Khi nào các bộ phận trong cơ thể con người bắt đầu thoái hóa?

Image result for Khi nào các bộ phận trong cơ thể con người bắt đầu thoái hóa?
Related image

Sức Khỏe Và Đời Sống - Y Khoa và Mẹo Vặt  

 

Khi nào các bộ phận trong cơ thể con người bắt đầu thoái hóa?

Image result for Khi nào các bộ phận trong cơ thể con người bắt đầu thoái hóa?
 
Già là một điều không ai tránh khỏi. Hiện nay các viện nghiên cứu y khoa đã cho biết một cách chính xác các bộ phận trong cơ thể của con người bắt đầu thoái hóa từ lúc nào. Các bác sĩ người Pháp đã tìm thấy chất lượng tinh trùng bắt đầu suy thoái từ tuổi 35, bởi thế khi người đàn ông 45 tuổi thì một phần ba số lần mang thai sẽ dẫn đến sảy thai. Angela Epstein đã viết trong Daily Mail,  tuổi của các bộ phận trong cơ thể bắt đầu suy thoái như sau :
 
 
image
 
Não bắt đầu suy thoái lúc 20 tuổi .
Khi chúng ta trưởng thành, các tế bào não  bị giảm dần. Và não cũng teo nhỏ lại. Khởi đầu con người có 100 tỉ tế bào não, nhưng đến tuổi 20 con số nầy giảm dần, và đến tuổi 40 con người mất mỗi ngày 10.000 tế bào ảnh hưởng rất nhiều đến trí nhớ và có tác dụng rất lớn đến tâm sinh lý người già…
 
Ruột bắt đầu suy giảm từ tuổi 55.
Ruột tốt có sự cân bằng giữa các vi khuẩn có ích và có hại. Vi khuẩn có ích sẽ giảm đi đáng kể sau tuổi 55, đặc biệt ở phần ruột già. Sau 55 tuổi bộ tiêu hóa bắt đầu xấu đi và sẽ gây hại cho các bệnh đường ruột. Táo bón là một bệnh thông thường của tuổi già, cũng như dịch vị từ bao tử, gan, tuyến tuỵ, ruột non bị suy giảm .
Image result for Khi nào các bộ phận trong cơ thể con người bắt đầu thoái hóa?
 
Bọng đái bắt đầu suy thoái từ tuổi 65 .
Người già thường mất kiểm soát bọng đái Nó bắt đầu co lại đột ngột, ngay cả khi không đầy. Phụ nữ dễ gặp trục trặc này hơn khi chấm dứt kinh nguyệt. Khả năng chứa nước tiểu của bọng đái một người già chỉ bằng nửa so với người trẻ tuổi, khoảng 2 c ốc ở tuổi 30 và 1 c ốc ở tuổi 70. Điều này khiến người già phải đi tiểu nhiều hơn, và dễ nhiễm trùng đường tiểu. 
 
Vú bắt đầu thoái hóa từ năm 35 tuổi .
Khi người đàn bà đến 30 tuổi thì vú mất dần các mô và mở, sự đầy đặn và kích cở của bộ vú bị suy giảm. Khi 40 tuổi núm vú bị teo lại và vú thòng xuống.
 
Phổi lão hóa từ tuổi 20.
Sụn sườn vôi hóa, lồng ngực biến dạng, khớp cứng ảnh hưởng tới thở, nhu mô phổi giảm đàn hồi, giãm phế nang. Dung tích của phổi bắt đầu giảm  dần từ tuổi 20. Ðến tuổi 40 có nhiều người đã bắt đầu khó thở vì các cơ bắp và xương sườn buồng phổi bắt đầu xơ cứng .
 
 
image
 
Giọng nói bắt đầu yếu và khàn kể từ tuổi 65. 
Phụ nữ có giọng khàn và nhỏ trong khi đàn ông giọng cao và nhẹ
 
Mắt lão hóa từ năm 40
và phần lớn phải mang kiếng, không còn nhìn rõ một vật ở xa. Khả năng tập trung của mắt kém hơn do cơ mắt yếu hơn.
 
Tim lão hóa từ tuổi 40.
Khối lượng cơ tim giảm. Tuần hoàn nuôi cơ tim cũng giảm,  suy tim tiềm tàng, huyết áp tăng dần…Sức bơm của tim giảm dần vì các mạch máu giảm sự đàn hồi. Các động mạch cứng dần và bị mở đóng vào các thành mạch. Máu cung cấp cho tim cũng bị giảm bớt. Ðàn ông 45 tuổi và đàn bà 55 dễ bị đau tim .
 
Gan lão hóa từ năm 70.
Chức năng chuyển hóa và giải độc giảm.Tuy nhiên gan là  một bộ phận gần như không chịu khuất phục tuổi tác . Người ta có thể ghép gan của một ông già 70 tuổi cho một người 20 tuổi.
 
Thận lão hóa năm 50..
Số đơn vị lọc chất thải khỏi máu bắt đầu giảm xuống ở tuổi trung niên.
 
Tuyến tiền liệt lão hóa vào năm 50.
Hệ thống sinh dục nam gồm có: tinh hoàn và bộ phận sinh dục phụ như đường dẫn tinh, tuyến tiền liệt, tuyến hành niệu đạo, túi tinh và dương vật.Tuyến tiền liệt thường lớn dần theo tuổi tác.  Khi tuyến tiền liệt tăng kích thước sẽ ép vào niệu đạo và bàng quang, gây khó khăn cho tiểu tiện. Nó gây nên triệu chứng tiểu ngập ngừng, tiểu nhiều lần, tăng nguy cơ nhiễm trùng tiết niệu và tiểu khó.
 
 
image
 
Xương lão hóa hóa vào tuổi 35.
Cho đến giữa những năm 20 tuổi, mật độ xương vẫn còn tăng. Trẻ em xương lớn rất nhanh, cứ mỗi 2 năm lại thay đổi toàn bộ xương củ, nhưng đến tuổi 35 thì xương đã lão,  hiện tượng mất xương bắt đầu như một quá trình già cả tự nhiên.
 
