetter cảm thấy đã đến lúc: anh sẽ thiết kế và sản xuất những chiếc xe của riêng mình.

UFO trên đường phố

Năm 2008, Vetter bắt tay vào sản xuất xe sang theo yêu cầu của khách hàng – một thứ sẽ khiến “mọi người không thể tin được” khi nhìn thấy nó trên phố.

Trước đó, công việc làm ăn thuận lợi giúp Vetter càng làm càng lớn. Anh chuyển xưởng của mình tới một kho chứa máy bay lớn ở Micco, Florida, thuê thêm 5 người làm và tự học tất cả mọi thứ từ thiết kế tới chế tạo để sản xuất được những chiếc xe của riêng mình.

Chế tạo xe ETV (Ảnh: Mike Vetter)

Vetter bắt đầu lên bản vẽ phác thảo, mua xốp về rồi gọt giũa ra hình dáng chiếc xe mà mình mong muốn. Sau đó anh chế lớp vỏ xe rồi đặt nó lên trên khung gầm của một chiếc Chevy Cobalt cũ.

Anh đặt tên đứa con của mình là Extra Terrestrial Vehicle (ETV) rồi đem nó đi trưng bày. Chiếc xe nhanh chóng thu hút được vô vàn sự chú ý của đám đông khán giả tại các triển lãm xe.

Vetter sau cùng đưa chiếc xe lên eBay, biến nó trở thành một trong những chiếc xe được xem nhiều nhất nên nền tảng bán hàng này, và cuối cùng bán đi với giá 190.000 đôla. Sau này, anh còn làm ra 7 chiếc khác và bán hơn 100.000 một cái. 

Một ngành kinh doanh hái ra tiền

Hiện nay, công ty của Vetter đã và đang bán hơn 30 mẫu xe cho các khách hàng trên toàn thế giới.

Giá xe của anh chạy từ 125.000 đến 225.000 đôla. Với chi phí sản xuất chỉ 47.000 đôla cho một chiếc xe 125.000 đô, Vetter kiếm được bộn tiền để trang trải cho cuộc sống sung túc của mình. Từ lúc phải mất 6 tháng để chế một chiếc xe, giờ với sự hỗ trợ của công nghệ in 3D, anh chỉ mất vài tuần để hoàn thiện nó.

Vetter có hàng trăm đơn đặt hàng. Nhưng anh không chạy theo doanh thu và số lượng, mà cố gắng kiểm soát chặt chất lượng của sản phẩm đầu ra. Khách hàng của anh phần lớn là những người giàu đã có đầy xe sang trong nhà, nhưng vẫn luôn muốn những chiếc xe độc đáo để tránh đụng hàng với bất kỳ ai.

Nhiều khách hàng của anh thường bị mỉa mai vì đi xe hàng hiệu. Nhưng với những chiếc xe được thiết kế riêng, người ta không mang tâm lý kỳ thị đó. Thay vì nghĩ “xem gã ngốc trong chiếc Ferrari kìa,” người ta sẽ nói “Wow, cái xe này thật ngầu.”

Tên tuổi anh còn lan tới tận Hollywood, khi các xưởng phim thỉnh thoảng nhờ anh chế cho họ vài chiếc xe bắt mắt cho các cảnh quay.

Người đàn ông 48 tuổi này đến nay làm việc 80 tiếng một tuần và vẫn đam mê công việc ấy.

Xe ETV (Ảnh: Mike Vetter)

Ngày nay, ở Florida, có một chiếc Extra Terrestrial Vehicle nằm đàng hoàng ngay phòng khách trong dinh cơ rộng rãi ngay cạnh xưởng chế tạo xe sang của Vetter.

 

Ngọc Lan st

 

Xem thêm...

Tiền giấy phát hành thời Đệ 1 Việt Nam Cộng Hòa

Hình ảnh lưu niệm

Tiền giấy phát hành thời Đệ 1 Việt Nam Cộng Hòa

 

Giấy bạc 1 đồng.
Tên thường gọi: Đập lúa.
Năm phát hành: 1955.
Nhà in: American Banknote Company (Mỹ).

 

 


Giấy bạc 2 đồng.
Tên thường gọi trong giới sưu tầm: Chiếc buồm.
Năm phát hành: 1955.
Nhà in: American Banknote Company (Mỹ
).




