Năm năm rồi không gặp!…

Năm năm rồi không gặp!…

 

“Chuyện Tình Buồn” có thể được xem là một trong những bản nhạc tình hay và cực kỳ lãng mạn của nền âm nhạc miền Nam Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh ác liệt.

Câu chuyện trong bài thơ hay bài hát đều kể về một thanh niên có gia đình theo đạo Phật, đem lòng yêu một cô gái rất đẹp theo đạo Công giáo. Hồi đó, những câu chuyện như thế này là không hề thiếu, và chắc chắn là luôn gặp phải trắc trở vì bị cả hai gia đình, thậm chí cả dòng họ ngăn cấm tới cùng!

Chiến cuộc bùng nổ khiến chàng trai đành xếp bút nghiên ra chiến trường, còn nàng ở nhà, và lên… xe hoa với người khác. Câu chuyện tình éo le ấy tưởng như vậy là đã đau khổ quá rồi, có ai ngờ đâu khi chàng trai trở lại, thì “năm năm rồi trở lại, một màu tang ngút trời, thương người em năm cũ, đêm goá phụ bên song.” Vì sao? Thì ra chồng của nàng, một sĩ quan quân y và cũng là một người bạn của chàng trai đó, đã tử nạn trong một phi vụ tản thương bằng trực thăng ở chiến trường Pleiku năm 1972!

Bài thơ “Chuyện Tình Buồn” ra đời ngay sau câu chuyện đau buồn đó và nhạc sĩ Phạm Duy đã giúp cho bài thơ này tới với bao thế hệ người nghe trong nửa thế kỷ qua. Chính tình cảm chân thật và xúc động của câu chuyện tình đã khiến cho cả lời thơ và bản nhạc đều đi sâu vào lòng người. Nhớ lại, hầu như những người yêu nhau trong thời buổi chinh chiến ấy đều dường như tìm thấy hình ảnh của chính mình trong bài thơ. Lứa thanh niên ở nông thôn hay đô thị, ngồi trên giảng đường hay mưu sinh ngoài đường phố, trong đó nhiều nhất có lẽ là những chàng trai lính chiến, đều có thể hát ít nhất vài câu của bản nhạc “Chuyện Tình Buồn” này, và không thiếu người xem như chính câu chuyện tình éo le đó là của chính mình vậy!

“Chuyện Tình Buồn” từ khi xuất hiện và đến tận bây giờ, hơn 50 năm đã qua, luôn được xem là một nhạc khúc không chỉ buồn, mà còn quá buồn cho một chuyện tình dang dở. Cung nhạc luôn vấn vương và da diết, lời thơ đượm vẻ u buồn mà nhuốm màu thương đau. Như chính tựa đề, bài hát là một câu chuyện tình yêu đượm buồn của thời tuổi trẻ nhưng lại mang nhớ thương day dứt mãi hoài, và có gì đau thương hơn khi người mà ta yêu thương nhất năm xưa, nay đã là góa phụ bồng con ngồi bên song cửa mà buồn…

THI SĨ PHẠM VĂN BÌNH

Phạm Văn Bình là người Huế, ông là tác giả của bài thơ nói về tình yêu dang dở của chính mình. Thi sĩ sinh năm 1940 ở Đông Hà (Quảng Trị) nhưng quê gốc ở Bát Sơn, Lương Điền, Thừa Thiên, nay là xã Lộc Điền, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên – Huế.

Sau khi hoàn tất bậc trung học và có bằng tú tài II, từ năm 1963, Phạm Văn Bình dạy môn Việt văn và Sử Địa tại Trường Trung học Bán công Đông Hà. Chỉ có ba năm được đứng trên bục giảng, năm 1966, ông phải gia nhập quân ngũ để thi hành lệnh động viên.

Nhà thơ Phạm Văn Bình (file photo)

Sau thời gian thụ huấn quân trường ở Trường sĩ quan Thủ Đức (khóa 24/TB), Phạm Văn Bình được điều về một sư đoàn Thủy quân Lục chiến, và có thời gian làm phóng viên chiến trường. Vô Sài Gòn, khi ấy ông mới quen biết thêm với giới văn nghệ và có thơ đăng trên các tạp chí. Và như một định mệnh, năm 1972, nhạc sĩ Phạm Duy, người được mệnh danh là “nhà ảo thuật phổ thơ”, đã chọn phổ nhạc một bài thơ mà sau đó trở thành bài hát bất tử. Đó là “Chuyện Tình Buồn”!

