Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1084)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (24)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (75)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (231)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

Còn sống tìm nhau - Đàm Hà Phú

 

Còn sống tìm nhau

Đàm Hà Phú

 

Có anh này, kêu bằng anh Tài. Anh Tài chạy taxi hãng. Quê anh Tài ở tuốt miệt Hậu Giang xa xôi. Anh Tài trước làm ruộng, có vợ có con đường hoàng nhưng mà cuộc đời không suôn sẻ nên chị vợ anh chẳng may mất sớm, lúc con gái anh mới chừng ba tuổi. Anh Tài nuôi con một mình mà ở nhà nhớ vợ quá không đành nên lúc đứa nhỏ được sáu tuổi anh Tài đưa con lên thành phố, theo bạn bè học lái xe rồi chạy taxi từ đó tới giờ.

Hai cha con anh Tài ở một phòng trọ nhỏ, trong dãy nhà trọ gần Quốc lộ 50, Bình Chánh. Anh Tài vui vẻ dễ thương, chạy xe khách nào cũng mến, ai cũng cho thêm tiền, có người đi chợ về còn cho mớ rau, miếng thịt, có người dư áo dư quần đều để dành cho anh, nên anh sống cũng khoẻ. Con gái anh Tài, ta gọi bằng con Gái, nó cũng đi học nay tới lớp 6 rồi, tự chạy xe đạp đi học, tự cơm nước chợ búa được luôn, cha con nương nhau mà sống, nhà trọ nhỏ mà mỗi ngày đều cơm nóng canh ngọt, đầy ắp tiếng cười.

Có người thấy anh Tài gà trống nuôi con bèn mai mối người này người kia đặng giúp anh Tài đi bước nữa mà anh đều cười từ chối, anh nói anh nói bị hồi xưa coi cái tuồng Phạm Công – Cúc Hoa quá sợ cảnh mẹ ghẻ con chồng nên anh không dám lấy thêm vợ, anh cười hề hề, hai cha con vui rồi, cần gì nữa.

Blog Cuộc Sống - Hãy yêu thương nhau khi còn có thể, bởi... | Facebook

Tháng Bảy là Sài Gòn bùng dịch. Đúng ngày 9 Tháng Bảy anh chạy cuốc xe cuối cùng, chở một cô gái từ ngoài Bắc vô thăm em. Đó là cuốc xe anh nhớ rõ vì lúc đó là gần nửa đêm, anh đón cô gái về Bình Chánh. Anh nói với người khách, tiện quá tôi chạy cuốc này về cất xe nghỉ luôn. Đó là một cô gái không đẹp không xấu, mà lúc nửa đêm thì có biết xấu đẹp gì, cô cao ráo, mang một cái túi hai quai căng tròn, loại túi dân thể thao hay xách, cô tầm ba mươi và có giọng nói như hát. Cô gái đó vô ở cái nhà ngay đầu hẻm, mà tình cờ, cuối hẻm là nhà trọ nơi anh ở luôn.

Cô gái đó không có đi thăm em như cô nói, cô vào làm giúp việc cho căn nhà đó, họ vừa có người mới sanh nên cần người phụ việc, họ cũng người ngoài Bắc nên gọi về quê tìm đồng hương vào làm cho tiện. Sau này ra vô gặp nhau rồi nói chuyện mới biết, cô có một con trai nhỏ, mới 5 tuổi, hiện đang gửi bà ngoại ở quê, vợ chồng cô đã ly dị, chồng cô lấy vợ mới ở mãi trên Cao Bằng, anh Tài nghe gật gật chớ có biết Cao Bằng ở đâu. Cô gái, ta tạm gọi là cô Xoan, có mái tóc đẹp, có giọng nói nhẹ nhàng và làm việc luôn tay. Hai người, anh Tài và cô Xoan lưu số, tối về nhắn tin qua lại.

Tới đây chắc mọi người đoán ra rồi ha, mà thiệt ra không có gì để đoán đâu, đơn giản thôi. Cô Xoan dương tính đầu tiên, cô được xe cấp cứu đưa đi, rồi sau đó mọi người trong căn nhà cô ở cũng lần lượt đưa đi cách ly chữa trị hết. Anh Tài vẫn nhắn tin cho cô miết, cũng nghe người ta dặn cô nhớ tập thở, phơi nắng, lạc quan lên… Anh Tài ở nhà khó chịu quá, khi hãng taxi kêu gọi tài xế đăng ký chạy trong dịch, anh Tài đăng ký liền. Cuốc xe đầu tiên ngày quay lại chạy, anh Tài đón cô Xoan từ bệnh viện về.

Cô Xoan về nhà vẫn mệt hung, nhà không có ai chỉ còn một ông chú già, không hiểu vì lý do gì, vẫn chưa nhiễm bệnh. Lúc này mọi người ở khu nhà trọ anh Tài đều bỏ về quê, ở Sài Gòn nguy hiểm mà còn bị phong tỏa thiếu ăn khổ quá. Anh Tài tính đưa con Gái về mà nó không chịu nên thôi hai cha con ở lại cầm cự tiếp. Rồi tới lượt anh Tài, sáng ra đi xét nghiệm trước khi lấy xe là dính luôn, có xe chở thẳng vô viện. Anh Tài chỉ kịp nhắn cho bé Gái ở nhà ngoan chờ ba, hai tuần ba về thôi. Rồi anh nhắn cô Xoan coi có qua lại để ý con bé giùm anh.

Hãy trân trọng những người bạn yêu thương khi bạn còn có thể - Học Trường  Đời

Anh Tài không về nhà như cái hẹn hai tuần ban đầu, anh bị nặng hung, một phần do mấy ngày liền chạy xe ngày mười mấy tiếng, ăn uống không đủ, nên cơ thể anh kiệt sức, một phần vì anh lại mắc thêm một chứng bệnh nguy hiểm: Tiểu đường. Cái hẹn hai tuần thành kéo dài hết tuần này qua tuần khác. Cô Xoan qua ở hẳn nhà anh Tài, chăm sóc cho con Gái, sợ nó buồn quá, mà nó buồn thiệt, nó bỏ ăn bỏ uống, đeo cái khẩu tranh xanh ra ngồi ở cửa hóng ba Tài nó về.

Các y bác sĩ chật vật dữ lắm để cứu anh Tài, lúc anh chỉ còn thoi thóp như một cái xác khô, có một nhân viên y tế ngày nào cũng đến với một hộp sữa bắt anh uống và xạc pin điện thoại giúp anh để nhắn tin. Rồi sau anh nhắn tin hết nổi, bệnh viện thu điện thoại để bên ngoài phòng. Cô nhân viên y tế vẫn đưa lon sữa cho anh, anh nói cô làm ơn cho tui nhắn tin cho con Gái, nó mà không còn thấy tin nhắn tui là nó buồn lắm. Cô nhân viên y tế nhân hậu nói, thôi anh nói nội dung đi, rồi tui nhắn tin giùm anh.

Vậy là cô nhân viên y tế trong một bệnh viện dã chiến kiêm luôn người nhắn tin giùm, tất nhiên cô chỉ nhắn vào giờ nghỉ, nhắn tin qua lại với con bé Gái, trong loạt tin nhắn cô nhận được, ngoài con gái anh Tài, thì còn có cô Xoan.

Cô Xoan được gia đình cô đang ở thu xếp một vé máy bay hồi hương, trước khi về cô cũng kịp đăng ký đưa được bé Gái về Hậu Giang bằng xe hồi hương của Phương Trang. Cô Xoan nhắn anh Tài mau khoẻ để về với bé Gái, nó chờ anh miết.

Ngày người ta chuyển anh Tài qua khu thở máy thì anh hôn mê rồi, lành ít dữ nhiều, cô nhân viên y tế vẫn xạc cái điện thoại của anh Tài, cô vẫn nhắn tin động viên bé Gái, và khi thấy quá nhiều tin của cô Xoan chưa được hồi đáp, cô nhân viên y tế bèn đánh liều trả lời loạt tin nhắn của cô Xoan, chủ yếu để cô Xoan đừng nhắn nữa. “Nếu còn sống anh tìm em”.

Vậy mà không biết nhờ con bé Gái cầu nguyện, hay nhờ cô nhân viên y tế hết lòng, anh Tài sống lại một cách kỳ diệu. Anh Tài xuất viện sau 70 ngày cầm cự, hai tuần thành 10 tuần, tới ngày ra viện anh cũng không biết tên tuổi và gương mặt cô nhân viên y tế đã giúp mình. Sau này đọc lại loạt tin nhắn cũ, thấy cái tin “nếu còn sống anh tìm em”, anh Tài đi tìm cô Xoan thiệt. Mùng Hai Tết vừa rồi, anh Tài và con bé Gái xuất hiện trước cửa nhà cô Xoan, ở Thanh Hoá, nghe nói hai người định sẽ làm đám cưới cuối năm nay, ở Sài Gòn.

Tài nói với tôi trong lúc chở tôi đi nhậu, xóm em chết bảy, mà hết ba người là tài xế như em. Lúc sắp chết em sợ lắm, giờ em thấy thương ai được thì thương đi, sống chết mong manh lắm anh Hai. Tài cười lớn, có vụ này vui nè anh, em tìm được chị bác sĩ nhắn tin giùm em rồi anh Hai, người gì mà tốt như thần tiên luôn vậy đó, đám cưới tụi em là bả làm chủ hôn luôn nha anh Hai.

 

Đàm Hà Phú

 

Nam Mai sưu tầm

 

Hãy trân trọng những người thân yêu đi vì không biết lúc nào chúng ta sẽ  mất họ đâu…

 

Xem thêm...

Phượng vĩ – loài hoa gắn liền với kỷ niệm thời học sinh

Phượng vĩ 

loài hoa gắn liền với kỷ niệm thời học sinh

▂ ▃ ▅ ▆ █☆★█ ▆ ▅ ▃ ▂

 

 Ý nghĩa hoa phượng (hoa phượng vỹ)

Khi những cành hoa phượng nở lác đác vài bông hoa là lúc mùa hè gõ cửa. Đến lúc mùa hoa phượng nở rộ là mùa thi đến, năm học cũ khép lại và mở ra kỳ nghỉ hè với nhiều kỷ niệm. Hoa phương gắn liền với kỷ niệm buồn vui tuổi học trò, hình ảnh nhánh hoa phượng gắn vào giỏ xe, hoa phượng cài tóc hoặc ép vào vở... là những hình ảnh thanh xuân đẹp đẽ nhất của đời học sinh.

Đặc điểm cây phượng vĩ

Cây phượng vĩ còn được gọi với nhiều tên khác là phượng hồng, xoan tây, cây kim hoàng hoặc cây điệp tây.

Nguồn gốc của cây phượng từ những nước có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới. Cây phượng đầu tiên được tìm thấy ở miền tây Madagascar. Sau đó, cây phượng được nhân giống và trồng ở nhiều quốc gia, Việt Nam là một trong những vùng đất có khí hậu và thổ nhưỡng phù hợp cho sự phát triển và sinh trưởng của cây phượng.

Cây phượng vĩ là loại cây thân gỗ, có tuổi thọ lâu năm. Mỗi cây có chiều cao trung bình tầm 20-25m. Thân cây hoa phượng được phân thành nhiều nhánh.

Cây phượng vĩ nở rộ thật đẹp đẽ

Cây phượng vĩ nở rộ thật đẹp đẽ

Lá của cây phượng vĩ là loại lá kép long chim, tương tự như lá me. Lá có chiều dài tầm 40-45cm. So với các loại lá khác thì lá cây phượng mọc rậm rạp trải khắp cây nên cây phượng cho bóng mát rộng.

Hoa của cây phượng có nhiều loại, bao gồm hoa phượng đỏ, hoa phượng tím, cây hoa phượng vàng... Tuy nhiên, hoa phượng vĩ đỏ là phổ biến nhất. Cây phượng tím chỉ được trồng thử nghiệm ở Đà Lạt. Hoa phượng có cánh to và đẹp, mọc thành từng chùm tập trung ở ngọn. Nếu bạn băn khoăn hoa phượng có mấy cánh thì câu trả lời là có có 5 cánh, gồm 4 cánh hoa tỏa rộng màu đỏ bên ngoài và 1 cánh mọc thẳng bên trong. Cánh hoa bên trong có kích thước lớn hơn 4 cánh bên ngoài và có màu lốm đốm trắng hoặc vàng.

Không chỉ đẹp mà hoa phượng còn có mùi thơm nhẹ, mỗi mùa hoa phượng nở cả không gian thoang thoảng mùi thơm làm tâm hồn thêm dịu nhẹ.

Rễ của cây phượng thuộc loại rễ chùm cắm sâu xuống lòng đất, tiếp với mạch nước nguồn nên hoa phượng sinh trưởng tốt, có thể chịu được khô hạn. Ở những vùng nắng gắt và vùng đất ngập mặn cây phượng vẫn có thể sinh trưởng và phát triển tốt.

Hoa phượng nở thành chùm thật đẹp

Hoa phượng nở thành chùm thật đẹp

Cây hoa phượng là loại cây có quả, hình dáng quả phượng như quả đậu dài tới 60cm, bản rộng tầm 5cm. Bên trong mỗi quả phượng có các hạt nhỏ tròn bằng hạt đậu đỗ, người ta dùng hạt của trái phượng để ươm giống cây con.

Hoa phượng tượng trưng cho tuổi học trò

Hoa phượng bắt đầu nở từ tháng 4 và đến tháng 6 là nở rộ. Đây là thời khắc nghỉ hè của học sinh, với những học sinh năm cuối cấp thì hình ảnh cây phượng gắn liền với nỗi buồn khi chia tay bạn bè, thầy cô để bước tiếp chặng đường phía trước. Đây cũng chính là lý do hình ảnh cây phượng, lá phượng và hoa phượng được ép vào những cuốn nhật kí với những lời chia tay đẫm nước mắt.

Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng

Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng

Hoa phượng là biểu tượng của tình yêu học trò thơ ngây và e ấp. Tình yêu thuở ấy dù chỉ đơn giản là ánh mắt đượm tình, cái nắm tay, nụ hôn má vụng dại cũng đủ làm người ta khắc lên một nỗi nhớ dài đăng đẵng suốt đời người. Và khi có dịp trở lại mái trường, ngồi lại hàng ghế đá năm xưa dưới bóng cây phượng đỏ, ngắm nhìn hoa phượng rơi ta lại nhớ tình yêu thơ ngây đó một cách da diết.

Hình ảnh cây hoa phượng còn gắn liền với tình bạn đẹp đẽ. Dưới tán cây phượng đó là cả một khung trời kỷ niệm, những buồn vui thời cắp sách tới trường, những kỳ thi kéo dài, những tiếng cười rộn vang làm xốn xao con tim. Chắc hẳn ai trong mỗi chúng ta, ký ức thanh xuân gắn liền với hình ảnh của cây phượng, hoa phượng thời học trò là ký ức đẹp đẽ nhất.