Răng suy từ tuổi 40. 
Răng bị hao mòn. Dễ bị bệnh nha chu. Niêm mạc bị teo dần 
 
Bắp thịt lão hóa từ năm 30 .
Thông thường bắp thịt khi bị lão hoá thì được tái tạo ngay, nhưng đến tuổi 30 thì tái tạo it hơn là  lão hóa. Ðến tuổi 40, mỗi năm bắp thịt bị sút giảm từ 0.5 đến 2 %. Vì thế người già khó giữ thăng bằng, trở thành chậm chạp, dễ bị ngã và gẫy xương.
 
Nghe giảm đi kể từ giữa năm 50.
Rất nhiều người bị lãng tai kể từ năm 60
 
 
image
 
Da suy giảm kể từ năm 20.
Chúng ta đã giảm dần việc sản xuất chất keo dính của da từ giữa tuổi 20. Việc thay thế các tế bào chết cũng chậm dần.
 
Vị giác và khứu giác giảm từ năm 60.
Thông thưuờng chúng ta có thể nếm được 100.000 vị trên lưởi. Các vị này chúng ta chỉ nếm được phân nửa khi già và đến tuổi 60 thì không còn ngửi và nếm một cách chính xác được nữa
 
Sinh sản mất khả năng từ năm 35.
Khả năng sinh nở của phụ nữ bắt đầu giảm sau tuổi 35, vì số lượng và chất lượng trứng trong tử cung giảm xuống.
 
 
image
 
Tóc lão hóa từ tuổi 30.
Thông thường cứ 3 năm thì tóc cũ sẽ được thay thế toàn bộ tóc mới. Và đến năm 35 tuổi thì tóc không còn đen nhánh nữa mà ngã màu đen xám và rụng dần đi .
 
Làm thế nào để làm chậm sự lão hóa ?
 
image
 
Già không phải là một bệnh nhưng già tạo điều kiện cho bệnh phát sinh và phát triển; cần chú ý một số đặc điểm sau:
 
– Người già thường mắc nhiều bệnh cùng một lúc, có bệnh dễ phát hiện, nhưng cũng có bệnh rất kín đáo, tiềm tàng, nguy hiểm.
 
– Triệu chứng ít khi điển hình, không ồ ạt, không rõ rệt, nên khó chẩn đoán, dễ sai lạc nếu ít kinh nghiệm.
 
– Khả năng phục hồi sức khỏe sau các trận ốm thường chậm hơn so với người  trẻ, nên sau điều trị phải có thời gian an dưỡng.
 
Một số biện pháp làm giảm tốc độ lão hóa:
 
Học thuyết âm dương của y học cổ truyền chứng minh con người là một chỉnh thể giữa âm dương, giữa khí và huyết. Luôn luôn thăng bằng với nhau từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, từ trong ra ngoài, từ ngoài vào trong theo một quy luật nhất định, để duy trì sự sống của con người được bền vững dài lâu. Vì thế muốn giảm tốc độ lão hóa cần phải:
 
Về tư tưởng luôn luôn lạc quan yêu đời, chủ động gạt bỏ những cái làm ảnh hưởng đến bộ não, hạn chế tối đa nỗi cô đơn, giải quyết tốt nhất mối quan hệ xã hội và gia đình, có triết lý sống đúng; phải chú ý cả 3 vấn đề: lẽ sống, lối sống và hành động sao cho khoa học văn minh để loại trừ 7 nguyên nhân gây bệnh của Đông y là : hỷ, nộ, ưu, tư, bi, kinh, khủng. Muốn được thảnh thơi phải có kiến thức, phải có hiểu biết để nhìn nhận vấn đề sao cho đúng đắn qua báo chí, đài phát thanh, truyền hình để làm chủ được mình và giáo dục cho gia đình, con cháu giảm các nỗi bực dọc và tự chăm lo cho mình.
 
Thường xuyên luyện tập đều đặn về trí tuệ và thể lực như đọc sách báo, nghe đài, xem TV… đồng thời tập thể dục thể thao, đi bộ, tập thở, tĩnh tâm thư giãn, v.v… phù hợp với hoàn cảnh và sức khỏe từng người.
 
image
 
Sinh hoạt điều độ, không làm gì quá sức bình thường, giữ gìn trạng thái cân bằng giữa ngủ và nghỉ, giữa ăn và làm, giữa trí óc và chân tay, giữa trong nhà và ngoài trời, giữa lười và chăm, v.v… cũng rất quan trọng.
 
Ăn uống đúng và đủ theo khả năng của mình, không nên nghiện bất cứ thứ gì, hạn chế thịt nhất là mỡ, ăn nhiều rau quả tươi, giảm chất bột, giảm bánh kẹo, bảo đảm cân bằng thức ăn âm và dương, giữ người không béo và cũng không gầy. Nên nhớ con người là giống ăn  ngũ cốc, nên thức ăn cho người phải 80% là ngũ cốc còn 20% là rau quả và các thứ khác, không nên ăn quá no, người già rất cần đạm ở đậu tương, vừng lạc, tôm cua, ốc hến…
 
Cần có môi trường sống tự nhiên tốt, phần lớn các cụ sống 100 tuổi trở lên đều ở vùng núi, ở nông thôn còn ở thành phố thì rất ít và gốc cũng không phải thành thị. Hiện nay môi trường sống đang bị tàn phá nghiêm trọng đó là tự hủy hoại mình (chặt cây, phá rừng, chất thải, phân hóa học, thuốc trừ sâu…) đã làm mất đi cảnh thanh bình của thiên nhiên, là điều cũng nên hết sức tránh.
 
 
image
 
Kiên trì áp dụng 10 bài học về sức khỏe của Nhật Bản, đất nước được mệnh danh là “vương quốc của tuổi thọ” vì có tuổi thọ cao nhất thế giới hiện nay.
 