Giấy bạc 5 đồng.
Tên thường gọi: Cày ruộng.
Năm phát hành: 1955.
Nhà in: American Banknote Company (Mỹ).




Giấy bạc 10 đồng.
Tên thường gọi: Đỏ Lăng Ông.
Năm phát hành: 1962.
Nhà in: American Banknote Company (Mỹ).




Giấy bạc 20 đồng.
Tên thường gọi: Nâu.
Năm phát hành: 1962.
Nhà in: American Banknote Company (Mỹ)




Giấy bạc 50 đồng.
Tên thường gọi: Tím chăn trâu.
Năm phát hành: 1956.
Nhà in: American Banknote Company (Mỹ).





Giấy bạc 100 đồng.
Tên thường gọi trong giới sưu tầm: Máy cày.
Năm phát hành: 1955.
Nhà in: American Banknote Company (Mỹ).

 


Giấy bạc 200 đồng.
Tên thường gọi trong giới sưu tầm: Lính bồng súng.
Năm phát hành: 1955.
Nhà in: American Banknote Company (Mỹ).




Giấy bạc 500 đồng.
Tên thường gọi trong giới sưu tầm: Thiên Mụ.
Năm phát hành: 1955.
Nhà in: American Banknote Company (Mỹ).




Giấy bạc 200 đồng.
Tên thường gọi: Bụi trúc tím.
Năm phát hành: 1958.
Nhà in: American Banknote Company (Mỹ).



 

Giấy bạc 500 đồng.
Tên thường gọi trong giới sưu tầm: Dinh Độc Lập.
Năm phát hành: 1962.
Nhà in: Thomas De La Rue (Anh Quốc).



 

Giấy bạc 1 đồng.
Tên thường gọi: Sở thú.
Năm phát hành: 1955.
Nhà in: Bradbury Wilkinson (Anh Quốc).




Giấy bạc 5 đồng.
Tên thường gọi: Con Phụng.
Năm phát hành: 1955.
Nhà in: Thomas De La Rue (Anh Quốc).




Giấy bạc 10 đồng.
Tên thường gọi trong giới sưu tầm: Cá hóa long.
Năm phát hành: 1955.
Nhà in: Thomas De La Rue (Anh Quốc).




Theo MadeinSaiGon

Ngọc Lan sưu tầm

Xem thêm...

HENRI DUNANT - LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA CỦA HỘI HỒNG THẬP TỰ

HENRI DUNANT - LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA

CỦA HỘI HỒNG THẬP TỰ

 
Solferino là một thị xã của Lombardie, tỉnh Mantoue, miền Nam hồ Garde. Ngày 24 tháng 6 năm 1859 trong trận chiến với đơn vị Ý, quân đội Pháp-Sardaigne (đảo miền Nam Ý) chạm trán với quân đội Áo quanh thị trấn Solferino tạo miền Bắc nước Ý.

Ngày hôm đó, một công dân Genève, Henri Dunant, tìm cách gặp vua Napoléon III để hỏi những  mệnh lệnh riêng tư. Đêm đến, Dunant tới làng  bên cạnh Castiglione nơi đó 9000 thương binh đang trốn. Ngày đêm tại Chiesa Maggiore chất hàng 5000 nguời bị thương, Dunant  và những người đàn  bà  nơi  đó cho họ uống nước, lau rửa cho họ và băng bó vết thương, cho  họ thuốc  lá, nước tisane và trái cây. Dunant  nán lại ở đó cho tới ngày 27 tháng  6 rồi lên đường và trở về Genève ngày 11 tháng  7. Lúc bấy giờ ông rất thiếu thốn về tài chánh, nhưng  không  quên những gì ông đã thấy.
 
Image result for Để vinh danh Jean Henri Dunant
Năm 1862 ông cho  in tác phẩm Một Kỷ niệm về Solferino (Un Souvenir de Solferino) trong đó ông  mô tả chiến tranh rồi những người bị thương ở Chiesa Maggiore, rồi kết luận bằng  một câu hỏi:
Có thể nào có được một phương cách để, trong thời bình thì thành lập những cơ quan cấp cứu mà chủ đích là săn sóc những người bị thương, và  trong thời chiến thì những người tình nguyện nhiệt tình, tận tụy và thật rành nghề cho một công tác tương tự? 