Thời trai trẻ, Phạm Văn Bình từng theo học các trường Thánh Tâm và Nguyễn Hoàng ở Quảng Trị, Quốc Học và Đại học Văn Khoa ở Huế và có nhiều thơ được đăng trên các tạp chí thời ấy như Khởi Hành, Văn, Bách Khoa, Ngàn Khơi, Tuổi Ngọc, Tiền Tuyến và Tiền Phong.

Ông có tác phẩm “Lối Xưa Thiên Đường” (tuyển tập truyện ngắn do Tuổi Ngọc xuất bản), “Dòng Sông Trước Mặt” (tuyển tập truyện ngắn viết chung với Song Linh, Trần Văn Phú, Huỳnh Ngọc Toàn), “Chiến Ca Mùa Hè” (tuyển tập thơ viết chung với Phạm Lê Phan).

Đến tận giờ cũng không có nhiều người biết câu chuyện tình của thi sĩ Phạm Văn Bình và người phụ nữ trong ca khúc “Chuyện Tình Buồn” này chớm nở từ lúc nào, nhưng lúc họ chia tay, có lẽ vào quãng giữa thập kỷ 1960.

___________________

Năm năm rồi không gặp

Từ khi em lấy chồng

Anh dặm trường mê mải

Ðời chia như nhánh sông

Phong thư tình ngây dại

Và môi vai rất mềm

Những hẹn hò cuống quýt

Trên lối xưa thiên đàng.

Ngày nhà em pháo nổ

Anh cuộn mình trong chăn

Như con sâu làm tổ

Trong trái vải cô đơn

Ngày nhà em pháo nổ

Tâm hồn anh nhuốm máu

Ôi nhát chém hư vô

Ôi nhát chém hư vô…

Năm năm rồi đi biệt

Ðường xưa chưa lối về

Trong đìu hiu gió cuốn

Nằm chơ vơ gác chuông

Năm năm rồi cách biệt

Cỏ hoang sân giáo đường

Chúa buồn trên thánh giá

Mắt nhạt nhoà mưa qua.

Ngồi bâng khuâng nhớ biển

Bên bãi đời quạnh hiu

Anh như hồn thủy thủ

Cùng năm tháng phiêu du

Anh một đời rong ruổi

Em tay bế tay bồng

Chiều hắt hiu xóm đạo

Hồi chuông giáo đường vang.

Năm năm rồi không gặp

Từ khi em lấy chồng

Bao kỷ niệm chôn kín

Dường như đã lắng quên

Năm năm rồi trở lại

Một mầu tang ngút trời

Thương người em năm cũ

Thương góa phụ bên song…

_______________

Sau khi mối tình này không thành, Phạm Văn Bình lập gia đình với một cô học trò trẻ đẹp của ông tại trường Trung học Bán công Đông Hà và có ba người con. Sau năm 1975, người vợ đem ba con qua Mỹ trước, còn ông qua sau. Vậy người phụ nữ trong bài thơ Chuyện Tình Buồn là ai?

NGƯỜI ĐẸP THỊ XÃ ĐÔNG HÀ

Theo công bố của ký giả Lê Đình Bì, đó là cô Ana Nguyễn Thị Tuý, người đẹp nổi tiếng nhất nhì một thuở ở thị xã Đông Hà, Quảng Trị. Vì sao Đông Hà chỉ là một thị trấn nhỏ thuộc tỉnh Quảng Trị, nằm ở miền địa đầu giới tuyến đất đai khô cằn nhiều gió Lào cát trắng và khói lửa chiến tranh đội xuống liên miên mà lại sản sinh ra nhiều người đẹp như vậy?

Bà Nguyễn Thị Túy (file photo)

Cũng chính ký giả Lê Đình Bì đưa ra một giả thuyết và được xem là thuyết phục nhất: Vào thời điểm vua Hàm Nghi bỏ kinh thành Huế chạy ra vùng Tân Sở phát hịch Cần Vương và lập chiến khu chống lại giặc Pháp, đã có nhiều cung phi mỹ nữ cũng chạy ra đây theo nhà vua. Trong số ấy, có lẽ có một số người đã vì một lý do nào đó mà “rơi rớt” lại, hoặc cũng có thể sau này các nàng ấy được trở về với đời sống bình thường, nên đã lập gia đình với cư dân địa phương, thành ra, những cô gái ở vùng Đông Hà, Cam Lộ… có nhiều cô phải nói là có nhan sắc đẹp mê hồn. Phải chăng là họ đã thừa hưởng được cái “gen sắc đẹp” của những người phụ nữ đã từng được tuyển chọn rất gắt gao để tiến cung ngày ấy?