10 bài học đó là:
 
– Bớt ăn thịt, ăn nhiều rau
– Bớt ăn mặn, ăn nhiều chất chua
– Bớt ăn đường, ăn nhiều hoa quả
– Bớt ăn chất bột, ăn nhiều sữa
– Bớt mặc nhiều quần áo, tắm nhiều lần
– Bớt đi xe, năng đi bộ
– Bớt phiền muộn, ngủ nhiều hơn
– Bớt nóng giận, cười nhiều hơn
– Bớt nói, làm nhiều hơn
– Bớt ham muốn, chia sẻ nhiều hơn
 
Những bài học trên có tác dụng rất lớn đối với những người bị tăng huyết áp, bệnh tim mạch, ung thư dạ dày, viêm gan…
 
Biết cách sống, ta có thể làm chậm được quá trình lão hóa, kéo dài được tuổi thọ, có thể điều chỉnh được chiếc đồng hồ sinh học trong con người chúng ta chạy chậm lại, ta cũng có thể giữ bộ máy cực kỳ tinh vi của ta được bền vững lâu dài hơn.
 

Hạnh Tâm St. Chân Phước Liêm

 

Xem thêm...

Cơm thố Chợ Cũ năm xưa

Kể về cơm thố chợ cũ năm xưa

%image_alt%Cơm là thực phẩm chánh của người Việt mình từ xưa đến nay. Có nhiều loại cơm quen thuộc như cơm trắng, cơm tẻ, cơm nếp, cơm chiên, cơm vắt, cơm nguội, cơm tấm, cơm tay cầm, v.v.. Nhưng cái tên “cơm thố” nghe lạ tai với không ít người Việt mình ở hải ngoại.

Cơm thố là cơm gì? Chợ Cũ ở đâu? 

Cơm thố là làm chín gạo trong cái thố nhỏ bằng cách chưng cách thủy. Mỗi thố cơm tương đương độ một chén cơm nhỏ. Đây là cách nấu cơm cầu kỳ theo truyền thống của một số dân tộc người Hoa. Theo như kể lại, cơm thố có mặt ở Sài Gòn-Chợ Lớn vào thập niên 30-40 của thế kỷ trước. Đến thập niên 70, do khăn gói gió đưa từ Gò Công lên Sài Gòn, tôi mới có cơ hội làm quen với vài “món ngon vật lạ” ở đô thành hoa lệ trong đó món cơm thố Chợ Cũ.

%image_alt%Chợ Cũ Sài Gòn nguyên là chợ Bến Thành, đã có trước khi Pháp chiếm Gia Định. Chợ nằm bên bờ sông Bến Nghé, gần thành Gia Định, bến nầy dân gian gọi là Bến Thành và chợ có tên là chợ Bến Thành.

Tháng 2 năm 1859, Pháp chiếm thành Gia Định, quân triều đình Huế dùng chiến thuật hỏa công, thành phố và chợ Bến Thành bị thiêu hủy. Năm 1860, sau khi “bình định” xong Gia Định, Pháp đã cho xây cất lại chợ Bến Thành ở địa điểm cũ, cột bằng gạch, sườn gỗ và lợp lá. Vào năm 1887, Pháp cho lấp con kinh, sát nhập hai con đường lại làm một, thành đại lộ Charner, nay là đại lộ Nguyễn Huệ. Khu chợ càng trở nên đông đúc mà phần nhiều là của người Tàu, người Ấn và người Pháp.

Năm 1912, vì chợ cũ kỹ nên Pháp lựa chọn một địa điểm khác để xây cất một khu chợ mới lớn hơn. Địa điểm được lựa chọn nằm gần ga xe lửa Mỹ Tho (sau nầy là bến xe Sài Gòn), tức là địa điểm chợ Bến Thành ngày nay.

Khu chợ Bến Thành cũ được gọi là Chợ Cũ tới nay. Nên có câu ca dao:

Chợ Bến Thành dời đổi,
Người sao khỏi hợp tan.
Xa gần giữ nghĩa tào khang,
Chớ ham nơi qườn quới, (mà) phụ phàng bạn xưa!

%image_alt%Chợ Cũ xưa có nhiều tiệm cơm thố.

Ngon mà giá bình dân là những tiệm cơm thố nằm góc đường Tôn Thất Đạm – Hàm Nghi. Đa số người đến tiệm là người Việt gồm đủ thành phần xã hội. Người ra vào tiệm tấp nập chủ yếu vì món cơm thố ngon thơm, dẻo và luôn luôn nóng mà giá cả rất “bèo” như tiếng Sài Gòn bây giờ.

Phần tôi lần đầu tiên được ông bạn vong niên mời ăn cơm thố Chợ Cũ. Vào tiệm thấy người ta kêu những món mà từ nhỏ tôi chưa được ăn bao giờ như cá hấp, gà nướng, bồ câu quay, canh cải bẹ xanh nấu với cá thác lác v.v..

Thấy có người vào ăn một hơi cả chục thố cơm, mà đồ ăn chỉ với một dĩa cá mặn rất ư là khiêm nhường. Cơm thố Chợ Cũ từ đó đã gây cho tôi nhiều ấn tượng về thế giới ẩm thực của người Hoa. Sau này trở thành dân Sài Gòn, có nhiều dịp ăn cơm thố, tôi mới khám ra nhiều điều thú vị và bí mật về thế giới cơm thố từ lối nấu, cách ăn của Tàu đã du nhập vào người Việt.