Từ câu hỏi này dẫn đến sự thành lập hội Hồng Thập Tự. Ông còn  hỏi các gới có thẩm quyền của các quân đội có quốc tịch khác nhau trên thế giới xem họ có thể trình bày nguyên tắc quốc tế, có quy ước và thiêng  liêng, nguyên tắc mà một khi đã được chấp thuận  và được thừa nhận, sẽ được coi là căn bản cho các cơ quan cứu cấp những  người bị thương trong  các nước  khác  nhau của Âu Châu? Câu hỏi thứ hai này  từ nguồn gốc các thỏa hiệp Genève.

Tác phẩm của Henri Dunant mang  lại thành công  lớn và được dịch sang tất cả mọi thứ tiếng của Âu Châu và được giới thẩm quyền có ảnh hưỏng nhất thời bấy giờ đọc. Trong số những người đó có Gustave Moynier, luật sư người Genève, chủ tịch một cơ quan địa phương về từ thiện, Cơ quan xã hội Genève (La Société genevoise d' Utilité publique, Geneva Society for Public Welfare ) Ngày 9 tháng 2 năm 1863 ông giới thiệu những  kết luận của tác phẩm Henri Dunant cho cơ quan ông. Cơ quan này mở ra một ban gồm 5 thành viên để nghiên cứu các đề nghị của Dunant.


Ủy ban gồm năm thành viên Moynier, Dunant, tướng Dufour và hai bác sĩ  Louis Appia và Théodore Maunoir, là nguồn gốc của Ủy ban Quốc tế Chữ Thập đỏ Comité international de la Croix-Rouge (CICR). Ủy ban  này họp lần đầu ngày 17 tháng  2 năm 1863. Ngay lập tức  ủy ban nhận xét rằng những  người tình nguyện do Henri Dunant tưởng tượng sẽ chỉ hành động có hiệu quả, không bị các sĩ quan và  quân lính từ chối, khi họ được  mang dấu hiệu đặc biệt để phân biệt họ với dân thường và họ phải được bảo vệ. Đó là ý niệm về sự trung lập hóa của cơ quan vệ sinh và các y sĩ tình nguyện.


Ngày 25 tháng  8 năm 1863, Ủy ban Quốc tế quyết định hội họp tại Genève dưới trách nhiệm của họ, một Hội nghị quốc tế để nghiên cứu các phương tiện để bù vào những thiếu thốn của ban Vệ sinh trong quân đội. Ủy ban gởi giấy mời cho tất cả các cơ quan chính quyền các  nước  Âu châu và tới nhiều nhân vật. Ủy ban gom tụ 36 người, trong số đó có 14 đại diện các  nước, 6 đại diện cho các tổ chức và 7 người với danh hiệu tư nhân.  Với tính chất ghép giữa dân sự và quân sự, tổ chức đi sâu vô các hội nghị quốc tế của  Hồng Thập Tự (La Croix Rouge, The Red Cross) và Trăng Lưỡi liềm Đỏ (Le Croissant Rouge, The Red Crescent). Ngày nay,  phái đoàn các cơ quan quốc tế của Croix Rouge và Croissant Rouge, của các nước có chân trong Hiệp ước Genève và các quan sát viên (thường là các cơ quan từ thiện) cùng tham dự.


Hội nghị năm 1863 được Ủy ban quốc tế chuẩn bị  thảo luận "dự kiến Concordat" và chấm dứt sau khi soạn ra 10 nghị quyết làm nền tảng cho các cơ quan cấp cứu thương binh: là những cơ quan Chữ Thập Đỏ trong tương  lai và sau nữa là Trăng lưỡi liềm Đỏ.

Nghị quyết 10 ủy quyền cho Ủy ban quốc tế trao đổi tin tức giữa các Ủy ban của các  nước khác nhau

Trong những  năm tiếp theo, các Cơ quan Cứu trợ thành lập: nước Bỉ, Phổ, Đan Mạch, Pháp, Ý, Tây Ban Nha..
 