Trong thực tế, nhà của Phạm Văn Bình và nhà cô Nguyễn Thị Túy cùng ở trong một con hẻm ở đường Phan Bội Châu, thị trấn Đông Hà. Cô Túy có một người anh trai là bạn thân cùng trang lứa với Phạm Văn Bình. Qua lại giao du, thấy người phụ nữ này có nhan sắc, có học vấn (cô Túy không học ở Đông Hà mà học ở Trung học Bán công Huế), lại biết trang điểm, ăn mặc bắt mắt, nên Phạm Văn Bình thấy quá ưng ý mà đem lòng yêu đương. Hai người yêu nhau, nhiều người người ở Đông Hà ngày ấy thấy mối tình của họ rất chi là da diết, quấn quýt không rời.

Nhưng cách trở của tôn giáo hay chính thời cuộc đã khiến họ phải xa nhau. Cô Túy đi lấy chồng (như đã nói ở trên) và có tới bốn người con, nên Phạm Văn Bình sau này gặp lại đã viết trong bài: “Anh một đời rong ruổi; em tay bế tay bồng” là vậy. Cô Túy giờ sống tại Hoa Kỳ. Và trùng hợp thay, thi sĩ Phạm Văn Bình cũng định cư ở đây, nhưng ông đã mất hồi năm 2018 rồi.

 Lê Hồng Minh
 
-----------
 

Nhà thơ Phạm Văn Bình và mối tình khắc khoải trong bài hát Chuyện Tình Buồn:

“Năm năm rồi không gặp – từ khi em lấy chồng…”

Nhà thơ Phạm Văn Bình và mối tình khắc khoải trong ca khúc Chuyện Tình  Buồn: "Năm năm rồi không gặp - từ khi em lấy chồng..."

Nhà thơ Phạm Văn Bình được biết tiếng trong giới văn nghệ vào thập kỷ 1960 và 1970. Đặc biệt, ông có 2 bài thơ được nhạc sĩ tài hoa Phạm Duy phổ nhạc, đó là bài “Chuyện Tình Buồn” và “Mười Hai Tháng Anh Đi”. Chỉ với hai bài thơ này, ông đã lưu danh thiên cổ.


Bài hát Chuyện Tình Buồn qua tiếng hát Tuấn Ngọc

Nhà thơ Phạm Văn Bình sinh năm 1940 ở Đông Hà; nhưng quê gốc Bát Sơn, Lương Điền, Thừa Thiên (nay là xã Lộc Điền, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên – Huế).

Sau khi hoàn tất bậc Trung Học – có bằng Tú Tài II, Phạm Văn Bình về quê, dạy Việt Văn tại trường Trung Học Bán Công Đông Hà từ 1963. Ông đứng trên bục giảng từ 1963 đến năm 1966 – Thời điểm mà ông phải rời trường để thi hành lệnh động viên của chính quyền.

Thụ huấn xong ở quân trường, Phạm Văn Bình được bổ nhiệm làm sĩ quan tâm lý chiến của sư đoàn TQLC. Khi đã làm việc ở Sài Gòn, ông có cơ hội quen biết với giới văn nghệ sĩ, thơ xuất hiện trên các tạp chí và được đánh giá cao, được Phạm Duy chọn phổ nhạc thành bài hát bất tử: Chuyện Tình Buồn

Người phụ nữ trong bài thơ “Chuyện Tình Buồn” là ai?

Không biết mối tình giữa Phạm Văn Bình và người phụ nữ trong ca khúc Chuyện Tình Buồn này chớm nở từ lúc nào, nhưng mối tình này vỡ lỡ vào giữa thập kỷ 1960:

Năm năm rồi không gặp,
Từ khi em lấy chồng,
Anh dặm trường mê mải,
Đời chia hai nhánh sông…

Phạm Văn Bình “dặm trường mê mải” từ năm 1966 – năm thi hành lệnh động viên vào lính.


Thái Thanh hát Chuyện Tình Buồn trước năm 1975

Nhà của Phạm Văn Bình và nhà người phụ nữ có tên là Nguyễn Thị Túy này cùng ở trong con hẻm đường Phan Bội Châu thị trấn Đông Hà. Cô Túy có một người anh trai là bạn thân cùng trang lứa với Phạm Văn Bình. Qua lại giao du, thấy người phụ nữ này có nhan sắc, có học vấn (cô Túy không học ở Đông Hà mà học ở Trung Học Bán Công Huế), lại biết trang điểm, ăn diện bắt mắt, Phạm Văn Bình vừa ý, đem lòng yêu đương. Hai người yêu nhau, người Đông Hà thấy mối tình của họ “da diết” lắm, Phạm Văn Bình cũng thổ lộ trong thơ rằng:

Những thư tình ngây dại,
Những vai mềm, môi ngoan,
Những hẹn hò cuống quýt…

Không ai ngờ mối tình ấy tan vỡ. Người trong cuộc bảo rằng do hai người khác biệt về tôn giáo: gia đình Phạm Văn Bình theo Phật Giáo, gia đình cô Túy theo Thiên Chúa Giáo. Chúng ta cứ tin như vậy, chứ thật ra ở trên đời không thiếu gì người khác tôn giáo kết hôn với nhau.