Như ở tiệm cơm thố Bac-Ca-Ra sau rạp chiếu bóng Nam Quang (?) thực khách hầu như chỉ có người Việt. Tiệm nổi tiếng nhờ chiêu “khách gọi món gì tiệm nấu món nấy,” bất kể món gì, từ món “cá hàm dỉ,” canh cải bẹ xanh nấu gừng, đến món cá chưng, cá hấp v.v.. Thế mà thực khách ai nấy đều vui vẻ chờ đợi!

%image_alt%Nay nói về cái thố hấp cơm. 

Thố là dụng cụ để đựng bằng sành sứ, là đồ dùng trong gia đình như chén, dĩa, tô, tộ. Thố có nhiều cỡ kiểu, có loại có quai/ không quai, có loại có nắp/ không nắp. Ngày xưa, nhà giàu ở miền Tây thường hay chưng một cặp thố kiểu loại lớn, trên bàn thờ trông cho sang.

Thố kiểu nhỏ được dùng đựng nước cúng, đơm cơm, đựng cơm rượu xôi vò v.v.. dọn trên bàn thờ trong ngày giỗ, ngày Tết. Thố bằng sành thì được dùng để hấp cơm, tiềm thuốc bắc. Thố kiểu làm bên Trung Hoa, còn thố sành được làm ở Bình Dương.

Nồi và xửng hấp cơm thố cũng rất đặc biệt.

Nồi to, trong nồi đặt cái xửng lớn có hai, ba từng hấp, xửng đan bằng tre có nhiều lỗ thoát hơi lớn bằng ngón tay cái. Phần chứa nước sôi của nồi hấp có chỗ tiếp thêm nước nóng mà không cần dời các từng chứa cơm, tránh không làm cho cơm bị “hót hơi.” Các thố cơm sắp thưa và đều trong mỗi từng hấp để còn chỗ cho hơi nước bốc lên từng trên cùng.

%image_alt%Gạo dùng nấu cơm thố. 

Là loại gạo ngon đặc biệt như gạo Sóc Nâu, gạo hột dài, gao nàng hương Chợ Đào.

Cho ít gạo, đã được gúc sạch để ráo nước, vào từng cái thố sành. Tùy theo loại gạo mà gia giảm nước. Nước chỉ được châm vào thố một lần mà thôi, không được châm thêm. Tất cả đều do kinh nghiệm của người bếp làm sao cho cơm vừa ăn, không khô, không nhão. Người bếp phải biết chắc từng cơm nào đã chín để chuyển qua từng khác, bằng cách chồng nhiều từng cơm đã chín lên nhau để chỉ giữ cơm luôn được nóng.

Hấp cơm thố quả là cầu kỳ và công phu! Cơm thố như vậy là “cơm trắng đặc biệt”, không giống như cơm trắng thường nấu bằng nồi đất mà chúng ta ăn hằng ngáy ở nhà. Hột gạo trong thố được làm chín bằng cách hấp nên mùi thơm của gạo len ẩn vào trong ruột hột cơm, làm cho cơm thố thơm hơn cơm nấu. Cơm thố còn có đặc tánh nữa là giữ nóng lâu, để nguội hấp lại mà không bị khô. Đặc tính nầy cơm nấu thường không có.

Vào tiệm cơm thố, “phổ ky” bưng lên, ăn bao nhiêu tính tiền bấy nhiêu. Bạn không cảm thấy ăn cơm thừa của người khác. Thố cơm bé xíu, trông hấp dẫn, và hai đũa là hết. Bạn thấy ngon hơn ăn cơm bới trong nồi.

Được biết tới nay vẫn còn một tiệm cơm thố kỳ cựu ở số 45, đường Tản Đà, quận 5, Chợ Lớn, mang bảng hiệu tiếng Việt là Giang Nam, nổi tiếng nhờ bán độc nhứt món cơm thố, không bán thêm mì hủ tiếu như tiệm khác. Bảng hiệu cơm thố Giang Nam có mặt vào khoảng 1942, nhờ được đạo diễn phim Người Tình (quay năm 1992) chọn để tái hiện cảnh sanh hoạt hàng ngày của Chợ Lớn thời thập niên 30-40 thế kỷ trước, làm cho cơm thố Giang Nam thêm tiếng tăm.

%image_alt%Cũng nên phân biệt cơm thố với cơm tay cầm.

Cơm tay cầm là loại phục vụ cho nhiều người, dọn chung cho cả bàn cùng ăn. Cơm tay cầm là cơm nấu chung với thức ăn, là cơm tổng hợp, người ăn không phải ăn kèm với thức ăn nào khác. Thức ăn như hải sản, gan heo, gà quay… hấp chung với cơm trắng trong cái nồi nhỏ có một một quai, gọi là tay cầm. Cơm tay cầm cũng được làm chín bằng cách hấp cách thủy, sau khi chín có tiệm còn bắc xoong cơm tay cầm lên bếp lửa cho cơm khét phần dưới.

Tại Little Saigon đó đây còn có tiệm còn bán món cơm tay cầm. Riêng món cơm thố Chợ Cũ của tôi chỉ còn là “vang bóng một thời”. Khoa học tiến bộ, nấu cơm bằng nồi điện, làm cho cơm thố Chợ Cũ đã bị lùi vào trong ký ức! Đúng là đời sống văn minh làm cho “Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều” như lời Chân Quê của Nguyễn Bính!
Kể cũng tiếc…

 

Nguồn: GS Trần Văn Chi

Nam Mai sưu tầm

 
Xem thêm...