Name:  IMG_6808.JPG
Views: 2784
Size:  62.6 KB
Ủy ban quốc tế chuẩn bị giai đoạn kế tiếp cho một cuộc hội nghị ngoại giao. Hội nghị này phải biến các nghị quyết năm 1863 thành các luật theo qui ước, có uy quyền của luật pháp cho những nước đã ký kết.
Nhưng ngày 1 tháng 2 năm 1864, các  quân đội Áo-Phổ xâm chiếm Danemark. Đó là bước đầu của cuộc chiến. Ủy ban quốc  tế quyết dịnh gởi các đại diện tới tận nơi để săn sóc  những người bị thương và nghiên cứu có thể thi hành những kết luận của Hội nghị năm 1863.


Ngày 6 tháng 6 năm 1864 chính quyền Thụy Sĩ (đã chấp nhận tổ chức hội nghị ngoại giao) gởi thư mời tất cả các nước Âu Châu, Hoa Kỳ, Brésil và Mexique.

Hội nghị kéo dài từ 8 tới 28 tháng 8 năm 1864 dưới sự hiện diện của các đại diện của 16 nước. Hôi nghị thông qua dự thảo theo qui ước do Ủy ban quốc tế soạn ra. Ngày 22 tháng 8 năm 1864 hội nghị ký Qui ước cải thiện số phận các thương binh tại chiến trường, nghĩa là cấp cứu những người bị thương. Sau đó Hội Hồng Thập Tự  thành lập một cơ quan, có Hiến Chương về Tù Binh phải đối xử nhân đạo với các Tù Binh khi họ bị bắt tại chiến trường. Quyền từ thiện tân thời quốc tế được sinh ra.


Image result for hồng thập tự
Để vinh danh Jean Henri Dunant, người sáng lập ra hội, Âu Châu đồng ý chọn  cờ cho Hội này là nền trắng Chữ Thập Đỏ (vì Dunant quốc tịch Thụy Sĩ,  cờ màu đỏ có chữ thập trắng).
Cuối năm đó, Quy ước được  nhiều nước chấp nhận: Pháp, Thụy Sĩ, Bỉ, Hòa Lan, Ý, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Na Uy, Đan Mạch.

Nhưng chiến tranh Áo-Phổ  xảy ra năm 1866. Rồi vài năm sau để đồng nhất hóa Đức, Bismark dự tính phá tan nước Pháp, vậy là chiến tranh Pháp-Phổ bùng nổ năm 1870.

Chính trong  cuộc xung đột này mà Ủy ban quốc tế sáng  lập ra một tổ chức hướng dẫn số phận các thương binh hay tù binh theo ý muốn của gia đình họ.

Năm 1867 Dunant bị sạt nghiệp vì ông chỉ chú tâm đến  vấn đề từ thiện. Sự kiện này làm ông  mất hết bạn bè tại Genève. Dunant không còn được đón  tiếp tại Genève nữa. Chỉ trong  vài năm sau đó, ông sống nghèo nàn như những người ăn mày cho đến cuối đời.


Một cuộc xung đột khác: chiến tranh miền Đông (1875-1878) đã đưa các đại diện của Ủy ban quốc tế tới tận Balkans.

Ủy ban Quốc tế Hồng Thập Tự luôn giữ vai trò chính trong sự phát triển nhân quyền trên thế giới.


(1) "N'y aurait-il pas moyen, pendant une période de paix et de tranquilité, de constituer des sociétés de secours dont le but serait de faire donner des soins aux blessés, en temps de guerre, par des volontaires zélés, dévoués et bien qualifiés pour une pareille oeuvre ? ")


    Hiệp ước Genève

    Những hiệp ước Genève chào đời ngày 22/08/1864. Ngay trong thời kỳ chiến tranh, mọi người phải tuân theo những quy luật nhằm mục đích tôn trọng nhân phẩm con Người. Những điều luật này phán rằng người dân sự sẽ không bị liên lụy trong các trận đánh và người quân  sự ngoài cuộc chiến phải được bảo vệ, người bị thương phải được cứu cấp không phân biệt chủng tộc hay quốc gia và nhân phẩn của họ phải được tôn trọng.