Cô Túy đã “sang ngang” và lấy một người chồng đồng đạo. Người chồng là sĩ quan quân y tốt nghiệp cán sự y tế, rồi bị động viên vào quân đội. Hai vợ chồng có 4 người con. Người chồng tử trận, Phạm Văn Bình viết trong thơ: “Anh một đời rong ruổi; em tay bế tay bồng” là vậy.

Việc bất thành trong mối tình giữa Phạm Văn Bình và người phụ nữ này không biết do gia đình bên nào gây ra, nhưng trong thơ và trong đời thực thì Phạm Văn Bình ôm nỗi đau cho riêng mình mà không một lời oán hận:

Ngày nhà em pháo nổ,
Anh cuộn mình trong chăn,
Như con sâu làm tổ
Trong trái vải cô đơn.

Ngày nhà em pháo nổ,
Tâm hồn anh nhuốm ma’u,
Ôi nhát chém hư vô,
Ôi nhát chém hư vô.

Năm năm rồi trở lại,
Một màu tang ngút trời,
THƯƠNG người em năm cũ,
THƯƠNG goá phụ bên song.

Sau này mỗi lần có dịp, Phạm Văn Bình vẫn ghé thăm gia đình cô Túy. Cái tình của Phạm Văn Bình và người phụ nữ này đã vượt lên sự nhỏ nhen của hờn ghen để thăng hoa.

Người phụ nữ tên Nguyễn thị Túy này sinh năm 1945, nguyên là một cư dân Đông Hà, hiện giờ còn sống và định cư bên Mỹ.

Nhạc sĩ Phạm Duy

 

Đọc lại nguyên tác bài thơ:

Năm năm rồi không gặp
Từ khi em lấy chồng
Anh dặm trường mê mải
Đời chia hai nhánh sông.

Những thư tình ngây dại
Những vai mềm, môi ngoan
Những hẹn hò cuống quýt
Trên lối xưa thiên đàng

Thôi cũng đành chôn kín
Dưới đáy huyệt thời gian.

Ngày nhà em pháo nổ
Anh cuộn mình trong chăn
Như con sâu làm tổ
Trong trái vải cô đơn

Ngày nhà em pháo nổ
Tâm hồn anh nhuốm ma’u
Ôi nhát chém hư vô
Ôi nhát chém hư vô.

Năm năm rồi đi biệt
Anh chẳng về lối xưa
Sân giáo đường cỏ mọc
Gác chuông nằm chơ vơ

Chúa buồn trên thánh giá
Mắt nhạt nhoà mưa qua
Trên cánh buồm ký ức
Sóng thời gian lô xô.

Ngồi bâng khuâng nhớ biển
Bên bãi đời quạnh hiu
Anh mang hồn thuỷ thủ
Cùng năm tháng phiêu du.

Anh một đời rong ruổi
Em tay bế tay bồng
Chiều hắt hiu xóm đạo
Hồi chuông giáo đường vang.

Năm năm rồi không gặp
Từ khi em lấy chồng
Bao kỷ niệm chôn kín
Dường như đã lãng quên.

Năm năm rồi trở lại
Một màu tang ngút trời
Thương người em năm cũ
Thương goá phụ bên song.

Nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thành bài hát Chuyện Tình Buồn:

 

Bấm vào hình trên để nghe ca khúc do Vũ Khanh trình bày.

 
Bấm vào hình trên để nghe ca khúc do Thái Thanh trình bày.

3Năm năm rồi không gặp
Từ khi em lấy chồng
Anh dặm trường mê mải
Ðời chia như nhánh sông

Phong thư tình ngây dại
Và môi vai rất mềm
Những hẹn hò cuống quýt
Trên lối xưa thiên đàng.

Ngày nhà em pháo nổ
Anh cuộn mình trong chăn
Như con sâu làm tổ
Trong trái vải cô đơn

Ngày nhà em pháo nổ
Tâm hồn anh nhuốm ma’u
Ôi nhát chém hư vô
Ôi nhát chém hư vô…

Năm năm rồi đi biệt
Ðường xưa chưa lối về
Trong đìu hiu gió cuốn
Nằm chơ vơ gác chuông

Năm năm rồi cách biệt
Cỏ hoang sân giáo đường
Chúa buồn trên thánh giá
Mắt nhạt nhoà mưa qua.