Tản mạn về bia (beer)

Tản mạn về bia (beer)

 ********

 
https://baomai.blogspot.com/ 

Lại một tình cờ đã đưa tới sự khám phá ra cách chế biến món nước “Tinh Thần”, uống cho tới tận cùng say xỉn này.
Truyền thuyết kể lại là cách đây trên mươi ngàn năm, một cô bé đang ăn miếng  bánh mì khô uống với ly nước lạnh, thì có bạn gọi đi chơi trò nhẩy dây. Cô ta ném  miếng bánh vào ly nước, để trên mặt bàn rồi chạy ra ngoài.  Đó là miếng bánh cũ bỏ quên trong cặp  sách đã lâu, có bám bụi xanh.
Mấy ngày sau bà mẹ dọn  bàn thấy ly nước trong trong, có mùi thơm thơm. Đang khát nước, bà bèn uống. Một lúc sau cảm thấy trong người sảng khoái, lên tinh thần. Bà khoe với ông chồng và ngỏ ý muốn có thêm. Chiều vợ, ông chồng  làm nước đó cho vợ và gia đình. 
Lối xóm bắt chước và thiên hạ cũng làm theo. Thế là Bia  ra đời.
 
https://baomai.blogspot.com/

Anh ngữ gọi là Beer, Pháp ngữ là Biere từ chữ Latin “Bibere” nghĩa là Uống.
Người Việt ta phiên âm là LA DE  từ chữ La Biere cho tiện việc sổ sách.
Tiếng Đc Baere, từ chữ Barley là loại lúa mạch dùng nhiều nhất để làm la de.
Trung hoa gọi  bia là Ty tửu vì có ít ethanol.
 
https://baomai.blogspot.com/
Theo các nhà khảo cổ, thì la de được dân chúng thành phố Babylon chế ra đầu tiên một cách khá quy mô, cách đây trên  6000 năm. Họ ngâm  nước  cho hạt lúa mạch lên mốc xanh, nghiền nát,  trộn với nước, để dăm ngày rồi uống. Khi đó, la de rất được dân chúng ưa thích, mà khả năng biến chế giới hạn nên các Lãnh Chúa bèn đặt chế độ khẩu phần. Dân lao động chỉ được mỗi ngày hai lít, công nhân viên nhà nước ba lít, quan chức cao cấp và quý ngài tu sĩ năm lít.
 
https://baomai.blogspot.com/
 
Từ Ai Cập, la de lan tràn ra các nước khác và được phổ thông trước khi nho được trồng làm rượu vang, vào thời kỳ đế quốc La Mã. Con dân đế quốc coi la de như thứ nước uống của người man di, còn họ uống thứ nước dành cho Thần Linh, ấy là rượu vang. 
Cũng nên nhắc là việc nấu la de, theo luật đời xưa, là việc làm của nữ giới. Đến sau Thiên Chúa giáng sinh thì la de được đưa vào thị trường thương mại, ai mua cũng được.
Chuyện này cũng có lý do. Vì đã có một thời kỳ,  làm la de được các tu viện hầu như dành quyền ưu tiên chế biến và là nguồn lợi tức đáng kể cho cơ sở tôn giáo. Ngoài lợi tức, các tu sĩ còn muốn tự do dùng la de  chung với thực phẩm ngon mà họ được cung cấp. Đồng thời la de không bị cấm trong thời gian ăn chay, nên các ngài tự do dùng và mỗi tu sĩ được chia tới 5 lít một ngày.
Chỉ sau thời kỳ Cải Cách giáo hội Thiên Chúa Giáo La Mã, đưa đến sự thành lập các giáo hội Tin Lành vào thế kỷ 16, sự ưu đãi độc quyền làm bia này cho tu viện mới được bãi bỏ. Bia được các nhà sản xuất thương mại trách nhiệm. 
 
https://baomai.blogspot.com/
Nhưng phải công nhận là nhờ kiến thức của các tu sĩ mà kỹ nghệ làm bia tiến bộ rất nhiều, từ việc một miếng bánh rơi vào ly nước tới những máy móc, tuy thô sơ, nhưng mau lẹ, làm được nhiều  lại an toàn vệ sinh, có phẩm chất ngon hơn.
Kỹ nghệ sản xuất bia thực sự  cải thiện vào đầu thế kỷ thứ  19 với sự sáng chế ra máy hơi của James Watt và hệ thống làm lạnh của Carl von Linde. Trước đó, bia thường được làm vào mùa Đông, thuận tiện cho sự lên men của bánh. Từ  khi khám phá ra hệ thống làm lạnh, bia được sản xuất quanh năm. Đầu máy hơi nước của James Watt giúp sự sản xuất bia từng loạt với số lượng nhiều hơn. 
 
https://baomai.blogspot.com/
Trong việc làm bia, nhà bác học Pháp Louis Pasteur cũng cống hiến một khám phá quan trọng: Đó là sự tìm ra những nấm lên men mà ông đã trình bày trong nghiên cứu tựa đề “ Etude de la Bierre”, vào năm 1876. Nhờ khám phá này mà ngày nay ta đã nuôi được men và dùng rộng rãi trong kỹ nghệ làm bia và rượu vang.
Một khoa học gia khác người Đan Mạch, Christian  Hansen, đã thành công trong việc tách  một thứ nấm, trồng trong dung môi dinh dưỡng và dùng  hàng loạt vào việc lên men lúa mạch để làm bia.
 
Làm bia
Muốn có một lon bia, ta cần bốn vật liệu chính yếu: Nước, ngũ cốc, men và cây Hoa Bia (Hop= Houblon).
A_ Ngũ cốc
 
https://baomai.blogspot.com/
Bia có thể được làm từ gạo (Việt Nam,Trung Hoa Nhật Bản), ngô (Thổ dân American Indian), mì ( Đức wheat), lúa mạch đen ( Nga, ryes) yến mạch ( Oats) nhưng thông thường nhất vẫn là bằng hạt lúa mạch ( Barley) rồi đến lúa mì. Ngô và gạo cho loại bia kém phẩm chất.
 