    . Hiệp ước đầu tiên liên quan đến việc bảo vệ những thương bệnh binh các quân lực trên chiến trường

     . Hiệp ước thứ hai liên quan đến việc bảo vệ những binh sĩ bị bịnh, bị thương và  bị đắm tàu của các lực lượng chiến đấu trên biển.
   . Hiệp ước thứ ba liên quan đến cách xử sự với các tù nhân chiến tranh.
    . Hiệp ước thứ tư bàn về việc bảo vệ thường dân.

Image result for jean henri dunant red cross
Henri Dunant (1828-1910), nhà bác ái Thụy Sĩ,  sáng  lập Hội Hồng Thập Tự, Giải thưởng Nobel Hòa bình năm 1901
 
 08/05/1828: Sinh tại số 12 đường Verdaine, Genève. Cha của Jean-Henri là Jean-Jacques Dunant, thương gia, thẩm phán phòng Giám hộ phụ trách trông coi số phận các trẻ mồ côi. Mẹ, Antoinette Colladon, rất mộ đạo, lo việc từ thiện.
 
Là học sinh kém, cậu Henri chỉ mang về những phần thưởng về lòng ngoan đạo. Cậu đi thăm những người nghèo, bệnh nhân và tù nhân. Ham đọc Thánh kinh, năm 1847 cậu thành lập một nhóm đọc kinh thánh với những người cùng tuổi tên là Họp mặt thứ Năm, nhóm này, năm 1852 sẽ rở thành "Hội liên hiệp Thiên chúa giáo những người trẻ" (les Unions chrétiennes de jeunes gens).
 
1849: Henri Dunant  bắt đầu học nghề tại nhà băng Lullin&Suter và được gởi đi làm việc tại Algérie. Ông mơ ước làm phồn thịnh và kỹ nghệ hóa nước này. Năm 1855 chính quyền Pháp chấp nhận nhường đất Algérie cho ông lần đầu tiên. Ông xây một cối xay gió nhưng không nhận được câu trả lời về việc phát triển trong tương  lai của ông trong lãnh vực này
 
08/01/1858: Hội đồng nhà nước Genève cho phép công ty vô danh  Moulins de Mons-Djemila do Dunant thành lập.
 
Năm 1858 ông in quyển sách đầu tiên, Notice sur la Régence de Tunis [An Account of the Regency in Tunis], viết lại những quan sát khi ông du lịch, trong đó có một chương dài rất được độc giả chú ý.
 
 Năm 1863 ông  in rời ra thành cuốn  Sự nô lệ nơi những người  hồi giáo và tại Mỹ (L'Esclavage chez les musulmans et aux États-Unis d'Amérique, Slavery among the Mohammedans and in the United States of America).
 
4/1859: Lập luận rằng vì xuất thân từ một gia đình bị trục xuất ra khỏi nước Pháp vì lý do tín ngưỡng, ông xin  được vô quốc tịch Pháp để tiến hành nhanh công việc đang  ứ đọng tại Algérie.
 
25/06/1859: Không được cơ quan hành chánh trả lời về chuyện thuộc địa của ông tại Algérie, Dunant sang Paris để trình bày trước Napoléon III, nhưng lúc đó Napoléon đã tới nước Ý để cầm binh giao chiến với nước Áo. Trận chiến Soferino gồm phe Đồng minh là vua Napoléon III và Victor-Emmanuel II de Savoie, và phe địch là vua François-Joseph Ier nước Áo. Ngày 24 tháng 6 năm 1859, 9 quân đoàn với 250-250 ngàn binh sĩ  Áo đánh với 104 ngàn lính Pháp (trong số đó có 35 ngàn lính Sardes mà vua Victor-Emmanuel vừa mới thu dụng được). Trận chiến xảy ra rất nhanh nhưng rất nhiều người chết, mất tích và bị thương, cả thảy khoảng 40 ngàn người vì Pháp và Áo đều dùng những lính pháo binh và đại bác.
 