Ghim trên 1. Ao Dai

Công dụng cây hoa phượng

Không chỉ đẹp mà cây hoa phượng vĩ còn mang đến nhiều công dụng trong cuộc sống. Trong dân gian, người ta thường dùng rễ và vỏ thân cây phượng để bào chế nên thuốc hạ nhiệt, trị sốt vô cùng hiệu quả.  Đặc biệt, đặc biệt vỏ cây phượng phơi khô và sắc lấy nước uống dùng để điều trị các bệnh như sốt rét, tê thấp, đầy bụng. Với những người có chứng tăng huyết áp thì uống nước sắc vỏ cây phượng sẽ giảm huyết áp hiệu quả.

Cây hoa phượng mang nhiều công dụng trong cuộc sống

Cây hoa phượng mang nhiều công dụng trong cuộc sống

Không những thế, tinh dầu trong vỏ và hoa phượng được dùng để xoa bóp để làm giảm căng thẳng cơ bắp. Tinh dầu hoa phượng còn làm thư giãn tinh thần, xua tan đi những mệt mỏi và căng thẳng của ngày dài.

Hình ảnh đẹp đẽ và rực rỡ của hoa phượng

hình ảnh hoa phượng

Hoa phượng nở đỏ rực vào mùa hè

Dưới tán cây hoa phượng là cả một khung trời kỉ niệm

Dưới tán cây hoa phượng là cả một khung trời kỉ niệm

Hình ảnh hoa phượng gắn với thời thanh xuân đẹp đẽ

Hình ảnh hoa phượng gắn với thời thanh xuân đẹp đẽ

Hoa phượng nở rộ khoe sắc cả khung trời

Hoa phượng nở rộ khoe sắc cả khung trời

Con đường rộp bóng hoa phượng nở

Con đường rợp bóng hoa phượng nở

Ngoài phượng đỏ còn có phượng tím

Ngoài phượng đỏ còn có phượng tím

Phượng tím làm xao xuyến lòng ai

Phượng tím làm xao xuyến lòng ai

Hy vọng bài viết trên đây của chúng tôi về hoa phượng đã giúp các bạn xuôi về miền kí ức gọi hè, gọi những giấc mơ, những kí ức đẹp đẽ thời học sinh năm ấy trở về. 

 ********

Phượng vĩ – Mùa hoa kỷ niệm

 

 Nói lời phượng xa - Cà Phê Thứ Bảy

      Không biết đã bao nhiêu mùa hoa phượng như thế và cũng không biết bao nhiêu lứa học trò đã mãi chia xa. Cánh phượng hồng bất chợt rơi, khẽ chạm vào nụ cười của những cô cậu học trò cuối cấp, họ nhìn theo, một thoáng ngơ ngác, bâng khuâng và nuối tiếc, một cái sợ đến vô hồn…
Hè về, phượng nở đỏ thắm các con đường, góc phố, sáng rực một góc trời. Cái khoảng xanh lục của lá non và màu xanh biếc của bầu trời lại được điểm xuyết thêm màu hoa phượng đỏ.

Những ngày này, Hà Nội như trẻ trung hơn bởi sắc màu của “hoa đường phố” báo hiệu hè đã về - đó là mùa hè của Hà Nội cổ kính. Hoa phượng không phải là “đặc quyền” của riêng thành phố Hải Phòng, nó còn là vẻ đẹp của Hà Nội và những miền quê khác.

Những chùm phượng và tiếng ve kêu râm ran, cả cánh hoa ép trong cuốn sổ lưu bút có dần trở thành cổ tích? Hoa phượng gắn với sự lưu luyến chia tay và những ngày nghỉ hè cũng đang đến. Cùng với sắc đỏ mênh mang ấy là biết bao dự cảm thật nhẹ nhàng, êm dịu.


 Cô học trò nhỏ sớm nay chợt giật mình: “Phượng nở rồi sao?”, phượng nở nghĩa là hạ sang, đó là cái chân lý giản đơn của tuổi học trò đầy mơ mộng. Hoa phượng trở thành biểu tượng của nỗi niềm lưu luyến, mang sắc màu của những buổi hoàng hôn đỏ thắm như tia lửa của tình yêu thương. Mà không yêu thương sao được khi nó báo hiệu cho người ta biết rằng “sắp phải xa nhau”.

Có ai hiểu tại sao phượng nở là chia tay, sao tuổi học trò lại yêu hoa phượng? Hình bóng thầy cô, bạn bè cứ trải dài theo những trang sách nhỏ, bên tấm bảng đen, và trên cả những buổi sớm mai như thế với màu hoa đỏ lốm đốm in trên bầu trời, trong khoảng sân trường vắng lặng ươm đầy hoa nắng.

Không biết đã bao nhiêu mùa hoa như thế và cũng không biết bao nhiêu lứa học trò đã mãi chia xa. Cánh phượng hồng bất chợt rơi, khẽ chạm vào nụ cười của những cô cậu học trò cuối cấp, họ nhìn theo, một thoáng ngơ ngác, bâng khuâng và nuối tiếc, một cái sợ đến vô hồn…
 

 
Nhờ những cánh hoa đỏ thắm ấy, con người mới biết rằng họ còn rất ít thời gian bên nhau, bên thầy cô, bạn bè, và bên mái trường yêu dấu, để họ có thể dành chút thời giờ nhỏ nhoi ấy trao cho nhau cái siết tay ân cần, chia sẻ cho nhau niềm tin, ước mơ... và đôi khi, chỉ đơn giản là một nụ cười thân ái, chan chứa yêu thương.

Phượng cũng giống như học trò, cũng không muốn chia tay, cũng không muốn ở lại một mình giữa sân trường vắng lặng, phượng cũng cô đơn lắm! Khi  những chiếc cặp sách đã lần lượt ra về, hoa phượng ở lại, nhìn theo, dường như cũng có chút buồn, chút nhớ.
 
Vui Buồn Nghe Khúc Nhạc Hè - Tâm Minh Ngô Tằng Giao 
 
Phượng tự hỏi lòng rằng tại sao mình lại mang đến cái buồn nhẹ nhàng mà dai dẳng cho những tâm hồn trong sáng và hồn nhiên đến thế? Bởi hoa phượng không chỉ đẹp, hoa phượng còn là tuổi thơ, là kỷ niệm, là những ngày tháng không phai dưới mái trường của tuổi học trò.

Liệu có ai hiểu được phượng chăng? Cô bé học trò mỗi sáng đến bên gốc phượng già, nhặt từng cánh phượng rơi để xếp thành những cánh bướm mà vào cái ngày xa xưa cô vẫn cùng đứa bạn thân làm như vậy.

Cô cũng không thích mùa hạ, bởi hạ đến, cô phải rời xa người bạn thân ấy, mất đi những ngày tháng xa xưa tươi đẹp ở ngôi trường cũ, và mùa hoa phượng này, hạ lại lấy đi của cô một người cũng rất quan trọng…, mà biết đâu cả thời gian dài sau này, cô sẽ không còn có thể gặp lại.
 
 Hoa phượng và tuổi học trò | Vuong Nguyen Euro | Flickr

Mùa hạ thường đến bằng mùa thi, cùng với những nhánh phượng vỹ đỏ ối lấp ló báo hiệu ngày chia tay. Cùng với màu đỏ rực ấy là những hàng lưu bút và món quà lưu niệm tặng nhau của những cô cậu học trò.

Phượng vỹ là nhân chứng cho những tình yêu lãng mạn, mơ mộng, vu vơ của thời áo trắng, và còn nhiều nữa…Có phải vì thế mà phượng vỹ còn có cái tên Hoa Học Trò ?

Phượng vỹ nở rất lâu, mùa phượng thường kéo dài từ tháng năm đầu mùa hạ, cho đến tháng chín cuối mùa, chống chọi với những cơn bão vùng nhiệt đới, phượng vỹ chứng minh sự kiên cường của mình. Sự bền bỉ của cây phượng đã qua bao năm tháng, dù trụi cành giữa mùa đông nhưng xanh tươi trong những tháng ngày còn lại, tán lá xanh um mở rộng như chiếc dù che nắng, che mưa.

 Mùa hoa phượng nở | baoninhbinh.org.vn
 

Mỗi mùa phượng vỹ nở rộ là mỗi lần nao nao, thổn thức nhớ về một mùa phượng của riêng mình. Cũng có lẽ vì vẻ đẹp của phượng vỹ mà biết bao nhà văn, nhà thơ, hoa sĩ và nhạc sĩ đã viết nên những mẩu truyện, bài thơ, hoạ bao bức tranh, và nhất là phối âm những bản nhạc riêng cho phượng vỹ.

Biết bao người ra về mà về sau lưng còn lại những vần thơ hòa lẫn trong bóng nắng:
 
“Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng

Em chở mùa hè của tôi đi đâu?

Chùm phượng vĩ em cầm là tuổi tôi mười tám

Tuổi chẳng ai hay thầm lặng mối tình đầu
 
 
Hoàn cảnh sáng tác ca khúc “Nỗi Buồn Hoa Phượng” (Thanh Sơn) – Người xưa biết đâu mà tìm…

Bạn đang copy trái phép bài viết đã được bảo hộ bản quyền. Nếu bạn copy bài với mục đích cá nhân (phi lợi nhuận), vui lòng ghi rõ nguồn nhacvangbolero.com. Nếu copy sang website khác với mục đích MMO, bạn có thể bị report bản quyền

 

 

 

Hoàn cảnh sáng tác ca khúc “Nỗi Buồn Hoa Phượng” (Thanh Sơn) – Người xưa biết đâu mà tìm…

Bạn đang copy trái phép bài viết đã được bảo hộ bản quyền. Nếu bạn copy bài với mục đích cá nhân (phi lợi nhuận), vui lòng ghi rõ nguồn nhacvangbolero.com. Nếu copy sang website khác với mục đích MMO, bạn có thể bị report bản quyền

Hoàn cảnh sáng tác ca khúc “Nỗi Buồn Hoa Phượng” (Thanh Sơn) – Người xưa biết đâu mà tìm…

Bạn đang copy trái phép bài viết đã được bảo hộ bản quyền. Nếu bạn copy bài với mục đích cá nhân (phi lợi nhuận), vui lòng ghi rõ nguồn nhacvangbolero.com. Nếu copy sang website khác với mục đích MMO, bạn có thể bị report bản quyền

NỖI BUỒN HOA PHƯỢNG - Nhạc & lời: Thanh Sơn

Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn,
chín mươi ngày qua chứa chan tình thương,
ngày mai xa cách hai đứa hai nơi
phút gần gũi nhau mất rồi,
tạ từ là hết người ơi.

Tiếng ve nức nở buồn hơn tiếng lòng,
biết ai còn nhớ đến ân tình không,
đường xưa in bóng hai đứa nay đâu,
những chiều hẹn nhau lúc đầu,
giờ như nước trôi qua cầu.

Giã biệt bạn lòng ơi,
thôi nay xa cách rồi,
kỷ niệm mình xin nhớ mãi.
buồn riêng một mình ai,
chờ mong từng đêm gối chiếc,
mối u hoài này anh có hay?

Nếu ai đã từng nhặt hoa thấy buồn,
cảm thông được nỗi vắng xa người thương,
màu hoa phượng thắm như máu con tim,
mỗi lần hè sang kỷ niệm,
người xưa biết đâu mà tìm.

************

 

Giai thoại tình khúc “Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn…”

(Cao Vũ Huy Miên)

 Vợ chồng nhạc sĩ Thanh Sơn hồi trẻ

Vợ chồng nhạc sĩ Thanh Sơn hồi trẻ

Nhạc sĩ Thanh Sơn được công chúng yêu nhạc vàng xem là nhạc sĩ của ca khúc viết về tuổi học trò. Từ ca khúc đầu tay của ông là Tình Học Sinh, rồi đến Lưu Bút Ngày Xanh rất ăn khách, đều là những ca khúc hồi tưởng về một thời học sinh hoa mộng với những buổi tan trường chung lối, những dòng lưu bút nhiều lưu luyến. Thời gian sau đó, nhạc sĩ Thanh Sơn viết thêm 1 số ca khúc khác về tình yêu tuổi học trò, đều rất phổ biến là Hạ Buồn, Ba Tháng Tạ Từ, Thương Ca Mùa Hạ, nhưng đỉnh cao nhất và nổi tiếng nhất vẫn là Nỗi Buồn Hoa Phượng.

Bạn đang copy trái phép bài viết đã được bảo hộ bản quyền. Nếu bạn copy bài với mục đích cá nhân (phi lợi nhuận), vui lòng ghi rõ nguồn nhacvangbolero.com. Nếu copy sang website khác với mục đích MMO, bạn có thể bị report bản quyền
Nhạc sĩ Thanh Sơn được công chúng yêu nhạc vàng xem là nhạc sĩ của ca khúc viết về tuổi học trò. Từ ca khúc đầu tay của ông là Tình Học Sinh, rồi đến Lưu Bút Ngày Xanh rất ăn khách, đều là những ca khúc hồi tưởng về một thời học sinh hoa mộng với những buổi tan trường chung lối, những dòng lưu bút nhiều lưu luyến. Thời gian sau đó, nhạc sĩ Thanh Sơn viết thêm 1 số ca khúc khác về tình yêu tuổi học trò, đều rất phổ biến là Hạ Buồn, Ba Tháng Tạ Từ, Thương Ca Mùa Hạ, nhưng đỉnh cao nhất và nổi tiếng nhất vẫn là Nỗi Buồn Hoa Phượng.

Bạn đang copy trái phép bài viết đã được bảo hộ bản quyền. Nếu bạn copy bài với mục đích cá nhân (phi lợi nhuận), vui lòng ghi rõ nguồn nhacvangbolero.com. Nếu copy sang website khác với mục đích MMO, bạn có thể bị report bản quyền
Nhạc sĩ Thanh Sơn được công chúng yêu nhạc vàng xem là nhạc sĩ của ca khúc viết về tuổi học trò. Từ ca khúc đầu tay của ông là Tình Học Sinh, rồi đến Lưu Bút Ngày Xanh rất ăn khách, đều là những ca khúc hồi tưởng về một thời học sinh hoa mộng với những buổi tan trường chung lối, những dòng lưu bút nhiều lưu luyến. Thời gian sau đó, nhạc sĩ Thanh Sơn viết thêm 1 số ca khúc khác về tình yêu tuổi học trò, đều rất phổ biến là Hạ Buồn, Ba Tháng Tạ Từ, Thương Ca Mùa Hạ, nhưng đỉnh cao nhất và nổi tiếng nhất vẫn là Nỗi Buồn Hoa Phượng. Ca khúc này được sáng tác vào năm 1963, khi nhạc sĩ Thanh Sơn đã 25 tuổi, để hồi tưởng lại mối tình đầu nhiều day dứt thời học sinh. Quay ngược thời gian trở về năm 1951, khi đó Thanh Sơn còn là một cậu bé 13 tuổi tên thật là Lê Văn Thiện, theo học trường trung học Hoàng Diệu ở quê nhà Sóc Trăng. Cùng lớp có cô bạn học mang tên rất đặc biệt là Nguyễn Thị Hoa Phượng, là con của một gia đình công chức từ Sài Gòn về làm việc ở Sóc Trăng. Thanh Sơn học chung với cô Hoa Phượng được 2 năm, họ phát sinh tình cảm học trò ngày càng thắm thiết. Nhưng đến mùa hè năm 1953, Hoa Phượng chia tay trường lớp, rời Sóc Trăng để theo gia đình về lại Sài Gòn vì cha của cô được điều chuyển công tác. Họ đã đến từ biệt nhau trên sân trường ngập màu phượng đỏ, lặng buồn nhìn nhau không nói nên lời. Thanh Sơn tỏ ý hỏi rằng chia tay rồi không biết làm sao có thể gặp lại được, cô Hoa Phượng đáp lại: “Mỗi năm đến mùa hoa phượng nở, anh nhìn hoa phượng anh sẽ nhớ tới em! Bởi tên em là Hoa Phượng mà” Đó là lần cuối cùng họ gặp nhau.