Lúa mạch có nguồn gốc từ Châu Á và Ethiopia và là loại ngũ cốc được sản xuất đứng hàng thứ tư sau lúa mì, gạo và ngô. Lúa mạch có lượng carbohydrates khá cao, tới 67% và 13% chất đạm.
 
https://baomai.blogspot.com/
Trước hết, mạch được ngâm trong nước độ một tuần cho nẩy mầm đồng thời tinh bột của mạch được  chuyển hóa thành đường maltose. Sau đó mạch có mầm được đun chín rồi sấy khô, say khỏi vỏ rồi ngâm trong nước nóng. Đường trong mạch sẽ hòa vào nước cho một dung dịch có vị ngọt.
Dung dịch này  được đun sôi khoảng hai giờ  để diệt hết vi khuẩn. Đây là lúc mà Hoa Bia được thêm vào để tạo ra vị đắng  cho bia.
 
B_ Hoa bia
 
https://baomai.blogspot.com/
Houblon là loại cây leo có hoa mọc thành từng chùm. Hoa được sấy khô để tạo vị đắng cho bia. Đun càng lâu thì chất đắng của hoa bia càng tan nhiều trong nước, bia sẽ đắng hơn.
Nghiên cứu ở Mỹ cho biết cây Hoa Bia có chất  chống oxy hóa Antioxidant Prenylated Flavonoids rất tốt để giúp cơ thể giảm nguy cơ bị các bệnh tim, ung thư, sa sút trí tuệ và cao cholesterol.
Dung dịch được để nguội, vớt hết lá hoa bia và cặn bã ra rồi men được thêm vào
 
C_ Men
Men bia là những nấm nhỏ li ti có khả năng chuyển đổi tinh bột ra đường. Nấm có nhiều trong thiên nhiên.
Hai loại men thường dùng  trong kỹ nghệ bia là Sacchromyces cerevisiae nổi lên mặt dung dịch  và  loại Saccharomyces uvarum, chìm dưới đáy. Mươi ngày sau men sẽ chuyển hóa hầu hết đường maltose và lúc đó ta đã có một lon bia.
 

Nhưng chưa đủ, muốn có hơi sủi bọt, bia được chuyển vào một bình điều hòa để lên men lần thứ hai và có hơi carbonates.Vì  còn vẩn đục, nên  bia được  lọc.
Bia vô lon hoặc chai được  đun nóng ( Pasteurized) để diệt hết các vi khuẩn còn sót và để chặn sự lên men.
Draft bia không đun nóng nhưng phải giữ ở nhiệt độ lạnh cho tới khi dùng để bia thôi lên men. Uống ngay sau khi sản xuất, Draft bia  ngon hơn vì trong khi chuyên trở đi xa, sự thay đổi nhiệt chung quanh ảnh hưởng tới phẩm chất của bia.
 
D_ Nước
 
https://baomai.blogspot.com/
 
Nước dùng để làm bia cũng rất quan trọng. Nước có nhiều khoáng chất thì bia đắng hơn là nước có ít khoáng chất.
Beer cũng như rượu vang có từ 2-6% Ethanol trong khi đó rượu mạnh như wisky, gin, vodka có tới 45-50% ethanol.
 
Một vài loại  bia
Như đã nói ở trên, bia có thể làm từ lúa mì, ngô, gạo nhưng lúa mạch thường được dùng nhiếu nhất.
Ngay cả làm từ lúa mạch, bia cũng có nhiều loại tùy theo  men nổi hay chìm, nhiệt độ và thời gian để mạch lên men, số lượng Hoa bia, thời gian và nhiệt độ nơi cất giữ bia. Theo luật, bia không được có quá 5% chất rượu ethanol.
 
https://baomai.blogspot.com/

- Ale nặng hơn beer và dùng men nổi mà beer thì dùng men chìm dưới đáy.
 
https://baomai.blogspot.com/

- Bitter là la de có nhiều Hoa bia nên đắng hơn và được dân Anh rất thích.
 
https://baomai.blogspot.com/

- Lager  cũng là la de nhẹ, mầu lạt, rất phổ thông bên Đức.
 
https://baomai.blogspot.com/

- Malt liquor mạnh hơn beer.
 
https://baomai.blogspot.com/

- Shandy là hỗn hợp beer với nước chanh (lemonade) hoặc ginger beer)
 
https://baomai.blogspot.com/

- Sake của Nhật được chế từ gạo, có nồng độ ethanol từ 14-%, nên thường được gọi là rượu gạo rice wine. Nhưng thực ra sake là một loại beer vì cũng được làm bằng sự lên men của gạo.
Sake không có mầu, không có hơi, hâm nóng uống ngon hơn, trong khi đó beer phải uống lạnh mới đã.
 
Dinh dưỡng
Về phương diện ăn uống, ngoài nước,  bia có một số lượng các chất dinh dưỡng rất khiêm nhường vì đa số đã  bị tiêu hủy trong quá trình chế biến.
 
https://baomai.blogspot.com/

Một ly 360 cc (12 Oz)  cho 140 calories mà 60% là do chất rượu ethyl alcohol của bia; 17mg calcium; 28mg magnesium; 40mg phosphore; 85mg potassium; rất ít Zinc, sinh tố B.
 