 Dunant lại quay qua Ý để tìm gặp Napoléon, nhưng khi tới làng  bên cạnh Castiglione, ông chứng kiến 9000 thương binh đang trốn và tại Chiesa Maggiore nằm la liệt hàng 5000 nguời bị thương rên siết đau đớn. Dunant đã thuyết phục những người địa phương giúp đỡ ông cho thương binh của cả hai bên uống nước, lau rửa và băng bó vết thương, cho  họ thuốc  lá, nước tisane và trái cây. Dunant  nán lại ở đó cho tới ngày 27 tháng  6 rồi lên đường và trở về Genève ngày 11 tháng 7. Lúc bấy giờ ông rất thiếu thốn về tài chánh, nhưng  không  quên những gì ông đã thấy và viết quyển Un souvenir de Solférino (A memory of Solferino, Hồi ký từ Soferino).
 
Name:  IMG_6816.JPG
Views: 2689
Size:  57.2 KB
Napoléon III tại trận chiến Solferino.  Ernest Meissonnier 1863 (Musée du Second Empire, Compiègne).
 
Quyển Hồi ký từ Solferino  có 3 chủ đề: Thứ nhất là chính cuộc chiến. Chủ đề thứ hai vẽ lên chiến trường sau trận đánh, cái hỗn độn vô thứ tự của nó, sự thất vọng không thể nói ra được, sự khốn khổ về mọi thứ và nói tới câu chuyện chính là gắng cứu chữa những  người bị thương trong một làng nhỏ của Castiglione. Chủ đề thứ ba là một phương án. Các quốc gia phải tạo một phương cách để, trong thời bình thì thành lập những cơ quan cấp cứu mà chủ đích là săn sóc những người bị thương, và  trong thời chiến thì những người tình nguyện nhiệt tình, tận tụy và thật rành nghề cho một công tác tương tự.
 
Năm 1862 Dunant cho  in quyển Hồi ký này trong đó ông mô tả chiến tranh và những người bị thương ở Chiesa Maggiore, rồi kết luận bằng một câu hỏi:
 
Có cách nào để thành lập những cơ quan cấp cứu trong thời bình, tìm những người tình nguyện nhiệt tình, tận tụy và thật rành nghề để săn sóc những người bị thương trong thời chiến không? (N'y aurait-il pas moyen, pendant une période de paix et de tranquilité, de constituer des sociétés de secours dont le but serait de faire donner des soins aux blessés, en temps de guerre, par des volontaires zélés, dévoués et bien qualifiés pour une pareille oeuvre ?)
 
Từ câu hỏi này dẫn đến sự thành lập hội Hồng Thập Tự. Ông còn  hỏi giới có thẩm quyền của các quân đội có quốc tịch khác nhau trên thế giới xem họ có thể trình bày nguyên tắc quốc tế, có quy ước và thiêng  liêng, nguyên tắc mà một khi đã được chấp thuận  và được thừa nhận, sẽ được coi là căn bản cho các cơ quan cứu cấp những  người bị thương trong  các nước  khác  nhau của Âu Châu? Câu hỏi thứ hai này  từ nguồn gốc các thỏa hiệp Genève.
 
Tháng Hai ngày 7 năm 1863 Cơ quan xã hội Genève chỉ định 5 người trong đó có Dunant, quan sát tình hình  để hành động. Với lời kêu gọi của cơ quan này trong hội nghị, hội Hồng Thập Tự ra đời. Dunant  đi khắp Âu châu và được các nước  hứa sẽ gởi đại diện. Hội nghị ngày 26 kéo dài tới 29 tháng  10 với 39 đại biểu của 16 nước. Đến tháng 8 năm 1864, 12 quốc gia ký kết hiệp ước quốc tế, đó là Hiệp ước Genève.
 
09/02/1863: Cơ quan xã hội Genève quyết định thực hành ý định của Hôi ký Solferino và hình thành một "Ủy ban quốc tế cứu trợ những người bị thương". Đây là mầm móng cho CICR tương  lai (Comité international de la Croix-Rouge). Dưới sự hiện diện của tướng Dufour. Ủy ban  họp với bác sĩ  Docteur Louis Appia, Théodore Maunoir, Gustave Moynier và Henri Dunant.
 
1863-1864: Dunant đi khắp âu Châu để loan truyền ý tưởng của ông cho các cơ quan  tình nguyện cứu trợ những người bị thương.
 
 Từ ngày 26 đến 29/10/0863, một hội nghị chuẩn bị họp hội các đại diện của 14 quốc gia tại Athénée, Genève.
 