Bạn đang copy trái phép bài viết đã được bảo hộ bản quyền. Nếu bạn copy bài với mục đích cá nhân (phi lợi nhuận), vui lòng ghi rõ nguồn nhacvangbolero.com. Nếu copy sang website khác với mục đích MMO, bạn có thể bị report bả
Nhạc sĩ Thanh Sơn được công chúng yêu nhạc vàng xem là nhạc sĩ của ca khúc viết về tuổi học trò. Từ ca khúc đầu tay của ông là Tình Học Sinh, rồi đến Lưu Bút Ngày Xanh rất ăn khách, đều là những ca khúc hồi tưởng về một thời học sinh hoa mộng với những buổi tan trường chung lối, những dòng lưu bút nhiều lưu luyến. Thời gian sau đó, nhạc sĩ Thanh Sơn viết thêm 1 số ca khúc khác về tình yêu tuổi học trò, đều rất phổ biến là Hạ Buồn, Ba Tháng Tạ Từ, Thương Ca Mùa Hạ, nhưng đỉnh cao nhất và nổi tiếng nhất vẫn là Nỗi Buồn Hoa Phượng.

Bạn đang copy trái phép bài viết đã được bảo hộ bản quyền. Nếu bạn copy bài với mục đích cá nhân (phi lợi nhuận), vui lòng ghi rõ nguồn nhacvangbolero.com. Nếu copy sang website khác với mục đích MMO, bạn có thể bị report bản quyềnvv
Nhạc sĩ Thanh Sơn được công chúng yêu nhạc vàng xem là nhạc sĩ của ca khúc viết về tuổi học trò. Từ ca khúc đầu tay của ông là Tình Học Sinh, rồi đến Lưu Bút Ngày Xanh rất ăn khách, đều là những ca khúc hồi tưởng về một thời học sinh hoa mộng với những buổi tan trường chung lối, những dòng lưu bút nhiều lưu luyến. Thời gian sau đó, nhạc sĩ Thanh Sơn viết thêm 1 số ca khúc khác về tình yêu tuổi học trò, đều rất phổ biến là Hạ Buồn, Ba Tháng Tạ Từ, Thương Ca Mùa Hạ, nhưng đỉnh cao nhất và nổi tiếng nhất vẫn là Nỗi Buồn Hoa Phượng. Ca khúc này được sáng tác vào năm 1963, khi nhạc sĩ Thanh Sơn đã 25 tuổi, để hồi tưởng lại mối tình đầu nhiều day dứt thời học sinh. Quay ngược thời gian trở về năm 1951, khi đó Thanh Sơn còn là một cậu bé 13 tuổi tên thật là Lê Văn Thiện, theo học trường trung học Hoàng Diệu ở quê nhà Sóc Trăng. Cùng lớp có cô bạn học mang tên rất đặc biệt là Nguyễn Thị Hoa Phượng, là con của một gia đình công chức từ Sài Gòn về làm việc ở Sóc Trăng. Thanh Sơn học chung với cô Hoa Phượng được 2 năm, họ phát sinh tình cảm học trò ngày càng thắm thiết. Nhưng đến mùa hè năm 1953, Hoa Phượng chia tay trường lớp, rời Sóc Trăng để theo gia đình về lại Sài Gòn vì cha của cô được điều chuyển công tác. Họ đã đến từ biệt nhau trên sân trường ngập màu phượng đỏ, lặng buồn nhìn nhau không nói nên lời. Thanh Sơn tỏ ý hỏi rằng chia tay rồi không biết làm sao có thể gặp lại được, cô Hoa Phượng đáp lại: “Mỗi năm đến mùa hoa phượng nở, anh nhìn hoa phượng anh sẽ nhớ tới em! Bởi tên em là Hoa Phượng mà” Đó là lần cuối cùng họ gặp nhau.

Bạn đang copy trái phép bài viết đã được bảo hộ bản quyền. Nếu bạn copy bài với mục đích cá nhân (phi lợi nhuận), vui lòng ghi rõ nguồn nhacvangbolero.com. Nếu copy sang website khác với mục đích MMO, bạn có thể bị report bản quyền
Nhạc sĩ Thanh Sơn được công chúng yêu nhạc vàng xem là nhạc sĩ của ca khúc viết về tuổi học trò. Từ ca khúc đầu tay của ông là Tình Học Sinh, rồi đến Lưu Bút Ngày Xanh rất ăn khách, đều là những ca khúc hồi tưởng về một thời học sinh hoa mộng với những buổi tan trường chung lối, những dòng lưu bút nhiều lưu luyến. Thời gian sau đó, nhạc sĩ Thanh Sơn viết thêm 1 số ca khúc khác về tình yêu tuổi học trò, đều rất phổ biến là Hạ Buồn, Ba Tháng Tạ Từ, Thương Ca Mùa Hạ, nhưng đỉnh cao nhất và nổi tiếng nhất vẫn là Nỗi Buồn Hoa Phượng. Ca khúc này được sáng tác vào năm 1963, khi nhạc sĩ Thanh Sơn đã 25 tuổi, để hồi tưởng lại mối tình đầu nhiều day dứt thời học sinh. Quay ngược thời gian trở về năm 1951, khi đó Thanh Sơn còn là một cậu bé 13 tuổi tên thật là Lê Văn Thiện, theo học trường trung học Hoàng Diệu ở quê nhà Sóc Trăng. Cùng lớp có cô bạn học mang tên rất đặc biệt là Nguyễn Thị Hoa Phượng, là con của một gia đình công chức từ Sài Gòn về làm việc ở Sóc Trăng. Thanh Sơn học chung với cô Hoa Phượng được 2 năm, họ phát sinh tình cảm học trò ngày càng thắm thiết. Nhưng đến mùa hè năm 1953, Hoa Phượng chia tay trường lớp, rời Sóc Trăng để theo gia đình về lại Sài Gòn vì cha của cô được điều chuyển công tác. Họ đã đến từ biệt nhau trên sân trường ngập màu phượng đỏ, lặng buồn nhìn nhau không nói nên lời. Thanh Sơn tỏ ý hỏi rằng chia tay rồi không biết làm sao có thể gặp lại được, cô Hoa Phượng đáp lại: “Mỗi năm đến mùa hoa phượng nở, anh nhìn hoa phượng anh sẽ nhớ tới em! Bởi tên em là Hoa Phượng mà” Đó là lần cuối cùng họ gặp nhau. Mối tình đầu mang nhiều day dứt đó được nhạc sĩ Thanh Sơn đưa vào ca khúc đầu tay là Tình Học Sinh năm 1960, khi ông bắt đầu sự nghiệp sáng tác nhạc. Tiếp sau đó nhạc sĩ Thanh Sơn bắt đầu tạo được danh tiếng với ca khúc Lưu Bút Ngày Xanh, là bài hát bày tỏ nỗi lòng xao xuyến mỗi khi nhìn cánh phượng rơi. Tròn 10 năm sau ngày chia tay cô gái mang tên Hoa Phượng, vào mùa hè năm 1963, một lần tình cờ nhìn thấy hoa phượng nở đỏ rực, chàng nhạc sĩ nhớ lại người xưa và viết ca khúc Nỗi Buồn Hoa Phượng. Ông tâm sự như sau: “Tôi tìm thấy cảm xúc bởi sắc màu đỏ thắm của hoa phượng mỗi khi hè về. Bài hát này tôi viết về một cuộc tình học trò rất đẹp. Lời chia tay của cô bạn gái cùng trường đã khiến tôi xao xuyến, bâng khuâng. Màu hoa phượng như những giọt máu đỏ tươi minh chứng một cuộc tình chung thủy… Bài hát lập tức được chấp nhận và mọi người yêu thích, làm động lực cho tôi chuyên tâm vào sáng tác. Có thể nói đó là “thời hoàng kim” của tôi, bởi tiền tác quyền lúc đó tôi nhận khoảng 6.000 đồng mỗi tháng. Nó không chỉ giúp gia đình tôi vượt qua nghèo khó mà sau đó tôi còn mua được nhà, xe… Nói một cách nào đó, “hoa phượng” là ân nhân của gia đình tôi”. Ca khúc Nỗi Buồn Hoa Phượng ra đời cùng lúc với sự xuất hiện của một giọng ca mới tươi mát đến từ Đà Lạt, đó là ca sĩ Thanh Tuyền. Khi giọng hát cao vút của cô cất lên lời bài hát Nỗi Buồn Hoa Phượng trên đài phát thanh Sài Gòn, cả ca sĩ lẫn ca khúc từ đó đã trở thành một hiện tượng. Bài hát có giai điệu dễ nghe, lời bài hát đơn giản nhưng dễ nhận được sự đồng cảm của đông đảo khán giả đại chúng, trở thành 1 trong những bài nhạc vàng nổi tiếng nhất trong hơn nửa thế kỷ qua. Trong sự nghiệp của mình, nhạc sĩ Thanh Sơn đã sáng tác khoảng 20 ca khúc về tuổi học trò. Ông cho biết rằng lúc mới bắt đầu con đường sáng tác, ông rất hoang mang không biết nên viết về chủ đề gì. Rồi ông chợt nhớ về tuổi học trò, quãng thời gian mộng mơ, đầy kỷ niệm và luôn đau đáu bởi vì “Tôi học hành không tới nơi tới chốn nên không thôi hoài niệm, nuối tiếc về nó”. Có một điều có lẽ ít người để ý đến, đó là trong tờ nhạc xuất bản năm 1966, bài này được ký tên là Thanh Sơn – Lê Dinh. Chi tiết này chưa từng được nhạc sĩ Thanh Sơn nhắc đến, có lẽ là lúc đó nhạc sĩ Thanh Sơn có nhờ đàn anh là Lê Dinh chỉnh sửa đôi chút, và đứng tên chung trong tờ nhạc, vì lúc đó Thanh Sơn chưa phải là một nhạc sĩ tên tuổi. Cũng có ít người biết rằng vào năm 1990, nhạc sĩ Thanh Sơn đã viết thêm lời 2 cho Nỗi Buồn Hoa Phượng. Ông viết cho riêng lòng mình, tặng riêng cho cô bạn có cái tên Hoa Phượng mà ông chưa có dịp gặp lại chứ không công bố rộng rãi. Mời các bạn nghe lại Nỗi Buồn Hoa Phượng cùng giọng hát Thanh Tuyền thu âm trước năm 1975: Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn, Chín mươi ngày qua chứa chan tình thương Ngày mai xa cách hai đứa hai nơi phút gần gũi nhau mất rồi tạ từ là hết người ơi Tiếng ve nức nở buồn hơn tiếng lòng. Biết ai còn nhớ đến ân tình không Đường xưa in bóng hai đứa nay đâu Những chiều hẹn nhau lúc đầu giờ như nước trôi qua cầu. Giã biệt bạn lòng ơi! Thôi nay xa cách rồi kỷ niệm mình xin nhớ mãi. Buồn riêng một mình ai chờ mong từng đêm gối chiếc. Mối u hoài này ai có hay? Nếu ai đã từng nhặt hoa thấy buồn. Cảm thông được nỗi vắng xa người thương. Màu hoa phượng thắm như máu con tim, mỗi lần hè thêm kỷ niệm Người xưa biết đâu mà tìm Đông Kha Nguồn: nhacvangbolero.com

Bạn đang copy trái phép bài viết đã được bảo hộ bản quyền. Nếu bạn copy bài với mục đích cá nhân (phi lợi nhuận), vui lòng ghi rõ nguồn nhacvangbolero.com. Nếu copy sang website khác với mục đích MMO, bạn có thể bị report bản quyNhạc sĩ Thanh Sơn, tác giả của những ca khúc mang giai điệu buồn thương về tuổi học trò, mái trường, hoa phượng như: Lưu bút ngày xanh, Nỗi buồn hoa phượng, Thương ca mùa hạ, Nhật ký đời tôi, Mùa hoa anh đào, Hương tóc mạ non, Bài ngợi ca quê hương…

Nhạc sĩ Thanh Sơn, tác giả của những ca khúc mang giai điệu buồn thương về tuổi học trò, mái trường, hoa phượng như: Lưu bút ngày xanh, Nỗi buồn hoa phượng, Thương ca mùa hạ, Nhật ký đời tôi, Mùa hoa anh đào, Hương tóc mạ non, Bài ngợi ca quê hương…

Hầu hết ca khúc của ông đều mang âm hưởng dân ca Nam Bộ, lẫn một vài điệu thức của vọng cổ, cải lương như đã thấm đẫm trong tâm hồn ông. Nên vừa trữ tình vừa ngọt ngào, dễ hát, dễ thuộc và đặc biệt là dễ nhớ, vì trong nhạc có nhiều hình ảnh, kỷ niệm phù hợp với tâm tư, tình cảm bình thường của nhiều người. Đã có người ví, nhạc Thanh Sơn như chiếc xuồng quê đưa biết bao tâm hồn trở về với ký ức tuổi học trò, dòng sông, hàng dừa rủ bóng, cánh đồng đầy cò trắng, ngạt ngào hương mạ xanh rờn thắm đượm tình quê…

Có điều ít ai biết, trước khi trở thành nhạc sĩ, Thanh Sơn đã là ca sĩ. Số là vào năm 1959, từ quê nhà Sóc Trăng ông lên Sài Gòn giúp việc cho một gia đình. Vốn có giọng hát hay và từ lâu ôm ấp mộng làm ca sĩ. Một lần ông nghe radio và biết Đài Phát thanh Sài Gòn tổ chức tuyển lựa ca sĩ, ông ghi tên tham dự và đến ngày thi xin gia chủ cho mình nghỉ 2 giờ đồng hồ để đi thi. Sau một năm chờ đợi, ông nhận được thông báo mình đạt vị trí thủ khoa kỳ thi tuyển chọn đó. Và với kết quả này, ông đã được nhiều ban nhạc danh tiếng ở Sài Gòn lúc đó mời cộng tác. Từ đây, Thanh Sơn đã bước vào lĩnh vực ca hát của Sài Gòn hoa lệ, dần dà quen biết, gần gũi với những nhạc sĩ, ca sĩ nổi tiếng như: Hoàng Thi Thơ, Hoàng Trọng, Lê Dinh, Minh Kỳ, Lam Phương, Duy Trác, Kim Tước, Mai Hương… Và về sau này, hai nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ và Lê Dinh đã khuyến khích và giúp đỡ ông rất nhiều trong bước đầu sáng tác.