Các chất đạm, chất béo, sinh tố C và sinh tố hòa tan trong chất béo đều có rất ít nên bia được nhiều người coi  như chẳng bổ dưỡng gì ngoài một số calories. Chẳng thế mà  bác sĩ David Williams của đại học Wales, Anh Quốc đã cổ võ là trong chương trình giảm béo, nên uống nửa lít  bia một ngày  vì bia có tới 93% là nước lã, không đường, không chất béo.
Bia còn giữ hương vị thơm ngon nếu tiêu thụ trong vòng  hai tháng sau khi làm, do đó  không nên mua tích trữ quá nhiều và quá lâu. Cất bia ở chỗ mát, không có ánh nắng mặt trời để bia khỏi lên mùi.
Ly để uống bia cần sạch, không vết mỡ  vì mỡ làm bia hết bọt.
Cũng không nên uống bia quá lạnh vì nhiệt độ thấp làm  giảm mùi thơm của bia.
 
Bia với Sức Khỏe
 
Trang báo  Forbes ngày 17 tháng 3 năm 2008, tác giả Allison Van Dusen có nêu ra 8 lý do lành mạnh để uống bia, căn cứ vào một số nghiên cứu khoa học. Đó là  từ 30-35% ít bị heart attack, tăng chất béo lành HDL, giảm rủi ro máu cục, giảm hóa già, bảo vệ khỏi tử vong vì bệnh tim mạch, tăng trí tuệ giảm Alzheimer, giúp xương chắc mạnh, giảm biến chứng tiểu đưởng.
Nhưng Allison nhấn mạnh ở chữ vứa phải moderation. Vừa phải là 240 cc, ngày hai lần, quý bà thỉ chỉ ½ mà thôi.
Lưu ý là uống bia mãn ngày mãn tháng, lon trước rước lon sau thì hậu quả tai hại cũng nhiều.
 
https://baomai.blogspot.com/
 
Chẳng hạn như trở thành bét nhè nghiện rượu, xơ cúng ung thư gan, ung thư miệng…Ấy là chưa kế phá rối an ninh trật tự công công khi say xỉn, gây gổ hận thù, than chủ thường xuyên của khám nhỏ khám lớn. Ngoài ra, có nghiên cứu cho là uống vài ly bia/ngày có thể tăng rủi ro ung như nhũ hoa nữ giới.
Thành ra bia không phài là tốt cho mọi người.
Như giáo sư Charlie Bamforth, Đại học California ở Davis, nhắc nhở là không nên coi bia như một dược phẩm. Uống bia vì ý thích nhưng vừa phải là điều cần nhớ.
 
Nguyễn Ý-Đức M.D.
 
Nam Mai sưu tầm
 
Tại sao tôi yêu Bia?
Xem thêm...

Thuốc Phiện - Bác Sĩ Nguyễn Ý Đức

Thuốc Phiện

 Bác Sĩ Nguyễn Ý Đức

Thuốc  Phiện là một chất lấy ra từ vỏ đã khô của cây Anh Túc (Papaver sommniferum) mọc hoang ở Ấn Độ.Bằng cách nào mà chất này tác dụng lên thân thể và trí óc đều tùy thuộc vào thành phần của hơn 20 loại chất kiềm như morphine, codeine , nicotine và papaverine. Trong số những chất kiềm này thì một số có tác dụng làm con người trầm buồn, một số khác lại kích thích. Nhưng có điều chắc chắn rằng thuốc phiện gây nghiện.

Cây thuốc phiện

Từ bùa yêu thuốc lú tới cồn thuốc phiện.

Thuốc phiện đã được dùng từ thuở xa xưa như một dược phẩm hoặc thuốc giải trí. Sử sách từ cả ngàn năm về trước chứng minh điều này. Các dược sĩ từ thời cổ Ai Cập và Ba Tư đều bán thuốc phiện. Thuốc phiện cũng rất quan trọng trong y học La Mã và cổ Hy Lạp. Và nếu nhà thi sĩ Homer tin như vậy thì chính nàng Helen của thành Troy cũng dùng thuốc này để giải sầu.

Vào thế kỷ thứ 16, thuốc phiện rất thịnh hành trong y học tây phương. Nhà y học, triết gia Thụy Sĩ Paracelsus

thời cổ xưa gọi thuốc phiện là “tảng đá bất tử” trong khi đó y sĩ người Hà Lan Franz de la Boe quả quyết rằng ông ta không thể hành nghề nếu không có thuốc phiện. Ngay cả văn hào Shakespeare cũng nói về thuốc phiện đại khái như sau “không là cây thuốc phiện hoặc cây khoai ma thường dùng làm thuốc ngủ, chẳng phải những thuốc gây ngây ngất trên thế giới, mà cũng chẳng phải thuốc ngủ”

Vào giữa thế kỷ thứ 17, danh y Anh Quốc Hippocrates cũng như Thomas Sydenham pha thuốc phiện trong rượu cồn để làm một hỗn hợp gọi là ‘cồn thuốc phiện’. Hỗn hợp này rất phổ biến với mọi giới và mặc dù sự gây nghiện được biết rõ nhưng ít người để ý tới.

Cây Anh Túc (Cây thuốc phiện)

 

Nói về Thuốc Phiện 

Vào thế kỷ thứ 19, cuộc chiến tranh nha phiến là một phần lớn của nền thương mại Anh quốc. Trong năm 1827, khoảng 7750 kg thuốc phiện được nhập cảng qua ngả chính là Thổ Nhĩ Kỳ nhưng tới năm 1859, số này đã tăng gấp bốn lần. Thuốc phiện được bán không phải từ dược phòng mà còn từ những người đóng giầy , công nhân xí nghiệp, thợ may và ngươi thu tiền nợ.  Những trường hợp trong đó thuốc phiện được dùng gồm có tiêu chảy, kiết lỵ,  nhức răng, đầy hơi và mãn kinh.