Ngồi bâng khuâng nhớ biển
Bên bãi đời quạnh hiu
Anh như hồn thủy thủ
Cùng năm tháng phiêu du

Anh một đời rong ruổi
Em tay bế tay bồng
Chiều hắt hiu xóm đạo
Hồi chuông giáo đường vang.

Năm năm rồi không gặp
Từ khi em lấy chồng
Bao kỷ niệm chôn kín
Dường như đã lãng quên

Năm năm rồi trở lại
Một mầu tang ngút trời
Thương người em năm cũ
Thương góa phụ bên song…

Trong tập nhạc phát hành ở trong nước năm 2007, nhạc sĩ Phạm Duy đã ghi như sau:

Sau khi mối tình không thành này, Phạm Văn Bình lập gia đình với một cô học trò trẻ đẹp của ông tại trường Trung Học Bán Công Đông Hà. Họ sinh được 3 người con. Do hoàn cảnh nghiệt ngã sau năm 1975, vợ chồng cũng không sống với nhau trọn đời. Người vợ đem ba con qua Mỹ trước, ông qua sau, và được sự quan tâm chu đáo của cả ba người con.

Nhà thơ Phạm Văn Bình có gien văn nghệ từ gia đình, ông có anh ruột hoạt động trong lãnh vực âm nhạc. Theo nhận xét của bạn bè thì Phạm Văn Bình không đua đòi theo thiên hạ về bề ngoài, ông thích ca hát vui chơi, không quan tâm đến của cải vật chất.

Sau năm 75, ông bị đi tù cải tạo. Từ khi ra trại cho đến khi đi Mỹ theo diện HO, thời gian dài cả 10 năm, thế mà người ta không thấy ông làm gì để mưu sinh, trong khi những người gặp hoàn cảnh như ông phải làm bất cứ gì để giúp nuôi sống gia đình… Phạm Văn Bình sống phong lưu, rong chơi, không phải với bạn bè cùng lứa – vì không có – mà với bạn bè ít tuổi hơn nhiều. Ông gặp họ trong các quán cà phê, trong những tiệc cưới, ca hát vui nhộn cùng họ, nhiều khi quá chén, cũng say sưa.

Thời gian Phạm Văn Bình chuẩn bị đi Mỹ diện HO, nhiều phụ nữ muốn đem tình và tiền ra để “quá giang”, ông từ chối (chắc là quá ngán ngẩm rồi).

Khi qua Mỹ, với tuổi đời ngấp nghé 55, Phạm Văn Bình cũng không chạy vạy kiếm công ăn việc làm như thiên hạ mà sống với người con trai trưởng của ông trong sự bảo bọc của cả 3 người con và tiền trợ cấp của chính phủ Mỹ.

Phạm Văn Bình có lối sống và tạng người khác đời như thế, cộng thêm sống trong bầu không khí gia đình và đất nước mà thân thích kẻ Bắc người Nam hai bên chiến tuyến (ông là sĩ quan miền Nam, còn anh em bên mẹ thì theo miền Bắc), nên luôn mang tâm trạng buồn đau, tình người tan vỡ vì chiến tranh.

Dù là một sĩ quan (cấp bậc cuối cùng đại uý) tâm lý chiến, thay vì kích động hận thù để tuyên truyền cho phe ta, chống phe địch, Phạm Văn Bình không làm thế. Bằng chứng là trong bài thơ “Hành Trình TQLC” (Còn có tên khác là “Mười Hai Tháng Anh Đi”) – dài 58 câu – chỉ nói lên nỗi đau, niềm khắc khoải, tình yêu lỡ làng do chiến tranh mà người lính cảm nhận khi đi qua đất nước điêu tàn.

Sau thời gian dài khổ cực trong trại cải tạo, được trở về sống trong cộng đồng, không nhà, vợ bỏ, ông cũng không một lời oán thán ai:

Trở về nhà cũ, nhà thay chủ.
Em đâu? – Đã bỏ chốn thiên đường.
Sang sông, em nỡ lên thuyền khác.
Thôi nhớ làm gì? “Chinh phụ ngâm”… (Trích từ bài thơ “Đầu Xuân Khai Kiếm”)

* Bài viết sử dụng tư liệu của Hoàng Đằng

Đông Kha
( nguồn nhacxua.vn )

 

 Kim Phượng sưu tầm

 
Chỉnh sửa lần cuối vào %PM, %10 %098 %2023 %21:%04
back to top