Hoàn cảnh sáng tác ca khúc "Nỗi Buồn Hoa Phượng" (Thanh Sơn) - "Mỗi lần hè  thêm kỷ niệm, người xưa biết đâu mà tìm..."

Về hoàn cảnh ra đời của bài hát Nỗi buồn hoa phượng, ông kể: năm 13 tuổi, học trường Hoàng Diệu – Sóc Trăng, tôi chung lớp và quen với một cô gái khá dễ thương, có cái tên cũng khá lạ: Nguyễn Thị Hoa Phượng, con của một gia đình công chức từ Sài Gòn, biệt phái về làm việc tại Sóc Trăng. Ông hồi tưởng: “Thời gian gần gũi hơn một năm, tình cảm bắt đầu thân thiết, bỗng hè năm sau đó, Hoa Phượng đột ngột báo cho biết là gia đình được điều chuyển về lại Sài Gòn, nên cô tìm gặp tôi để chào từ biệt. Trong lúc vừa bất ngờ vừa buồn rười rượi, tôi hỏi xin địa chỉ để sau này liên lạc. Hoa Phượng cũng chỉ buồn bã nói trong nước mắt: “Tên em là Hoa Phượng, mỗi năm đến hè nhìn hoa phượng nở thì hãy nhớ đến em…”. Từ đó, chúng tôi bặt tin nhau.

Bẵng đi thời gian khá lâu, khi đã nổi tiếng ở Sài Gòn với nghệ danh nhạc sĩ Thanh Sơn, một ngày hè năm 1963, bất chợt trông thấy những cành phượng đỏ thắm khi ngang qua một sân trường, tôi bỗng nhớ lại lời của “người xưa” lúc chia tay… Và, vào một đêm hè oi bức, lòng đầy hoài niệm, tôi đã viết: Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn, Chín mươi ngày qua chứa chan tình thương, Ngày mai xa cách hai đứa hai nơi, Phút gần gũi nhau mất rồi, Tạ từ là hết người ơi…Tiếng ve nức nở buồn hơn tiếng lòng, Biết ai còn nhớ đến ân tình không, Đường xưa in bóng hai đứa nay đâu, Những chiều hẹn nhau lúc đầu, Giờ như nước trôi qua cầu…Giã biệt bạn lòng ơi, thôi nay xa cách rồi, kỷ niệm mình xin nhớ mãi, buồn riêng một mình ai, chờ mong từng đêm gối chiếc, mối u hoài nào ai có hay. Có ai đã từng nhặt hoa thấy buồn,Cảm thông được nỗi vắng xa người thương, màu hoa phượng thắm như máu con tim, mỗi lần hè thêm kỷ niệm, người xưa biết đâu mà tìm…”. Bài hát sau đó được thu với giọng hát của ca sĩ Thanh Tuyền và rất được nhiều người, nhất là lứa tuổi học trò yêu thích.

Tiểu sử nhạc sĩ Thanh Sơn - Chợ Nhạc

Như đã nói, nhạc Thanh Sơn với giai điệu ngọt ngào, dễ thuộc, dễ hát nên đã có người vui tính đặt lời hát nhại theo một cách hài hước, như bài Mùa hoa anh đào: Mùa xuân sang có hoa anh đào, Mùa hè sang có hoa đào anh, Mùa thu sang có hoa anh đào, Mùa đông sang cũng có hoa anh đào, Vậy cả năm có… hoa anh đào! Ngay cả bài Nỗi buồn hoa phượng cũng “bị” nhại: Mỗi năm đến hè… thì tôi… nghỉ hè…! Một cách mà như kiểu nói Miền Nam là “Trớt hơ”! Những điều này càng cho thấy tính phổ biến ở nhiều sáng tác của nhạc sĩ Thanh Sơn và ông cũng không buồn phiền gì khi nghe những lời hát nhại này.

Một đời ông đam mê âm nhạc và sáng tác nhiều bài hát, được đông đảo công chúng mến mộ, song mai này chỉ mong người đời khi nhớ đến Thanh Sơn thì hãy nhớ về Nỗi buồn hoa phượng, ông tâm sự như thế.

Phụ lục:

Nhạc sĩ Thanh Sơn tên thật là Lê Văn Thiện, sinh ngày 1/5/1938 tại Sóc Trăng, là thứ 10 trong một gia đình 12 anh chị em.

Những năm học tiểu học, ông được nhạc sĩ Võ Đức Phấn (em út của nhạc sĩ Võ Đức Thu nổi tiếng về tài dạy đàn ở Sài Gòn những năm 1950 – 1960) nhận làm học trò. Năm 1955, thầy Phấn qua đời, ông bắt đầu lên Sài Gòn kiếm sống, làm gia nhân cho ông Giám đốc Công ty Dầu lửa Quốc gia với đồng lương 150 đồng/tháng. Mê âm nhạc nên ông theo học lớp nhạc của nhạc sĩ Lê Thương. Công việc của ông thời đó là chép và kẻ khung nhạc.

Năm 1959, ông đăng ký dự thi cuộc thi Tuyển lựa ca sĩ của Đài Phát thanh Sài Gòn với ca khúc Chiều tàn (Lam Phương). Thí sinh Lê Văn Thiện với nghệ danh Thanh Sơn giành giải nhất, giải thưởng ông nhận được là một chiếc radio và cây đàn guitare.

Bắt đầu từ thành công đó, Thanh Sơn dấn thân vào nghiệp ca sĩ, khởi đầu đi hát trong ban nhạc Tiếng tơ đồng của nhạc sĩ Hoàng Trọng và hát cho Đài Phát thanh Sài Gòn. “Lương ngon lắm! Tôi hát cho ba ban trong đài, lãnh tiền theo từng bài, cộng lại tới 6.000 đồng/tháng, trong khi lương công chức lúc đó có 1.800 đồng thôi” – ông nhớ lại.

Từ năm 1960, ông bắt đầu sáng tác. Ông chọn đề tài về lứa tuổi học trò để nhớ về thời áo trắng, với ông, đó là thời gian đẹp nhất của cuộc đời. Bài hát đầu tiên ông viết là Tình học sinh. Sau khi được nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ góp ý, hướng dẫn, ông gửi cho đài phát thanh và có rất nhiều ca sĩ hát ca khúc này trên sóng phát thanh thời ấy. (Nhạc sĩ Thanh Sơn cho biết, ông có hơn 200 bài hát ông viết về tuổi cắp sách đến trường. Trong đó có những ca khúc nổi tiếng như: Tình học sinh, Ba tháng tạ từ, Lưu bút ngày xanh, Hạ buồn và đặc sắc nhất là Nỗi buồn hoa phượng).

Cuộc đời và sự nghiệp của nhạc sĩ Thanh Sơn - Người viết nhạc cho tuổi học  trò và quê hương Nam Bộ 

Năm 1963, nhạc sĩ Thanh Sơn bắt đầu bỏ hẳn nghiệp ca hát để chuyển sang sáng tác. Ngày đó mỗi tháng đi làm, chỉ được lãnh 150 đồng, nhưng tiền tác quyền của ông một tháng lên đến 6.000 đồng, giúp gia đình ông vượt qua nghèo khó. Ông nhờ vào tiền sáng tác mà mua nhà, mua xe, cưới vợ.

Năm 1973, nhận thấy âm hưởng dân ca Nam Bộ rất gần gũi với đời sống người lao động, dễ lan tỏa và sống mãi trong lòng người nghe, ông chuyển hướng sáng tác đề tài quê hương. Ca khúc ông viết đầu tiên về thể loại này là Ngợi ca quê hương. Từ đó đến nay, ông đã sáng tác hơn 200 ca khúc về đề tài quê hương, lấy chất liệu từ miền châu thổ sông Hậu và âm nhạc ngũ cung. Ông kể: “Tôi đã viết ca khúc về 26 tỉnh, thành miền Nam, trừ Tiền Giang chưa viết được vì hai chữ Tiền Giang đưa vào nhạc khó quá. Tôi sẽ cố gắng tìm cho ra cái tứ để ca ngợi mảnh đất Tiền Giang trong thời gian tới”. Có lẽ ông đang giữ kỷ lục là tác giả có nhiều bài hát sáng tác riêng về các địa danh nhất Việt Nam?

“Lập kỷ lục” như thế chắc ông phải có nhiều đơn đặt hàng và tiền tác quyền để viết “địa phương ca” lắm? Nhạc sĩ Thanh Sơn nhỏ nhẹ cười, lắc đầu: “Mấy khi tôi nhận được tiền từ các tỉnh, thành phố, mà có thì số tiền cũng chẳng là bao. Mình cầm chỉ là tượng trưng cho vui để thấy cái tình, sau đó tặng số tiền này lại cho người nghèo. Cái chính là tôi rất tự hào và yêu mến vùng quê hiền hòa, trù phú nơi mình sinh ra, lớn lên. Tôi muốn khoe với mọi người quê hương của tôi đẹp đẽ như thế, con người quê tôi chất phác, đôn hậu như thế; trước nhất là khoe với… vợ tôi!”. Lấy vợ người miền Trung, ông thường kể với người bạn đời về sự giàu đẹp, màu mỡ ở quê mình và hứa với bà ngày hòa bình sẽ đưa bà đi khắp vùng châu thổ. Nhiều năm sau, ông mới thực hiện được lời hứa với vợ, đồng thời khẳng định “mỗi chuyến đi qua mỗi vùng đất sẽ sáng tác một bài hát để kỷ niệm”. Cứ thế, Hành trình trên đất phù sa và nhiều bài hát về miền Tây theo bước chân đôi vợ chồng tiếp nối ra đời. Tính đến nay, gia tài ca khúc của nhạc sĩ Thanh Sơn có hơn 500 bài hát, 2/3 trong đó viết về quê hương, con người Nam Bộ.

Ca khúc "Mùa Hoa Anh Đào" của nhạc sĩ Thanh Sơn - Tình yêu như sắc hoa đào,  lúc đẹp nhất cũng là lúc phải lìa xa

Có một bài hát rất nổi tiếng của Thanh Sơn là Mùa Hoa Anh Đào. Dạo ấy, mới cưới nhau, trong một lần đi Đà Lạt, khi ngắm gương mặt nhỏ nhắn có nhiều nét như người Nhật của vợ, ông đã sáng tác bài hát này chứ chẳng có chút xíu dây mơ rễ má gì với loài hoa anh đào của Nhật Bản như nhiều người lầm tưởng.

Trải qua một ca mổ tim sinh tử cách đây mấy năm, điều mà ông mong muốn nhất là có đủ sức khỏe để tiếp tục sáng tác: “Tôi nghiên cứu kho tàng nhạc dân tộc mênh mông của nước mình, đặc biệt say mê vọng cổ, nhạc tài tử cải lương. Khi sáng tác tôi vay mượn, phát triển từ gốc âm nhạc Việt giàu có như bản Mẫu tầm tử, Trăng thu dạ khúc, câu hò, điệu lý dân ca… chứ không để nhạc mình lai tạp. Những gì tôi viết là đời sống thật bởi tuổi thơ của tôi từng cấy lúa, tắm sông, hái dừa, chèo thuyền… Tôi lại đi nhiều để thấy, để hiểu, để cảm được nhiều chứ không ngồi một chỗ tưởng tượng ra nên bài hát không giả tạo, từ đó không dễ quên với nhiều người nghe”.

 

Cao Vũ Huy Miên

Huỳnh Trúc Lập sưu tầm

Nhạc sĩ Thanh Sơn - Tác giả

 

 

 

 

Xem thêm...

NGƯỜI TÌNH (Duras)

L’amant (The Lover) (1992) và truyện Người tình

 

 

L'AMANT - NHỮNG NGƯỜI TÌNH TUYỆT VỌNG

Nếu như nguyên tác của Duras, với điểm nhìn của một người phụ nữ, câu chuyện hiện lên khẽ khàng và run rẩy, thì với Annaud, câu chuyện một lần nữa được tái sinh với tất cả cuồng nhiệt và đắm say.

Marguerite Duras thời còn trẻ.

“Và, cô đã khóc… cô nghĩ về anh, người đàn ông của Chợ Lớn, người tình của cô, và bất chợt, cô biết rằng, cô yêu anh biết nhường nào, bằng một tình yêu chưa từng có. Và nó đã tàn rụi, như nước lẫn vào cát…”.

Những dòng cảm xúc đau đớn tuyệt vọng của cô gái trẻ người Pháp khi vĩnh biệt Sài Gòn bất chợt trào lên trong những giây phút cuối cùng của bộ phim Người tình (L’amant), trong tiếng piano và tiếng sóng biển dồn dập. Lần đầu tiên, cô đã khóc, cho một mối tình mà cô vừa nhận ra, sẽ không còn có thể tìm lại một lần nữa trong đời.

Nữ văn sĩ Marguerite Duras

Cô đã đoạn tuyệt những dấu vết của người tình đầu tiên trong đời mình như thế…

Gần 30 năm trôi qua, hơn cả một tác phẩm điện ảnh, Người tình - câu chuyện tình yêu đầy ám ảnh và mê hoặc của nữ văn sĩ người Pháp Marguerite Duras cuối thế kỷ XX, qua cách kể chuyện vô cùng tinh tế và táo bạo của đạo diễn Jean-Jacques Annaud đã trở thành biểu tượng về một tình yêu vượt ra khỏi khuôn khổ của những lễ giáo và khuôn phép, một giấc mơ đắm đuối bởi bản năng và dục vọng của những con người cô độc năm ấy.

Sự táo bạo của Annaud

Người tình là câu chuyện về cuộc tình ngắn ngủi của cô gái trẻ người Pháp mới 16 tuổi (Jane March) với một người đàn ông Trung Hoa 32 tuổi giàu có (mà sau này theo lời kể của tác giả, ông có tên là Huỳnh Thủy Lê, nhân vật được Lương Gia Huy thủ vai). Hai người gặp nhau trên một chuyến phà qua sông Mê Kông, chàng nhìn thấy nàng qua cửa kính xe ô tô, cô gái Pháp nhỏ bé trong bộ đồ mỏng manh, đôi môi gợi tình, ánh mắt bất cần nổi loạn. Họ đã yêu, đã bên nhau trong một mối quan hệ thể xác mãnh liệt, một mối quan hệ bị cấm đoán và chỉ trích.

Với Người tình, tác giả Duras đã không sáng tác, mà bà ghi lại những ký ức của mình, những ký ức có thật về mối tình đầu đầy đau đớn mà bà đã trải qua trong những năm tháng tuổi trẻ bế tắc và mất phương hướng bằng những lát cắt vô cùng tinh tế của cảm xúc.