 Hội nghị ngoại giao từ ngày 8 tới 22/8/1864 đưa đến Hiệp ước Genève trong đó có 10 điều trong hiến chương của Hội Hồng Thập Tự sau này.
 
1867: Đáng  lẽ Dunant được mời tới triều đình nước Phổ để được quàng vòng hoa vinh quang nhân cuộc Triển lãm Hoàn vũ Paris thì ông  lại dấn thân vào những kinh doanh may rủi (công ty nặc danh  Moulins de Mons-Djemila). Ông bị phá sản. Các tòa án Genève kết án ông đã "cố tình đánh lừa các cộng sự viên của ông". Sau khi bị phá sản tan tành, Gustave Moynier ép buộc ông phải từ chức khỏi Ủy ban. Ông thi hành việc này ngày 25/08/1867 và từ giã Genève để rồi không bao giờ trở lại.
 
1867: cho ra  "Thư viện quốc tế toàn năng " (International and Universal Library) nhằm phổ biến các đại tác phẩm của mọi nền văn hóa qua mọi thời gian và có ý qua trung gian của Ủy ban, cho Palestine mà ông đã sáng  lập dùng để ưu đãi những người Do Thái về Palestine  bằng cách thiết lập hai quốc gia Arabe và Do Thái, được  Napoléon III bảo trợ. Song song với việc trên, ông cũng sáng lập Cơ quan quốc tế toàn năng để khôi phục miền Đông  (Société internationale universelle pour la rénovation de l'Orient, the Universal and International Society for the Revival of the Orient) nhằm tìm một phương án để tạo ra một khối trung  lập ở Palestine.
 
Name:  IMG_6811.JPG
Views: 2751
Size:  67.9 KB
Bị ra khỏi Hội, ông qua Pháp, xin lại quốc tịch Pháp và sống tại Paris với nữ nghệ sĩ Sarah Bernhardt, sau này làm nữ cứu thương cho Hội.
 
1870-1871: Chiến tranh xảy ra giữa Pháp-Đức. Dunant thấy rằng cuộc chiến tranh mới này là cơ hội để ông phục vụ cho nhân loại một lần nữa. Ông lập ra một tổ chức song song với Hồng Thập Tự, Cơ quan phụ trợ cứu những người bị thương (Société auxiliaire de Secours aux bléssés), và  chắc chắn vì thấy những  cuộc tàn sát kèm theo quận Paris bị mất, nên  ông triệu tập cuộc họp để thành lập một "Liên Minh toàn năng cho trật tự và văn hóa" (Alliance universelle de l'ordre et de la civilisation) để nói lên sự cần thiết của một hiệp ước quốc tế về việc nắm giữ các tù binh chiến tranh và để dàn xếp các cuộc tranh chấp quốc tế nhờ tòa án làm trọng tài hơn là gây chiến tranh. Ông xoay sở để sống, viêt những  bài tiểu luận... Bị ám ảnh hoàn trả số nợ lớn, ông  mơ thành lập những hãng xưởng kỳ diệu chỉ có trong trí tưởng tượng mà thôi.
 
Năm 1872 và 1873, bên Anh quốc, Dunant buộc phải kích thích công luận về vấn đề các tù binh chiến tranh cho Hội Hồng Thập Tự lúc bấy giờ do Gustave Moynier lãnh đạo, nhưng chỉ mới bắt đầu. Ông định truyền bá ý tưởng cho một tòa án làm trọng tài để  giải quyết những cuộc đụng độ quốc tế (Société d'arbitrage des Nations).
 
 Từ năm 1874 đến 1886, Dunant lang thang nghèo khổ khắp Âu châu, giữa Stuttgart, Rome, Corfou, Bâle và Karlsruhe. Ông  nợ nần và bị ủy ban Hồng thập tự Quốc tế bỏ rơi cho dù ủy ban các nước Áo, Hòa Lan, Thụy Điển, Phổ, Tây Ban Nha vẫn để ông làm hội viên danh dự. Có một số mạnh thường quân vẫn giúp đỡ như Charles Bowles, Jean-Jacques Boucart Max Gracia, nhất là với một bà góa giáu có Léonie Kastner-Boursault, vợ nhà soạn nhạc Jean-Georges Kastner. Bà nhờ Dunant thương phẩm hóa chiếc Pyrophon do con trai bà là Friedrich Eugen Kastner sáng chế. Pyrophone là "đàn lửa", một dụng cụ âm nhạc mà âm thanh phát ra do những tiếng nổ của lửa. Năm 1875 ông du lịch với Léonie sang Ý.
 