Thị trường xuất cảng thuốc phiện ngày một phát triển. Công ty East India đang trồng cây thuốc phiện ở Bengadesh cũng nhập cảng lậu chất ‘Yên sĩ phi lý thuần” vào Trung quốc để đổi lấy kim loại bạc mà  trả cho trà và lụa. Dịch vụ buôn bán thuốc phiện này tăng từ 400 thùng mỗi năm vào giữa thế kỷ 18 cho tới 100 lần số lượng đó vào năm 1893.

Trung Quốc rất e ngại về những nguy hại của thuốc phiện đặc biệt là sự cạn kiệt nguồn kim loại bạc đang dự trữ. Triển vọng mở rộng cửa buôn bán thuốc phiện cho dân lại gặp trở ngại là Anh Quốc sẽ  gia tăng bán thuốc phiện.. Trung Quốc cưỡng lại và có một cuộc ruồng bắt những người bán chất “yên sĩ phi lý thuần” này. Vì vậy chính vị Thống Đốc Lin đã chứng kiến một cuộc thiêu đốt hơn 20,000 thùng thuốc phiện ở Quảng Đông.

Hậu quả  của mọi sự là hai cuộc chiến mà dân chúng Trung Quốc và nhiều quốc gia khác không thể nào quên được về sự xâm lăng trắng trợn của quân Anh chỉ vì thuốc phiện. Sau  chiến tranh nha phiến lần thứ nhất, Trung Quốc mất Hồng Kông và năm hải cảng phải mở cửa cho các nước ra vào buôn bán. Rồi tới cuộc chiến tranh nha phiến lần thứ hai(1857-1860) liên quân Anh-Pháp cùng tấn công khiến Trung Quốc mất chủ quyền và hợp thức hóa việc buôn bán thuốc phiện.

 

Thiên đường thuốc phiện

Trong khi đó ở Anh Quốc, thuốc phiện trở thành món giải trí lành mạnh của các văn thi sĩ. Những tác phẩm của Sammuel Taylor  Coleridge như Kubla Khan được coi là đã hoàn thành trong một cơn mơ do thuốc phiện. Và vào năm 1822, Thomas de Quicey đã có vai trò quan trọng trong văn chương nhờ tác phẩm Confessions of an English Opium Eater. 

Các nhân vật quan trọng trong xã hội cũng tự xả láng trong việc xử dụng thuốc phiện. Người hùng  Trung tướng Nam Tước Robert Clive mãn phần năm 1774 vì kinh phong do dùng một lượng thuốc phiện gấp đôi lượng thường dùng .Hoàng Đế George IV từng được cho dùng thuốc phiện để ngủ. Thống Chế Công Tước  Arthur Wellesley dùng cồn  thuốc phiện để giảm căng thẳng sau một ngày say xỉn. Và năm 1866, bà Florence Nightingale [1820-1910] , một phụ nữ giầu có chuyên về chăm sóc người bệnh than thở :không có gì làm tôi cảm thấy sảng khoái bằng đưa thuốc phiện vào dưới da của tôi.

Tại Hoa Kỳ, nhập cảng thuốc phiện nguyên chất gia tăng kể từ ngày Civil War.Trong những năm từ 1898 tới 1902,  trong khi dân số chỉ tăng có 10% thì số thuốc phiện tăng 500% và morphine tới 600%. Hầu hết đều được dùng trong y khoa kể cả thuốc xoa dịu trẻ em. Vì thế cho nên tới năm 1900, có tới 25,000 dân chúng Hoa Kỳ nghiện chất yên sĩ phi lý thuần này.

Bắt đầu kiểm soát

Suốt thế kỷ thứ 19, sự lo ngại về thuốc phiện gia tăng. Vào năm 1803, một phụ tá dược sĩ người Đức Friedrich Serturner cho hay có một loại thuốc phiện có thể làm bớt đau nhưng cần phải ở nồng độ vừa đủ. Dùng dung dịch ammoniac anh ta phân tách nhiều thành phần khác nhau của dược phẩm và đặt tên là morphine. Morphine đến từ thần thoại cổ Hy Lạp Morpheus, nữ thần của mộng mơ và ngủ nghê.

Các khám phá này, dù có nhiều ích lợi trong y khoa nhưng đưa tới lạm dụng morphine và codeine nhất là sự có sẵn của kim chích dưới da.Tới năm 1898, hai chất chiết của thuốc phiện được  thêm vào danh sách. Công ty dược phẩm E. Merck của nước Đức sản xuất dược phẩm bán tổng hợp Dionin,một loại morphine mà ngày nay thường dùng làm thuốc giảm ho và công ty Bayer rất hân hoan đón nhận chất Heroin (diacetylmorphine)là chất mà họ cho là có thể giảm đau và rất an toàn.

Vào năm 1860, nước Anh là quốc gia đầu tiên ban hành một đạo luật với mục đích kiểm soát những chất mới này. Tại Hoa Kỳ, hầu hết sự lo sợ thuốc phiện bắt nguồn từ việc kỳ thị nhóm dân trung Hoa ở miền Tây Hoa Kỳ. Đã có rất nhiều lời kêu gọi kiểm soát thuốc phiện ( ám chỉ người Trung Hoa) và cấm dùng và nhập cảng thuốc phiện vào năm 1909.

Mặc dù các nhà bào chế dược phẩm vận động mạnh mẽ , năm 1906 cơ quan Thực Dược Phẩm thuần túy  Hoa Kỳ phải trả tiền để cấm bày bán tự do các loại dược phẩm   gây nghiền. Mãi tới năm 1914 đạo luật Harrison Narcotic Act cho phép chính phủ Hoa Kỳ kiểm soát việc bán thuốc phiện.Rồi tới năm 1938,có tới 25,000 bác sĩ bị ra  tòa vì dùng thuốc cấm và 3000 vị “được” đưa vào nhà pha.

 

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

Hồng Anh sưu tầm

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này