Nữ văn sĩ đã kể lại: “Tôi viết cuốn truyện này trong niềm hạnh phúc điên dại. Tôi đắm chìm vào cuốn tiểu thuyết một năm, giam mình trong năm đó cùng với tình yêu giữa người đàn ông Trung Hoa và cô bé”.

Cuốn sách xuất bản năm 1984, nhanh chóng trở thành bestseller, và nhận được giải thưởng Goncourt ngay sau đó. Người tình đã mau chóng vượt ra ngoài biên giới nước Pháp, được dịch ra hơn 43 thứ tiếng với 2,4 triệu bản in trên toàn thế giới.

Cuối những năm 90, đạo diễn Jean-Jacques Annaud quyết định đưa câu chuyện tình tuyệt vời ấy lên màn ảnh. Bối cảnh được chọn là Sài Gòn, Việt Nam, nữ diễn viên Jane March (người được chọn ra từ 7.000 ứng viên đến casting cho vai diễn) cùng với Lương Gia Huy là hai diễn viên chính được lựa chọn. Phim thực hiện trong 4 năm, từ cuối năm 1986 đến 1990, với số kinh phí 30 triệu đô la, được coi là lớn nhất trong những bộ phim nước ngoài từng được thực hiện tại Việt Nam.
 
When she first fell in love, she was 16 years old and he was 32; in her  later years she staged a shocking love again, and her boyfriend was 39  years younger

Nếu như nguyên tác của Duras, với điểm nhìn của một người phụ nữ, câu chuyện hiện lên khẽ khàng và run rẩy, thì với Annaud, câu chuyện một lần nữa được tái sinh với tất cả cuồng nhiệt và đắm say. Ông dành phần lớn thời lượng phim cho những cảnh ái ân thể xác với dụng ý làm nổi bật sự khát khao bản năng tình dục ở hai nhân vật chính.

Tất cả bối cảnh và trang phục, đặc biệt là âm thanh và ánh sáng được Annaud xử lý vô cùng kỹ càng, thậm chí ông mất đến hai năm chỉ để tìm kiếm bối cảnh và thiết kế, đủ để làm nổi bật lên không gian thuộc địa Á Đông nồng nực và đậm đặc, để khán giả cảm nhận rõ được cái nồng nàn và mãnh liệt của cuộc tình ấy.

Về phía Duras, việc lựa chọn Việt Nam là bối cảnh chính cho Người tình ngay từ đầu khiến cho Duras bất bình, bởi bà muốn Người tình được quay ở một miền quê nước Pháp với quy mô nhỏ như một câu chuyện tình riêng tư của lòng bà mấy mươi năm. Nhưng Annaud lại muốn có một bộ phim hoành tráng, tầm cỡ thế giới kiểu Hollywood nhưng vẫn phải đậm màu Á Đông, và ông đã làm theo cách của mình, ông lựa chọn Sài Gòn, Việt Nam.

Có một Sài Gòn đẹp mê hoặc trong phim Người tình

Có lẽ, sự liều lĩnh của Annaud đã mang lại cho Người tình những hiệu ứng điện ảnh ngoài sức mong đợi. Với quá nhiều cảnh quay táo bạo và vô cùng “chân thật”, ngay từ khi ra mắt, phim vấp phải một làn sóng tranh cãi rất mạnh mẽ. Trong khi đoàn làm phim cố tình úp mở về quá trình thực hiện những cảnh quay nhạy cảm, nhiều khán giả đã cho rằng hai diễn viên đã “quan hệ” thật khi thực hiện.

Nhất là trong nội dung phim, nữ diễn viên chính chỉ mới 16 tuổi (dù tuổi thật của nữ diễn viên Jane March lúc đó là 18 tuổi), phim vẫn bị cho là trái với “thuần phong mỹ tục” và đi quá xa khỏi nguyên tác. Thậm chí chính Marguerite Duras đã lên tiếng “hờn dỗi”: “Không có gì gắn bó tôi với bộ phim, đó là sự tưởng tượng của Jean-Jacques Annaud”.
 
Người tình' từ tiểu thuyết đến phim
 
Trước những ồn ào, Annaud buộc phải lên tiếng thú nhận những cảnh quay được thực hiện bí mật tại trường quay ở thủ đô Paris với những kỹ xảo khéo léo và sự biên đạo cẩn thận cùng những diễn viên đóng thế.

Và tất nhiên, càng ồn ào, bộ phim càng gây được tiếng vang, ngay từ khi ra mắt, Người tình đã trở thành một hiện tượng “bom tấn” của điện ảnh thời bấy giờ, thu hút 3 triệu lượt người xem ngay sau khi phát hành tại Pháp, và thu về 45 triệu đô la doanh thu.

Những hồi ức không thể lãng quên

Như mọi cuộc tình bị cấm đoán khác trên đời, mối tình của hai nhân vật chính chỉ kéo dài trong một thời gian ngắn. Dù gần gũi về thể xác nhưng Duras đã cố gắng khước từ cái gọi là tình yêu, bà đã chôn chặt vào tầng sâu nhất của tâm hồn, đã hành hạ người tình và hành hạ chính mình theo những cách lạnh lùng và tự hoại nhất, để che đậy những yếu đuối và bế tắc trong tâm hồn đầy ẩn ức. Họ đã yêu nhau khổ sở như những người tình tuyệt vọng.


Không bao lâu sau, người tình của cô phải kết hôn với người phụ nữ mà gia đình ông chọn lựa, dù cố gắng, ông đã không thể lựa chọn người mình yêu vì cô là người da trắng, và vì chính cô cũng không muốn cưới anh.

Ít lâu sau, khi tròn 18 tuổi, Duras buộc phải quay trở về Pháp. Những ký ức về mối tình đó tưởng như đã chôn chặt trong lòng biển cả, hòa lẫn vào tiếng khóc của cô, trên chuyến tàu cuối cùng cô rời xa Sài Gòn. Nhưng thực tế không phải vậy.
 
Có một 'Người tình' đẹp đắm say và cuồng nhiệt ở Việt Nam


Hàng chục năm sau đó, trong chuyến du lịch cùng gia đình sang Pháp, Huỳnh Thủy Lê đã gọi điện cho Duras, lúc này bà đã trở thành một nhà văn nổi tiếng, và nói rằng: “Tôi vẫn yêu em như ngày xưa…”. Chi tiết này cũng được tái hiện lại trong cảnh cuối cùng của bộ phim, người đàn ông Trung Hoa ấy, nay đã có gia đình, ông gọi điện cho bà khi ông đang ở Pháp. Trong khung cảnh lãnh đạm cùng nhiều ký ức ùa về, ông nói rằng ông sẽ không ngừng yêu bà trong suốt quãng đời còn lại.
 
L'AMANT – Người tình – Viti Rouge

Cuộc gọi định mệnh đã khiến Duras như bị rơi trở lại vào những ký ức đẹp đẽ và đau thương của mình, tất cả những kỷ niệm nồng nàn cháy bỏng từ thời thanh xuân lại ùa về nguyên sơ khao khát trong bà, bà bắt tay vào viết Người tình trong niềm hạnh phúc điên dại vô bờ bến.

Sau này, trong tiểu thuyết L'amant de la Chine du Nord viết năm 1991 của mình, bà thú nhận: "Anh ấy làm cho những mối tình khác trong cuộc đời tôi đều bị lu mờ, kể cả những cuộc tình chính thức thành chồng thành vợ”.
Nữ văn sĩ Marguerite Duras và ông Huỳnh Thủy Lê.

Họ đã không thể gặp lại nhau một lần nào sau những năm tháng thanh xuân khổ sở ấy, họ đã sống như thế, dù trong ngôi nhà nhỏ giữa Chợ Lớn nóng nực, lộn xộn, dù là ở Việt Nam, Trung Hoa hay Pháp, họ vẫn sống với những ký ức tình yêu dành cho nhau, những yêu thương mà họ chưa một lần dám đối diện.

Sau những thành công ban đầu, nhiều năm sau này, Người tình vẫn có sức sống bền bỉ trong lòng công chúng, phim đã đưa tên tuổi của hai diễn viên chính Jane March và Lương Gia Huy trở thành hai ngôi sao sáng trên bầu trời điện ảnh. Và, sau tất cả, mặc cho những ồn ào, tranh cãi, Annaud đã thực sự thành công trong việc tái hiện câu chuyện tình đầy mê hoặc ấy vượt xa nguyên tác, trở thành một bộ phim kinh điển, một trong những tác phẩm duy mỹ và nhiều cảm xúc nhất của lịch sử điện ảnh.


Lan Anh / Theo: PNO
---------------------
 

Trong quyển tiểu thuyết "Người tình", nữ văn sĩ người Pháp Margueritte có viết, trong một lần Huỳnh Thuỷ Lê trở lại Pháp, ông có gọi cho bà chỉ để nghe giọng bà và nói:

"Rồi chàng nói với nàng rằng cũng giống như trước kia, chàng vẫn yêu thương nàng, chàng không thể ngừng yêu thương nàng cho được, không bao giờ chàng có thể ngừng yêu thương nàng, chàng yêu thương nàng cho đến chết".

Về nhà cổ 100 năm tuổi ở Sa Đéc, nghe chuyện tình lãng mạn của nữ nhà văn Pháp và công tử Việt thế kỷ 20 - Ảnh 1.

Ngôi nhà giao thoa giữa 3 nền văn hoá

Nằm bên bờ sông Tiền, ngôi nhà số 255A – đường Nguyễn Huệ - Tp. Sa Đéc, hằng ngày đón hàng chục lượt khách Tây, Việt đến tham quan. Ngôi nhà này được mọi người biết với tên gọi là Nhà cổ Huỳnh Thuỷ Lê, ngôi nhà mang tên người cố chủ, ông Huỳnh Thuỷ Lê, một người Việt gốc Hoa giàu có vào những năm đầu thế kỷ 20.

Về nhà cổ 100 năm tuổi ở Sa Đéc, nghe chuyện tình lãng mạn của nữ nhà văn Pháp và công tử Việt thế kỷ 20 - Ảnh 2.
Về nhà cổ 100 năm tuổi ở Sa Đéc, nghe chuyện tình lãng mạn của nữ nhà văn Pháp và công tử Việt thế kỷ 20 - Ảnh 3.
Về nhà cổ 100 năm tuổi ở Sa Đéc, nghe chuyện tình lãng mạn của nữ nhà văn Pháp và công tử Việt thế kỷ 20 - Ảnh 3.

Ngôi nhà được xây dựng từ năm 1895 với tổng diện tích 258 mét vuông, có hình thức giống với nhà Việt truyền thống.

Ngôi nhà được xây dựng từ năm 1895 với tổng diện tích 258 mét vuông, có hình thức giống với nhà Việt truyền thống. Phần mái nhà hình thuyền, lợp ngói âm dương của miền Tây Nam bộ, hai bên đầu hồi uốn cong theo kiểu đình chùa Bắc bộ, vòm cửa dáng cong theo kiểu kiến trúc La Mã, chạm khắc các phù điêu hoa lá cây cỏ, chim muông của thế kỷ 17. Kiến trúc phương Tây thể hiện rõ ở phần mặt tiền nhà, trần nhà, các khung cửa sổ.

Về nhà cổ 100 năm tuổi ở Sa Đéc, nghe chuyện tình lãng mạn của nữ nhà văn Pháp và công tử Việt thế kỷ 20 - Ảnh 4.

Những chiếc cột nhà đều sơn son thiếp vàng

Bước vào trong nhà, một không gian Trung Hoa kết hợp với màu sắc Việt mở ra. Các cánh cửa, cột nhà, bàn thờ... đều sơn son thiếp vàng, phần gạch lót sàn được nhập từ Pháp, có nhiều hoa văn đặc sắc. Nền gạch giữa nhà cố tình làm trũng xuống do thiết kế phong thuỷ theo kiểu người Hoa, vì người Hoa tin rằng "nước chảy về chỗ trũng", nghĩa là tiền bạc sẽ đổ về với chủ nhà.

Về nhà cổ 100 năm tuổi ở Sa Đéc, nghe chuyện tình lãng mạn của nữ nhà văn Pháp và công tử Việt thế kỷ 20 - Ảnh 5.

Những cánh cửa được trang trí tỉ mỉ

Về nhà cổ 100 năm tuổi ở Sa Đéc, nghe chuyện tình lãng mạn của nữ nhà văn Pháp và công tử Việt thế kỷ 20 - Ảnh 6.
Về nhà cổ 100 năm tuổi ở Sa Đéc, nghe chuyện tình lãng mạn của nữ nhà văn Pháp và công tử Việt thế kỷ 20 - Ảnh 6.
Về nhà cổ 100 năm tuổi ở Sa Đéc, nghe chuyện tình lãng mạn của nữ nhà văn Pháp và công tử Việt thế kỷ 20 - Ảnh 6.

Những món đồ gốm được trưng bày trong ngôi nhà cổ

Nhà có ba gian, phần phía trước dùng để thờ phụng, phía sau có 2 phòng ngủ hai bên hông, tạo thành một hành lang rộng dẫn xuống nhà sau. Bên trong nhà có nhiều nội thất, gạch bông và kính màu được nhập từ Pháp. Đặc biệt, phần cửa kính màu được thiết kế tinh xảo, tạo nên những mảng màu rất nghệ thuật dưới ánh nắng. Những đồ dùng trong nhà như tủ rượu, giá sách, tivi trắng đen hay những bộ bình trà, đèn, máy hát vẫn còn được lưu giữ.

Về nhà cổ 100 năm tuổi ở Sa Đéc, nghe chuyện tình lãng mạn của nữ nhà văn Pháp và công tử Việt thế kỷ 20 - Ảnh 7.
Về nhà cổ 100 năm tuổi ở Sa Đéc, nghe chuyện tình lãng mạn của nữ nhà văn Pháp và công tử Việt thế kỷ 20 - Ảnh 8.Lượng khách đến ghé thăm ngôi nhà cổ này phân nửa là người nước ngoài, trong đó phần đông là du khách Pháp. Bởi ngoài kiến trúc cổ độc đáo, thân chủ của ngôi nhà này còn có một mối tình nổi tiếng trên những trang viết và cả màn ảnh.

 

Mối tình của chàng trai gốc Hoa và thiếu nữ Pháp

Một câu chuyện tình được nuôi dưỡng bởi yêu thương và kết thúc do màu da và sắc tộc. Đó là những gì nữ văn sĩ Pháp Margueritte kể trong tiểu thuyết "Người tình" (tên tiếng Pháp là L´Amant). Nội dung tiểu thuyết dựa trên mối tình có thật của bà và ông Huỳnh Thuỷ Lê. Tiểu thuyết Người tình được xuất bản vào năm 1984, đã được dịch ra 43 thứ tiếng và đoạt giải thưởng văn học danh giá của Pháp – giải Goncourt.