Tại Stuttgart, ông kết thân với Rudolf Muller và nhờ đó ông biết thành phố Heiden. Sau đó ông chơi thân với hai vợ chồng Wilhem và Susanna Sonderegger. Hai người này khuyến khích ông kiểm lại và in tập hồi ký thành sách và ngày 27 tháng 2 năm 1880, ông thành lập chi nhánh Hồng Thập Tự tại Heiden. Ông trở thành giám đốc danh dự cho hội này.
 
1892:  Ông muốn thực hiện việc viết bài tự thuật của mình, nhưng  đã mòn mỏi vì cuộc sống nay đây mai đó và vì là nạn nhận của sự hành hạ không ngừng nên ông  không thể sắp thứ tự những  ý tưởng của mình. Quyển "nhật ký" của ông hãy còn  là một hỗn độn dở dang.
Name:  IMG_6819.JPG
Views: 2633
Size:  106.4 KB
Sau gần 20 năm lang thang khắp châu Âu, ông trở lại Suisse, nhưng không tới Genève, mà ở tại Heiden, một bang của Appenzell, trong nhà thương thí tên là Ký túc xá Thiên đường (Pension Paradis) để chữa bệnh ngoài da và chứng trầm cảm.
 
Mãi đến năm 1895, Georg Baumberger chủ biên tập trẻ tuổi người Áo của báo Die Ostschweiz xã Saint-Gall mới phát hiện ra ông. Georg Baumberger viết bài phỏng vấn tựa đề "Henri Dunant, sáng lập viên Hội Hồng thập tự" trên tờ báo Đức "Trên đất và biển" (Sur terre et mer). Bài báo được truyền ra khắp châu Âu, gây phản ứng khắp nơi trên thế giới. Ý tưởng của Dunant  đã thay đổi, ông  không chỉ  muốn có bộ luật chiến tranh mà còn chống  lại với chính chiến tranh bằng cách cộng tác với các tờ báo chuộng hòa bình và viết bài "Tương  lai đẫm máu", lên án chế độ phong  kiến và nghiên cứu khoa học nhằm mục đích chiến tranh. Mọi người nhớ lại ông, gởi cho ông nhiều thiện cảm và được toàn thể thế giới ủng hộ. Ông lại trở về với công chúng tuy Hội Hồng Thập Tự tại Genève vẫn còn lánh mặt ông.
 
Dunant được giải thưởng Binet-Fendt và sự biết ơn của Giáo hoàng Léon XIII. Nhờ tiền cấp dưỡng của bà sa hoàng Maria Fedorovna và nhiều trợ cấp khác, ông thoát khỏi cảnh nghèo khó nhanh chóng.
 
Năm 1899 ông cho in tác phẩm Đề nghị Hoàng đế Nicolas II  (Proposition à sa majesté l'Empereur Nicolas II). Đó là tác phẩm cuối cùng của ông.
 
Năm 1901, ông được giải Nobel chung với Frédéric Passy, một chính trị gia Pháp, người sáng lập ra Hội Trọng tài các Quốc gia (Société d'arbitrage des Nations), tổ tiên của Liên Hiệp Quốc (ONU).
 
08/05/1908 : Cả thế giới làm lễ sinh nhật thứ 80 của ông.
 
30/10/1910: Ông mất ở tuổi 82. Nhờ tiền giải thưởng, ông để lại tờ di chúc: lập ra một cái giường vĩnh cửu cho người nghèo khó tại bệnh viện Heidn, nơi mà ông đã  sống những  năm cuối đời, và những cơ quan từ thiện. Tro ông được rải  ở  Zurich theo ý muốn của ông.
 
 
Hồng Vân sưu tầm
 
Name:  IMG_6808.JPG
Views: 2784
Size:  62.6 KB
v
 
Xem thêm...
Theo dõi RSS này