Về nhà cổ 100 năm tuổi ở Sa Đéc, nghe chuyện tình lãng mạn của nữ nhà văn Pháp và công tử Việt thế kỷ 20 - Ảnh 9.

Tiểu thuyết Người tình được xuất bản vào năm 1984, đã được dịch ra 43 thứ tiếng và đoạt giải thưởng văn học danh giá của Pháp – giải Goncourt.

Tiểu thuyết đã được Đạo diễn Jean - Jacques Annaud chuyển thể thành bộ phim cùng tên với các diễn viên Jane March, Lương Gia Huy. Chuyện tình này khi lên màn ảnh nhỏ đã lấy đi không ít nước mắt của khán giả. Ban đầu, Duras không bao giờ tiết lộ sự thật đằng sau mối tình nổi tiếng. Chỉ sau này, khi bộ phim Người tình được quay thì bà thừa nhận mình là cô gái trong tiểu thuyết. Câu chuyện xảy ra tại Tp.Sa Đéc vào thời Pháp thuộc, bà Margueritte cùng gia đình đến Việt Nam sinh sống và làm việc, khi đó bà chỉ vừa 15 tuổi.

Năm 1929, trên chuyến phà Mỹ Thuận, cô gái thiếu nữ người Pháp đã thu hút sự chú ý của một người đàn ông giàu có 27 tuổi, con trai một nhà tài phiệt người Hoa, anh ta tên Huỳnh Thuỷ Lê. Anh bắt chuyện với cô và cô đồng ý cùng anh lên chiếc xe Limousine sang trọng.

Về nhà cổ 100 năm tuổi ở Sa Đéc, nghe chuyện tình lãng mạn của nữ nhà văn Pháp và công tử Việt thế kỷ 20 - Ảnh 10.
 
Khi ấy gia cảnh của 2 người đối lập nhau hoàn toàn, mẹ Margueritte là một goá phụ phá sản và trầm uất, cô gái nhỏ đi người đi trên dây giữa những giông tố luôn chực chờ kéo đến. Lạc lõng giữa những màu da và gương mặt khác lạ, cô đơn trong mái ấm gia đình, còn Huỳnh Thuỷ Lê lúc đó là một thiếu gia sở hữu một khối tài sản khổng lồ, anh chàng cũng vừa du học Pháp trở về. Margueritte sa vào lòng tay của người đàn ông chững chạc giàu có như một lẽ tất yếu. Huỳnh Thuỷ Lê cũng say đắm cô gái da trắng non nớt.

Giữa thời đại hà khắc ấy, hai người lại dọn về sống chung dưới một mái nhà. Khi Huỳnh Thuỷ Lê ngỏ lời muốn cưới Margueritte, gia đình anh đã kịch liệt phản đối, vì cha anh là một doanh nhân gốc Hoa bảo thủ, ông không chấp nhận một cô con dâu ngoại quốc nghèo nàn, lại còn sống chung với con ông trước khi cưới hỏi. Hơn nữa, lúc đó ông đã sắp đặt hôn ước cho Huỳnh Thuỷ Lê với một người con gái của một gia đình quyền thế khác

Nhà cổ Huỳnh Thủy Lê - Thị xã Sa Đéc, Đồng Tháp - YouTube

Không thể chống lại ý muốn của gia đình, Huỳnh Thuỷ Lê chia tay Margueritte trong khi tình yêu của họ nồng cháy nhất. Margueritte đau đớn lên tàu trở về Pháp vào năm 18 tuổi, khi chiếc tàu rời bến, từ mạn tàu nàng thấy thấp thoáng từ xa chiếc xe hơi sang trọng màu đen quen thuộc của người tình lặng lẽ phía bên bờ. Cuộc chia ly đầy nước mắt đã khép lại một mối tình dang dở. Không lâu sau đó Huỳnh Thuỷ Lê cũng lấy vợ theo sự sắp đặt của gia đình, nhưng có lẽ trái tim ông đã để lại trên chuyến phà ngày hôm đó.

Về nhà cổ 100 năm tuổi ở Sa Đéc, nghe chuyện tình lãng mạn của nữ nhà văn Pháp và công tử Việt thế kỷ 20 - Ảnh 11.

Marguerite Duras với vẻ đẹp cuốn hút

Khi Marguerite Duras về Pháp, bà cố gắng trở lại với cuộc sống để quên đi mối tình cách nửa vòng trái đất. Nhưng cũng giống người tình của mình, trái tim bà đã đánh rơi nơi đâu đó vào ngày hai người chia tay. Những mối tình sau đến với bà như mùa đông ở đất Pháp, nhiều cô đơn và lạnh lẽo. Margueritte trải qua 2 cuộc hôn nhân tan vỡ, bà có khoảng thời gian qua lại với các chàng trai trẻ. Nhưng cuối cùng bà qua đời mà vẫn luyến tiếc mối tình năm 18 tuổi.

Trong quyển tiểu thuyết Người tình bà có kể, trong một lần Huỳnh Thuỷ Lê trở lại Pháp, ông có gọi cho bà chỉ để nghe giọng bà và nói "Rồi chàng nói với nàng rằng cũng giống như trước kia, chàng vẫn yêu thương nàng, chàng không thể ngừng yêu thương nàng cho được, không bao giờ chàng có thể ngừng yêu thương nàng, chàng yêu thương nàng cho đến chết".

Về nhà cổ 100 năm tuổi ở Sa Đéc, nghe chuyện tình lãng mạn của nữ nhà văn Pháp và công tử Việt thế kỷ 20 - Ảnh 12.

Những hình ảnh về Marguerite Duras được treo trong ngôi nhà cổ

Về nhà cổ 100 năm tuổi ở Sa Đéc, nghe chuyện tình lãng mạn của nữ nhà văn Pháp và công tử Việt thế kỷ 20 - Ảnh 13.

Đây là một câu chuyện tình đẹp mà ám màu bi thương. Vừa say mê lại vừa day dứt. Tôi đến với nhà cổ Huỳnh Thuỷ Lê sau khi biết đến tiểu thuyết Người tình, ngoài không gian cổ kính, những nét kiến trúc độc đáo. Tôi vẫn có thể tưởng tượng ra bóng dáng của một người đàn ông người Hoa, ông vẫn ngồi đó bên chiếc máy hát cổ đang chạy một bản nhạc Pháp, ông chờ đợi trong vô vọng bóng dáng của một cô thiếu nữ người Pháp xinh đẹp, cô ấy không chỉ là người tình của ông. Với ông, cô ấy là tình yêu của cả một cuộc đời.

Marguerite Duras sinh ngày 4/4/1914 tại Gia Định, cha mẹ đều là giáo viên dạy tiểu học ở miền Nam Việt Nam. Tên khai sinh của bà là Marguerite Donnadieu, khi bắt đầu viết văn (1943) bà lấy tên là Duras – một địa danh ngoại ô Paris, nơi cha bà dưỡng bệnh những ngày cuối đời rồi chết (1918). Mẹ Duras là bà Mary Legrand khi ấy đã dùng toàn bộ tiền dành dụm tậu một khu đất tại Campuchia định lập đồn điền kinh doanh. Về sau bà mới biết mình đã nhầm vì mảnh đất này hàng năm bị ngập nước 6 tháng liền. Phá sản, cuộc sống gia đình khó khăn hơn bao giờ hết – kết cục bi thảm ấy đã ảnh hưởng đến Mary và các con.

Ảnh cưới theo chủ đề phim 'L'amant' - Người tình - Ngôi sao

Sau 17 năm ở Việt Nam, Duras về Paris đi học rồi tốt nghiệp khoa luật và chính trị trường Đại học Sorbonne. Từ năm 1935 đến 1941 bà làm thư ký cho Bộ Thuộc địa Pháp. Tại đây bà quen rồi lấy ông Robert Antelme (năm 1939), người quản lý Phòng Tư liệu tình báo thuộc địa. Tám năm sau họ ly dị.

Thực ra thì từ năm 1942, Duras đã đi lại với bạn chồng là ông Dionys Mascolo. Ba năm sau hai vợ chồng bà cùng Dionys gia nhập đảng Cộng sản Pháp, nhưng về sau cả ba đều bị khai trừ đảng. Có người nói đó là vì Duras “sống chung với hai người đàn ông”, có người nói vì vấn đề chính trị. Cuối thế kỷ 20, Dionys còn khỏe mạnh; ông kể: “Trong thời gian sống với chồng, Marguerite có một vài tình nhân, còn ông Robert cũng đi lại với mấy phụ nữ khác; cho nên tôi đâu có lừa dối gì ông ấy.”

Duras bắt đầu viết văn từ năm 1943, với tiểu thuyết đầu tay “Les Impudents” (Những kẻ vô liêm sỉ). Cuốn “Đập chắn Thái Bình Dương” (The Sea Wall) (1950) phản ánh cuộc sống nghèo khổ thời thơ ấu của bà ở Việt Nam. Nhiều tiểu thuyết khác lấy đề tài là thực tế xã hội Đông Dương. “Thủy thủ Gribaltar” (1952) và các tác phẩm khác của bà chứa nhiều hình ảnh và đối thoại, về sau đều được cải biên thành kịch bản phim.

Nhà cổ huỳnh thuỷ lê và “Người tình” của cô gái Pháp

Duras được coi là nhà văn trường phái tiểu thuyết mới, vì trong các tiểu thuyết như “Con ngựa nhỏ Tarquinia” (1953), “Giai điệu êm dịu” (Moderato Cantabile) (1958), … bà đã mạnh dạn bỏ lối văn kể chuyện truyền thống mà hòa trộn hiện thực với hư cấu làm một. Tác phẩm của bà thường phản ánh sự đối lập giữa giàu với nghèo, nói lên các khát vọng của con người.

Duras gặt hái nhiều thành công trong lĩnh vực kịch bản sân khấu và điện ảnh. Vào các năm 1965, 1968, 1984 bà từng viết 3 kịch bản và được tặng giải thưởng lớn về sân khấu của Học viện France. Các kịch bản điện ảnh xuất sắc như “Mối tình Hiroshima” (1960), “Biệt ly” (1961) đem lại cho Duras tiếng vang lớn. Từ 1965, bà tự đạo diễn làm phim. Từ phim “Bài ca Ấn Độ” (1974) trở đi, năm nào bà cũng dàn dựng 1-2 bộ phim, một số phim từng được giải thưởng lớn quốc tế.

Tổng cộng Duras đã sáng tác được hơn 60 tác phẩm, nổi tiếng nhất là tiểu thuyết “Người tình” (L’Amant) xuất bản năm bà 70 tuổi. Cuốn sách nửa tự truyện này kể lại một cách vô cùng cởi mở hồi ức của Duras về mối tình đầu giữa một thiếu nữ Pháp 16 tuổi với một người đàn ông người Hoa khi họ cùng sống ở Nam Việt Nam. “L’Amant” nhanh chóng được dịch ra 43 ngôn ngữ, là cuốn sách tiếng Pháp bán chạy nhất năm đó (phát hành hơn 2,5 triệu bản) và được tặng giải văn học Goncourt 1984. Duras trở thành nhà văn viết tiếng Pháp nổi tiếng nhất đương thời.

Sau khi được tin người bạn trai đầu tiên của mình qua đời, năm 1991 bà đã viết lại “Người tình” dưới cái tên mới “Người tình phương Bắc Trung Quốc” (L’Amant de la Chine du Nord), với ngòi bút tả thực khiến bạn đọc vô cùng ngạc nhiên. So với “Người tình” thì thiên truyện viết lại này mô tả rất chi tiết về mặt sinh lý của ông bạn người Hoa. Các đoạn đặc tả về hành vi loạn luân, luyến ái đồng tính trần trụi tới mức kinh khủng. Có điều, suốt cuốn tiểu thuyết chưa bao giờ bà để lộ họ tên các nhân vật chính, chỉ dùng đại từ nhân xưng ngôi thứ ba chỉ nhân vật nữ, và dùng “người Hoa” để chỉ tình nhân của mình. Có lẽ bà muốn mãi mãi giấu kín bí mật này.

 Schriftstellerin Marguerite Duras - Leidenschaftlich bis zum Tod |  deutschlandfunk.de

Một người Ý là Angelo Morino đã vén bức màn bí ẩn ấy: Nhân vật người tình trong “L’Amant” thực ra không phải là bạn trai của Duras, mà là tình nhân của mẹ bà! Trong mấy năm người chồng của Marie Legrand dưỡng bệnh ở Pháp rồi qua đời, thì bà Marie sống tại Gia Định đã quan hệ với một người Hoa. Mối tình ngang trái ấy đưa đến sự ra đời hai chị em: Duras và cậu em trai Paul. Sau này, khi trưởng thành, hai chị em ấy lại quan hệ loạn luân với nhau. Chứng cớ có sức thuyết phục nhất do Morino đưa ra là khi về già, Duras càng ngày càng có nét mặt của một người Âu lai Á, tức giống nhân vật chính người Hoa trong “L’Amant”. Theo Morino, chính mẹ Duras đã bắt cô con gái 16 tuổi của bà bán trinh cho người tình nhiều tuổi của bà để lấy tiền làm lộ phí đưa bốn mẹ con từ Nam Việt Nam về Pháp !

Nhưng một nhân vật từng nghiên cứu kỹ hồ sơ cá nhân của Duras là ông Adlai lại nói mẹ Duras làm việc ấy là để lấy tiền mua ma túy cho người con trai cả của bà! Có thể nhận thấy sự thật đau lòng này qua những dòng viết trong “L’Amant”, cũng như các bức ảnh và cuốn phim của Duras. Từ đó người ta hiểu được tại sao Duras lại thân thiết với em trai mình như thế, thậm chí tới mức có hành vi loạn luân với nhau; trong khi đó cả hai chị em lại vô cùng căm ghét người anh cả cùng mẹ khác cha của họ. Với việc viết lại “Người tình”, Duras muốn trả thù mẹ mình. Qua đây ta thấy Marguerite Duras có cuộc sống nội tâm vô cùng cô đơn. Để giải sầu, mỗi ngày bà uống tới 5 lít vang đỏ, whisky cùng các loại rượu mạnh khác, nhiều lần rượu làm bà hôn mê và liệt chân tay. Quãng đời thơ ấu buồn thảm và việc bà mẹ bắt mình bán trinh khiến Duras luôn luôn cảm thấy mình bị kẻ khác bóc lột và lừa dối. Suốt đời bà so bì tị nạnh từng tý một, tằn tiện đến mức khó hiểu, kể cả khi đã giàu có.

Cuối thập niên 1950, Duras dùng tiền thù lao cải biên tiểu thuyết “Đập chắn Thái Bình Dương” thành phim, tậu một tòa nhà cũ tại ngoại ô Paris rồi ở đây cho tới ngày qua đời (03/03/1996). Mấy năm cuối, bà sống chung với Andrea, một người đàn ông kém bà 39 tuổi. Ông này biến mất ngay sau tang lễ Duras. Tòa nhà ấy hiện do con trai bà là Jean sở hữu, nhưng vẫn giữ nguyên trạng như khi Duras còn sống.

Perché non dobbiamo dimenticare Marguerite Duras - L'Espresso

Sau khi Duras qua đời, nhiều tác phẩm của bà vẫn tiếp tục được xuất bản. Những tập bản thảo, thư tín và tài liệu, cùng hàng trăm ấn bản ngoại ngữ các tác phẩm của bà xếp đầy trong phòng khách, phòng ăn. Các phát biểu của bà trên đài phát thanh truyền hình qua chỉnh lý được ghi vào đĩa CD dài tới 5 giờ đồng hồ.

Jean là con trai duy nhất của Duras, hai mẹ con cùng sống bên nhau 49 năm, tình cảm rất sâu sắc. Jean nói, mẹ ông để lại cho ông một tài sản quan trọng nhất, đó là tính cách không chịu khuất phục; bà đã dạy con lòng yêu tự do, không bao giờ để mất niềm tin.

Đúng thế, không ai có thể làm Duras thay đổi ý kiến. Trong suốt 20 năm liền từ khi bà bắt đầu sáng tác văn học (1943), hồi ấy chưa ai coi bà là nhà văn, mỗi tác phẩm của Duras chỉ được in vài trăm bản. Thế nhưng bà chưa bao giờ ngừng sáng tác, ngày nào cũng viết chừng 4-5 giờ đồng hồ, coi đó là một sở thích. Mãi 40 năm sau, khi cuốn “Người tình” nhận giải Goncourt, bà mới trở thành thành ngôi sao sáng trên bầu trời văn học Pháp và thế giới.

Có nhiều tiền nhưng Duras vẫn tằn tiện. Có người chê bà bần tiện gàn dở, chỉ vì tiền mà viết đi viết lại một đề tài. Bà mặc rất giản dị: quanh năm vận một chiếc váy ống, đội mũ đen, đi đôi ủng ngắn mùa đông! Có bộ quần áo bà mặc suốt 15 năm trời. Duras phân bua: “Thực ra chẳng cần khoác lên người những thứ quần áo đẹp làm gì, vì tôi suốt ngày chỉ vùi đầu vào viết lách thôi mà”. Thủa trẻ bà rất đẹp, nhưng sắc đẹp ấy bị nghèo túng làm cho xấu đi, về sau lại bị rượu giết chết.

Suốt đời Duras sống trong hồi ức, hoài niệm; khi ấy mọi thứ của quá khứ đều sống động như nước chảy trong dòng sông. Nhưng những hồi ức đẹp nhất thì bà lại chưa hề viết ra!

 

Hồ Anh Hải tổng hợp

Kim Phượng sưu tầm

Marguerite Duras và “Người tình”: Từ huyền thoại đến sự thật | Hoàng Trọng


Lan Anh
Xem thêm...

PHỤ NGHĨA TRẦU CAU?

PHỤ NGHĨA TRẦU CAU?

▂ ▃ ▅ ▆ █☆★█ ▆ ▅ ▃ ▂

 Chuyện têm trầu + chẻ cau là mỹ tục hay hủ tục đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi chưa ngã ngũ. Thế nhưng, ngõ dụng buồng cau với mớ tược trầu làm gia vị cho nhiều món ăn bài thuốc vẫn là lối sáng.

“...Mời anh ăn miếng trầu này, chính giữa kiết cánh hai đầu quế cay.
Trầu này ăn thật là say...” (Ca dao)

Bộ trầu cánh phượng truyền thống Huế.

Nhắc chuyện trầu cau, cố dược sĩ Nguyễn Văn Bé, ở tỉnh Long An, phân trần: “Tui tốn công tốn của đi Tây, Tàu học đã đời mới giật mình nhận ra, kho ca dao tục ngữ của ông bà mình giá trị hơn cả trăm bằng giáo sư, tiến sĩ ở họ. Có điều, ngôn ngữ dân ta rất hàm súc và bình dân. Đôi khi chúng ta không chiêm nghiệm kỹ sẽ hiểu lầm hoặc không hết ý...”

“Tội đồ” hay “công thần”?

Theo Lĩnh Nam Chích Quái, dân ta biết ăn trầu từ thời Hùng Vương. Thời đó, đàn ông lẫn đàn bà đều ăn trầu. Cho nên, mới có thành ngữ “miếng trầu đầu câu chuyện”. Ngay cả trong quan - hôn - tang- tế, cũng không thể thiếu một cơi trầu cau tốt tươi và bình vôi mới.

Lớp “bà già trầu” Nam bộ, ngày càng hiếm.
 
Gần đây, một số công bố theo phương pháp: “trích ly - hóa học luận tội” cho rằng, ăn trầu tăng nguy cơ gây ung thư miệng. Vì trong cau có chất đáng nghi là alkaloides (Bệnh ung thư miệng, ykhoa.net dẫn lại của báo Sài Gòn Tiếp Thị).

Thế nhưng, tiến sĩ Võ Quang Yến cho hay: “Trầu có khả năng hủy bỏ tác dụng đột biến của những chất gây ung thư nitrosonornicotin và methyl nitrosoamino pyridyl butanon từ thuốc lá nhờ những eugenol, hydroxy chavicol, chlorophyll, vitamin C cũng như chống dimethyl benz anthracen nhờ beta-caroten... Tuy nhiên các tác giả công nhận là không có thuốc lá (hút), miếng trầu chưa chắc đã gây ung thư. ” (Lược trích từ bài: Hoa Cau Vườn Trầu, trang 228 - 231, sách Cây Nhà Lá Vườn, NXB Thuận Hóa)

Đồng thời ông Nguyễn Phúc Ưng Viên, hoàng thân vương triều Nguyễn, giỏi y thực (ăn thay thuốc), ở quận Gò Vấp, TP.HCM khẳng định: “Ăn trầu là cách đơn giản nhưng thông minh, giúp cơ thể quân bình kinh mạch đạt đến cảm giác sảng khoái. Nếu ăn trầu đúng cách, thường xuyên thì răng đến 80 tuổi vẫn chưa rụng, xác xuất sâu răng gần như bằng không, không viêm họng, không đau dạ dày, tai lại thính, ngăn ngừa được ung thư miệng và đường ruột... Những công trình nghiên cứu cuối thế kỷ trước đã chứng minh điều này.”

Coi chừng hiểu nhầm!

Hẩm hiu phận trầu!

Trở lại bài ca dao trên, đó là kiểu đặc tả cách têm trầu cánh phượng của ông bà ta. Ở đây có cái bẫy nhỏ: “hai đầu quế cay”.

Theo ông Ưng Viên, vị cay nồng lẫn the dịu trong miếng trầu này chính là, tinh dầu lá hồng dương hoặc trường sinh hay có cả 2 càng tốt. Nếu ai không biết, dùng theo cách nạo ít bột vỏ cây quế để ăn trầu sẽ dễ gặp tai nạn. Chẳng hạn, người có tiền sử về các bệnh: thương hàn, kiết lỵ có thể bị thủng ruột...

Thoạt trông, lá hồng dương với lá trường sinh khá giống nhau. Song nhìn kỹ vẫn có điểm khác: hồng dương màu xanh hồng phớt tím và gân lá dày hơn, còn trường sinh xanh tuyền. Hồng dương giúp chống nhiễm trùng - viêm họng, ngừa chứng nha chu - khử dư chứng phụ của ni- cô- tin trong thuốc xỉa lẫn hạt cau, cân bằng trung khu thần kinh - gân cốt dẻo dai để cơ thể không bị tê nhức, mỏi mệt nhất là người cao tuổi.

Còn lá trường sinh chống u bướu, một số trường hợp bệnh phụ nữ như “trừng hà”. (Bụng nổi lên một khối u lớn cỡ hòn bi - quả cam. Ta có thể nắm giữ được nhưng khi chụp X-quang hay siêu âm thì không ghi hình được).

Riêng kiết cánh (cát cánh) là một vị thuốc bắc, có tác dụng thanh phế (tốt phổi), chống viêm họng - ngừa trị ho, chắc răng nhất là giúp lượng men thứ cấp của răng luôn tiết ra ổn định.

Bình dân hơn, người ta ăn trầu kèm với ít rễ: cây chay hoặc cây quách. Tất nhiên, chúng không tốt như kiết cánh.

Thế nên, việc ăn trầu đúng cách tuy đơn giản nhưng có thể giúp dân ta: bảo vệ hơi thở thơm tho (thời xưa làm gì có kem đánh răng), ít bị bệnh tai mũi họng, khỏe hệ tiêu hóa.

Cau cưới ngày thường bán “chậm rì”, nên cô Tài Tư chuyên bán trầu cau ở chợ Bà Điểm, TP.HCM, lựa thêm vài tờ vé số cầu may.

Hoài cổ một chút, tổ tiên ta xưa từ vài ngàn người (thời thị tộc bộ lạc) đến nay không dưới 95 triệu dân, chắc hẳn có công lao không nhỏ của cau với trầu! ( Số liệu từ: danso.org/viet-nam)

Giàu món ăn bài thuốc...

Theo Nguyễn Phúc Tộc Dược Minh Y Kính của triều Nguyễn, chính vua Minh Mệnh (Minh Mạng) cùng một số thân thần tài đảm đã hoàn thiện y mỹ thực Việt. Trong đó, không thể thiếu nhiều món ngon bài thuốc từ cau - trầu.

Cau vị ngọt, chua giúp “tư âm”. Còn trầu vị mặn, cay, đắng giúp “thăng dương”.

Dễ thực hiện là, bạn dùng vỏ trái cau tươi, đập giập một phần, chà răng thay bàn chải sẽ giúp nướu răng không bị phù nề.

Nhựa của vỏ trái cau còn ngăn chứng tụ huyết dạ dày. Hoặc bạn có thể ướp ít vỏ cau tươi (sau khi giã dập, xé nhỏ) với các món cá, thịt để kho, nướng. Người viết đã thử dùng cách này với món cá mối kho khô. Kết quả thật bất ngờ, mùi cá thật thơm và thịt cá thêm ngọt bùi hơn.

Hoa cau là vị thuốc quí! Các bài thuốc trị bệnh: nhiễm trùng đường sinh dục nhất là sinh dục nữ, nhiễm trùng bàng quang, tụ huyết đường tiêu hóa ... đều không thể thiếu loại hoa này. Nước nấu từ phần cuốn của mo cau non (bọc buồng hoa) sẽ giúp ấm bàng quang, ngừa được những bệnh phụ khoa thường gặp (nội).

Gia vị trầu + cau còn giúp nhiều món thịt, cá thăng hoa hương vị.

Bộ phận này, bạn có thể đem xắt nhỏ, hong khô để dành dùng dần. Cho nên, không phải ngẫu nhiên mà ngày xưa các cụ cất công dậy sớm, hứng sương đọng trên mo cau đun lên đem pha trà.

Hoa cau non càng quí gấp bội. Nước nấu từ hoa cau non dùng trị bệnh bí tiểu do nhiễm trùng sinh dục nữ (lộ tuyến), đàn ông tiểu gắt do nhiễm trùng bàng quang.

Phấn hoa cau, lấy khi hoa cau sắp nở bung khỏi mo nang: người ta dùng một sàn có trải vải thưa (loại chuyên dụng) treo dưới buồng hoa. Về khuya, khi hoa nở, phấn hoa sẽ rơi đầy trên sàn. Thứ phấn hoa “độc nhất vô nhị này”, được người sành ăn dùng để ướp trà mai hay nấu chè, giúp thơm ngon hương vị và ngừa chứng tụ huyết đường tiêu hóa do ăn uống bất cập.

Hạt cau non (ruột vừa đầy - còn gọi dầy dầy) bạn đem xên mứt với nước mía ép hoặc chiên giòn bằng dầu phộng hay mỡ heo cỏ, ăn kèm với dĩa cá trê nướng hay chén mắm cái cá cơm than cho hương vị rất tuyệt vời. Đặc biệt, nó giúp khử mặn ở mắm rất tốt. Giúp người ăn không bị khát nước, khé (gắt) cổ.

Lỡ bị “đau bụng gió” quằn quại (triệu chứng đặc trưng của đau bụng gió là không có tiêu chảy kèm), ông Ưng Viên bày: lấy lá trầu hơ nóng áp vào vùng bụng cho đến khi hết đau hẳn. Hoặc lúc bạn làm nông hay trong công xưởng, bị bụi bặm bay vào mắt gây đau, xót cũng có thể làm cách này sẽ “căn bản giải quyết khá hiệu quả”. Thỉnh thoảng, sau khi vệ sinh lúc đại tiện, nên vò nát vài ba lá trầu thoa vào sẽ ngừa những bệnh đường hậu môn.

Chưa kể cọng và tược trầu non, bạn đem kho với cá (đồng, biển, nước lợ) vừa giúp thăng hoa hương vị vừa ngừa chứng trào ngược dạ dày.

TS. Võ Quang Yến cũng ghi nhận: “Đem phân tích, lá trầu chứa đựng năm propenylphenol có tính chất khử nấm, trừ giun : chavicol, chavibetol, allyl pyrocatechol, chavibetol acetat, allylcatechol acetat... Tinh dầu trầu có tác dụng hạ huyết áp, duỗi bắp cơ, trị giun sán, chữa dị ứng như lá trầu.” (Cũng từ bài: Hoa Cau Vườn Trầu, trang 227 - 228, sách Cây Nhà Lá Vườn, NXB Thuận Hóa).

Lạc lõng?!

Còn với cau: “Người ta đã làm thuốc nhuộm vải, lụa với phần chiết từ cau. Tannin được trộn với natrium sulfat, natrium carbonat làm thuốc nhuộm tóc đen xám. Nhờ chất proanthocyanidin, đặc biệt chất epicatechin-catechin, cau đưọc hòa với acetyl glutamin acetat, butylen glycol glycerol trong ethanol và nước thành thuốc kích thích tóc mọc.” (Hoa Cau Vườn Trầu, trang 232, trích Cây Nhà Lá Vườn, TS.Võ Quang Yến, NXB Thuận Hóa)

Thêm “tối tạo” của một số thương lái hiện nay, họ còn dùng hạt cau khô đem xay ra làm bột cà phê dỏm!

Do vậy, không phải ngẫu nhiên mà các nhà vườn Huế xưa, nhất là vùng Vĩ Dạ, thường trồng trầu + cau. Ngoài những tiện ích vừa nêu, hình ảnh trầu cau quấn quýt còn nhắc nhở sự gắn bó thủy chung của đạo vợ chồng, tình huyết thống!

Nhiều nước Đông Nam Á cũng có tục ăn trầu, nhưng họ không có sự tích trầu cau nhân bản như ta. Tại sao không khai thác một cách thông minh mỹ tục - truyền thống quý báu này, để phát triển văn hóa du lịch cho đất nước?

Đến nỗi, “Mười Tám Thôn Vườn Trầu ( huyện Hóc Môn, TP.HCM) bây giờ, chỉ còn một - vài vạt trầu.”, theo lời của cô Tư Lập, tiểu thương bán trầu cau trên 10 năm nay, ở chợ Bà Điểm. Cho nên, mỗi đợt cao điểm: “hội hè - cưới xin” hoặc tết nhất, cô Tư cùng một số tiểu thương cùng ngành ở chợ này, phải đặt mua trầu miệt Cần Thơ về “ghép đôi” với cau Bà Điểm và một số vùng lân cận của quận 12, TP.HCM; mới đủ cung cấp cho thị trường Sài Gòn.

Những “tay” trầu Cần Thơ xanh mướt dần thế chỗ trầu Bà Điểm, ở thị trường TP.HCM.

Dẫu biết rằng, thời hội nhập, những cuộc chiến: kinh tế, văn hóa diễn ra âm thầm mà khốc liệt không kém thời chiến. Bỗng dưng, nghe đồng vọng tâm sự của nhân vật trữ tình trong bài hát Buồng Cau Quê Ngoại, của soạn giả Thu An: “Tay xách buồng cau... Ngơ ngẩn bờ ao... Biết đâu mà về!”

Bài, ảnh: Tấn Tới
 
*******

Trầu cau trong văn hoá Việt

 Tại sao trong lễ cưới hỏi phải có trầu cau

Tự bao giờ, trầu cau đã gắn liền với đời sống của người Việt. Trầu cau dùng để tiếp khách hàng ngày như bát nước chè xanh, như điếu thuốc lào, trầu có mặt trong mỗi cuộc vui, buồn của làng quê, trầu trong các buổi lễ tế thần, tế gia tiên, lễ tang, lễ thọ, lễ mừng.... Trầu cau còn là quà tặng, là sính lễ trong đám hỏi, trầu thay thiệp báo, thiệp mời trước ngày hôn lễ. Miếng trầu tuy đơn giản nhưng mang bao ý nghĩa sâu đậm trong đời sống văn hóa  của người Việt Nam…

Ăn trầu là phong tục cổ truyền và phổ biến ở vùng nhiệt đới châu Á. Đặc biệt Dân tộc nào ở Đông Nam Á cũng có những câu chuyện kể về cây cau, dây trầu. Vùng Nam Á là vùng trầu cau rộng lớn – người dân ăn trầu trong suốt hàng ngàn năm lịch sử. Trong cuốn “Trầu cau Việt điện thư” của nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Chương trích lời Georges Lebrun viết về vùng trầu: “Vùng phát triển hiện nay có thể định rõ bằng một đường đi từ bờ biển phía Đông của đảo Madagascar và Zanzibar đến châu Á tới miền sông Indus, rồi đến bờ sông Dương Tử qua Đài Loan và Philippines, sẽ đến Indonexia vùng Moluques bao quanh các đảo Mariannes, Caroline, Salomon, Fidji, Bismarck, và Tân Guinée, để khép kín ở đảo Réunion, đi qua Eo Torrès, biển Arafoura, Timor về phía Nam những đảo Sonde. Có thể nói trầu cau ở những vùng đất… rộng 8 triệu cây số vuông có 200 triệu người ăn trầu kể cả đàn ông, đàn bà, già - trẻ, từ ông hoàng đến người dân, thuộc về tất cả các giống người, tất cả các tôn giáo".
 
 Chuyện trầu cau | Đàn Chim Việt Online - Thông tin - Chính trị - Nghị luận
 
Với người Việt Nam, trầu cau là biểu hiện nét văn hóa độc đáo của dân tộc. Miếng trầu chứa đựng nhiều tình cảm, nhiều ý nghĩa thiêng liêng, gắn bó thân thiết trong tâm hồn mỗi người. Trong mấy ngàn năm lịch sử cho đến ngày nay và có lẽ là mãi mãi, trầu cau luôn hiện diện trong đời sống các dân tộc Việt Nam và các dân tộc châu Á. Dù giàu nghèo ai cũng có thể có, miếng trầu thắm têm vôi nồng cùng cau bổ tám, bổ tư quyện vào rễ vỏ chay đỏ luôn là sự bắt đầu, sự khơi mở tình cảm. Dân gian có câu "Miếng trầu là đầu câu chuyện", miếng trầu đi đôi với lời chào, lời thăm hỏi hay làm quen:
"Tiện đây ăn một miếng trầu
Hỏi rằng quê quán ở đâu chăng là
Có trầu mà chẳng có cau
Làm sao cho đỏ môi nhau thì làm".
Đối với các nam nữ thanh niên nam nữ xưa kia thì miếng trầu là nguyên cớ để bắt đầu một tình yêu, một cuộc hôn nhân - "Miếng trầu nên dâu nhà người". Trong việc cưới, hỏi nhận lễ vật trầu cau là đồng nghĩa với việc nhận lời cầu hôn, là giao ước giữa hai họ. Đó là một nghi thức độc đáo của người Việt.
"Từ ngày ăn phải miếng trầu
Miệng ăn môi đỏ, dạ sầu đăm chiêu
Biết rằng thuốc dấu bùa yêu
Làm cho ăn phải nhiều điều xót xa
Làm cho quên mẹ, quên cha
Làm cho quên cửa, quên nhà
Làm cho quên cả đường ra, lối vào
Làm cho quên cá dưới ao
Quên sông tắm mát, quên sao trên trời"
 
Trầu cau - nét đẹp văn hóa Việt
Trong hôn nhân, trầu cau có một vai trò quan trọng. Tuy chỉ "Ba đồng một mớ trầu cay" nhưng "Miếng trầu nên dâu nhà người". Trong lễ cưới, hỏi và mâm cỗ cúng tơ hồng - vị thần của hôn nhân, bao giờ cũng phải có buồng cau và tệp lá trầu. Người ta xem buồng cau có đẹp không, cuống lá trầu có tươi không mà ước đoán được rằng đôi lứa ấy có đẹp duyên không. Theo tục lệ, nhà ai có con gái gả chồng, sau khi ăn hỏi xong cũng đem trầu cau biếu hàng xóm và bà con nội ngoại. Vì miếng trầu là tục lệ, là tình cảm nên ăn được hay không cũng không ai từ chối.
"Trầu têm cánh phượng cau vừa chạm xong
Miếng trầu có bốn chữ tòng
Xin chàng cầm lấy vào trong thăm nhà.
Nào là chào mẹ chào cha
Cậu, cô, chú, bác mời ra xơi trầu."
Miếng trầu nồng thắm luôn có mặt trong hôn lễ là sự khơi gợi, nhắc nhở mọi người hướng về một tình yêu son sắt, một cuộc sống vợ chồng gắn bó, thủy chung và luôn lấy nghĩa tình làm trọng:
"Trầu này trầu quế, trầu hồi
Trầu loan, trầu phượng, trầu tôi, trầu mình
Trầu này trầu tính, trầu tình
Trầu nhân, trầu ngãi, trầu mình với ta
Trầu này têm tối hôm qua
Trầu cha, trầu mẹ đem ra cho chàng"
Người Việt Nam (Vietnamese)... - Vietnamese Language Garden | Facebook
 
Trên khắp xứ sở Việt Nam thoảng đâu đó nơi thôn dã bóng hàng cau phía trước nhà bên bể nước mưa và giàn trầu vẫn đang thấp thoáng trong mỗi ngôi nhà luôn là hình ảnh của sự thái bình và một khát vọng lứa đôi:
"Ước gì ta lấy được nàng
Hà Nội, Nam Ðịnh sửa đàng rước dâu
Thanh Hóa cũng đốn trầu cau
Nghệ An thì phải thui trâu mổ bò
Phú Thọ quạt nước hỏa lò
Hải Dương rọc lá giã giò gói nem
Tuyên Quang nấu bạc đúc tiền
Ninh Bình dao thớt Quảng Yên đúc nồi
An Giang gánh đá nung vôi
Thừa Thiên Đà Nẵng thổi xôi nấu chè
Quảng Bình Hà Tĩnh thuyền ghe
Đồng Nai Gia Định chẻ tre bắc cầu
Anh mời khắp nước chư hầu
Nước Tây nước Tàu anh gởi thư sang
Nam Tào Bắc đẩu dọn đàng
Thiên Lôi La Sát hai hàng hai bên
Vợ chồng ăn miếng trầu cay
Phải đâu khách lạ mà kiếm khay xà cừ"
Trầu cau còn đi vào giấc ngủ của con người từ ngày này qua năm khác và hiển nhiên đi vào cuộc sống sinh hoạt của người Việt bằng những câu ví, câu đố, ca dao, ngạn ngữ, tục ngữ dân gian, những câu hát trao duyên, câu hát mời trầu của trai gái. Bên cạnh những "vôi nồng", "miếng trầu cánh phượng", "cau bổ bốn bổ ba", là những "trầu giải yếm giải khăn", "trầu loan, trầu phượng, trầu tôi trầu mình" là những "trầu tính trầu tình", "trầu nhân, trầu ngãi"... để rồi thành "trầu mình lấy ta", "trầu nên vợ nên chồng"…
 
TẠI SAO NGƯỜI VIỆT XƯA THÍCH ĂN TRẦU CÒN BÂY GIỜ THÌ KHÔNG?
- "Bồng em mà bỏ vô nôi,
Cho mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu,
Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu,
Mua cau Bát Nhị, mua trầu Hội An."
- "Ru con con ngủ cho rồi
Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu.
Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu,
Mua cau Nam phố, mua trầu chợ Dinh."
Tục ăn trầu còn gắn với phong tục nhuộm răng đen để có những má hồng răng đen tiêu biểu của cái đẹp con gái thuở nào - người thôn nữ má hồng răng đen, một thời đã trở thành hình ảnh làm si mê biết bao chàng trai:
"Mình về mình nhớ ta chăng
Ta về ta nhớ hàm răng mình cười
Năm quan mua lấy miệng cười
Mười quan chẳng tiếc, tiếc người răng đen."
 
Mâm quả cưới miền Nam gồm những gì? Ý nghĩa của từng mâm quả
 
Trầu cau còn trở thành hình tượng của văn học dân gian qua sự tích Trầu Cau – một câu chuyện bi ai mà thắm đượm nghĩa tình với hình tượng khó quên: cây cau - người chồng, dây trầu - người vợ và hòn đá (vôi) - đứa em trai chồng... Sự tích ấy có tự khi nào không ai biết. Sau này, trong một lần Vua Hùng đi qua, được nghe câu chuyện cảm động đã sai người lấy quả bổ thành miếng nhỏ rồi nhai với lá cây dây leo thì thấy vị cay nồng, nhai thêm với chút bột lấy từ tảng đá thì thấy thơm và môi đỏ thắm. Người bèn đặt tên cho lá cây dây leo là lá Trầu, quả là quả Cau và bột từ phiến đá là Vôi rồi dạy cho dân Việt dùng ba thứ vôi, cau và trầu làm biểu tượng tình nghĩa thắm thiết anh - em, vợ - chồng. Tục ăn trầu có từ đó và được phổ biến trong dân gian.
"Gặp đây ăn một miếng trầu
Chẳng ăn cầm lấy cho nhau bằng lòng.
Trầu này em chỉ có công
Từ vua đến chúa còn dùng nữa ta
Ngoài xanh trong trắng như ngà
Vua quan cũng trọng Phật bà cũng yêu
Ăn trầu có ít có nhiều
Rồi ra ta sẽ có chiều thở than.
Bõ công vượt bể băng ngàn
Bõ công bõ sức tay mang khẩu trầu"
Nét tài hoa của người Việt còn thể hiện trong việc têm miếng trầu. Nhìn miếng trầu được têm người thưởng thức không chỉ hiểu rõ tình cảm của người mời trầu mà còn đánh giá được sự khéo tay của người têm trầu. G.S Trần Quốc Vượng viết: “Ăn trầu, càng biết được “tính nết” người têm nó.
 
 Tại sao ăn trầu bị say? - VnExpress
 Giản dị hay cầu kỳ. Đậm đà hay nhạt nhẽo, do chất lượng vôi bôi trên lá trầu, và khi có miếng trầu “ở giữa đậm quế hai đầu thơm cay””. Têm trầu là cả một nghệ thuật, nhất là trong lễ cưới có trầu têm cánh phượng có cau vỏ trổ hoa... Tế gia tiên thì trầu têm, còn tế lễ thiên thần thì phải có ba lá trầu phết một tí vôi trên ngọn lá và ba quả cau để nguyên. Khi mời trầu, miếng trầu không chỉ gói gọn trong nó tình cảm nồng thắm mà còn thể hiện cái nết khéo tay, hay mắt của người têm.
"Miếng trầu têm để trên cươi
Nắp vàng đậy lại đợi người tri âm.
Miếng trầu kèm bức thư cầm
Chờ cho khách thấy, khách tri âm sẽ chào
Miếng trầu têm để trên cao
Chờ cho thấy khách má đào mới cam.
Miếng trầu têm ở bên Nam
Mang sang bên Bắc mời chàng hôm nay
Miếng trầu xanh rõ như mây
Hạt cau đỏ ối như rau tơ hồng.
Miếng trầu như trúc như thông
Như hoa mới nở như rồng mới thêu."
Trong dân gian, một cơi trầu têm khéo léo có thể nói lên tài hoa của người têm. Qua đó còn phần nào thấy được cả nền nếp giáo dục của gia đình. Chỉ là têm một miếng trầu mà dân gian đã tinh tế sáng tạo ra nhiều kiểu dáng khác nhau: trầu cánh phượng, trầu cánh kiếm, trầu mũi mác, trầu cánh quế... Tùy hoàn cảnh, tùy tình huống, miếng trầu được têm theo những cách khác nhau và ý nghĩa tượng trưng của từng kiểu dáng cũng thật rõ ràng.
 
 Trang chủ - NetCoDo
 
"Vào vườn hái quả cau xanh
Bổ ra làm sáu mời anh xơi trầu,
Trầu này têm những vôi tàu,
Ở giữa đệm quế, dưới đầu thơm cay.
Chiềng anh xơi miếng trầu này
Dù mặn dù nhạt dù cay dù nồng.
Dù chẳng nên vợ nên chồng,
Thì anh cũng biết tấm lòng cho em."
Ngày nay, tuy con người đã tiến xa hơn trong nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội - văn hóa, nhưng miếng trầu quả cau vẫn là một phong tục đẹp, thể hiện bản sắc riêng. Ngoài ra, ăn trầu còn cho người ta cảm giác hơi say say, từ đó câu chuyện tâm tình, cởi mở... Ngà ngà đúng lúc, đúng nơi, khi sống nhàn, khi cần thư giãn, khi cần vui chơi, giải trí “sống với" bạn bè. Đó cũng là phép biện chứng "say-tỉnh" của miếng trầu, của cái sự ăn trầu./.
 
(nguồn báo Ngày nay)
                                 
Kim Phượng sưu tầm      
 
Tìm hiểu tục ăn trầu có từ nghìn năm của người Việt Nam                                           

 
Xem thêm...
Theo dõi RSS này